|
Quốc hội với sự nghiệp đoàn kết thống nhất dân
tộc,
xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ
Truyền thống đoàn kết yêu nước và ý chí dân tộc
độc lập, Tổ quốc thống nhất đã được thể hiện trong
suốt tiến trình cách mạng Việt Nam và đặc biệt vào
những ngày nhân dân ta giành chính quyền và lập
Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ðoàn kết, yêu nước là truyền thống cực kỳ quý báu
của dân tộc Việt Nam và đã được nhân lên gấp bội
trong thời đại Hồ Chí Minh do Ðảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo. Truyền thống ấy gắn liền với ý chí
dân tộc độc lập, Tổ quốc thống nhất như Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước Việt Nam là một,
dân tộc Việt Nam là một...".
Truyền thống đoàn kết yêu nước và ý chí dân tộc
độc lập, Tổ quốc thống nhất đó đã được thể hiện
trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam và đặc
biệt vào những ngày nhân dân ta giành chính quyền
và lập Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thực hiện Sắc lệnh số 14/SL ngày 8-9-1945 của Chủ
tịch Chính phủ lâm thời, cuộc Tổng tuyển cử ngày
6-1-1946 của nhân dân cả nước đã bầu Quốc hội, cơ
quan quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt
Nam một hiến pháp. Quốc hội Việt Nam là hình ảnh
của khối đoàn kết dân tộc thống nhất của ba miền
bắc, trung, nam, của các đảng phái dân chủ, các
giới đồng bào, các nhân sĩ trí thức, các dân tộc
thiểu số, các tôn giáo trong cả nước.
Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lập ra
Chính phủ liên hiệp kháng chiến, thông qua bản
Hiến pháp (1946) là thành quả của cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong gần
chín thập kỷ, đặc biệt là 15 năm đấu tranh dưới
ngọn cờ độc lập tự do của Ðảng Cộng sản, đứng đầu
là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là hiện thực sinh động về
thể chế Nhà nước cộng hòa dân chủ, một loại hình
Nhà nước pháp quyền cách mạng ra đời ở một nước
vốn là thuộc địa vừa mới tiến hành thắng lợi cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc.
Quốc hội ra đời là bước trưởng thành mới của Nhà
nước cách mạng Việt Nam, làm tăng thêm uy tín nước
cộng hòa trẻ tuổi ở trong nước và trên thế giới.
Tổng tuyển cử thắng lợi làm tăng thêm niềm tin và
phấn khởi của nhân dân ta hướng tới kỳ họp thứ
nhất Quốc hội khóa I, để thành lập Chính phủ chính
thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Chưa chịu thất bại, Việt quốc và Việt cách tiếp
tục tìm mọi cách phá hoại thành quả cách mạng. Ở
miền nam, cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân
Pháp lan rộng. Ðảng và Chính phủ đã cố gắng hoàn
tất mọi công việc chuẩn bị cho kỳ họp thứ nhất
Quốc hội một cách khẩn trương chu đáo, đồng thời
tránh bất cứ một sơ hở nào để kẻ thù có thể lợi
dụng xuyên tạc.
Ðứng trước tình hình khẩn trương căng thẳng, để
chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội và tạo không khí hòa
hoãn, ngày 25-2-1946 sau nhiều lần thương lượng,
hội nghị liên tịch bốn đảng phái chính trị (Việt
Minh, Dân chủ, Việt quốc, Việt cách) đã ra nghị
quyết thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến.
Ngày 2-3-1946 Quốc hội họp, thảo luận và đã thành
lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến gồm 12 thành
viên do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần
làm Phó Chủ tịch và các thành phần đại diện cho
các đảng phái, các trí thức, nhân sĩ yêu nước.
Quốc hội quyết định thành lập Cố vấn đoàn do Cố
vấn tối cao Vĩnh Thụy đảm nhiệm. Kháng chiến ủy
viên hội do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch
và Vũ Hồng Khanh làm Phó Chủ tịch. Chính phủ liên
hiệp kháng chiến có nhiệm vụ thực hiện triệt để sự
thống nhất các lực lượng của quốc dân về phương
diện quân sự, tuyên truyền cũng như về phương diện
hành chính tư pháp, tổng động viên nhân lực và tài
sản của quốc gia theo yêu cầu của đất nước, để đưa
kháng chiến đến thắng lợi và nước nhà đến độc lập
hoàn toàn.
Hoạt động của Quốc hội và Chính phủ liên hiệp
kháng chiến từ tháng 3 đến cuối tháng 10-1946 đã
đưa đất nước vượt qua được mọi hiểm nghèo. Chính
quyền cách mạng được giữ vững. Khối liên hiệp quốc
dân được củng cố và mở rộng. Cách mạng Việt Nam
vững bước tiến lên. Nhiệm vụ xây dựng nước nhà và
bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc là vô cùng nặng
nề trước âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược của
thực dân Pháp. Trong bối cảnh đó kỳ họp thứ hai
của Quốc hội đã được triệu tập từ ngày 28-10 đến
9-11-1946, và vào ngày 3-11-1946, Quốc hội đã biểu
quyết danh sách Chính phủ mới gồm 14 thành viên do
Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Ðây là một Chính phủ tỏ rõ "tinh thần liên hiệp",
chú trọng thực tế và sự nỗ lực làm việc để tranh
thủ quyền độc lập và thống nhất lãnh thổ cùng xây
dựng một nước Việt Nam mới. Từ ngày 19-12-1946 trở
đi kháng chiến đã diễn ra trong toàn quốc. Thành
phần của Chính phủ cũng đã có sự thay đổi cho phù
hợp yêu cầu nhiệm vụ kháng chiến. Một số nhân sĩ,
trí thức đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời giữ một
số ghế trong Chính phủ nhằm tiếp tục thực hiện sự
liên hiệp quốc dân rộng rãi hơn. Các ông: Hoàng
Minh Giám giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Phan
Anh giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Tạ Quang Bửu
giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Ðặng Văn Hướng
giữ chức Bộ trưởng không bộ... Trong tiến trình
kháng chiến, bộ máy chính quyền các cấp dần dần
được xây dựng, củng cố và kiện toàn.
Chính quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là
chính quyền dân chủ, chính quyền của nhân dân,
nghĩa là của công nhân, nông dân, tiểu tư sản
thành thị, tiểu tư sản trí thức, tư sản dân tộc và
các thân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ... Chính
quyền đó dựa vào Mặt trận dân tộc thống nhất, lấy
liên minh công nhân, nông dân và trí thức làm nền
tảng và do Ðảng Cộng sản lãnh đạo... Cơ quan chính
quyền tối cao toàn quốc là Quốc hội và Hội đồng
Chính phủ mang bản chất là một chính quyền nhân
dân rộng rãi, phản ánh sự liên hiệp đại đoàn kết
dân tộc của tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân
ái quốc và dân chủ, chiến đấu vì một nước Việt Nam
độc lập, tự do, thống nhất.
Kỳ họp thứ hai của Quốc hội cũng đã thông qua bản
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản hiến
pháp đó đã nêu cao tinh thần đoàn kết chặt chẽ dân
tộc và công bằng của các giai cấp. Hiến pháp đã
quy định Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
là cơ quan hành chính cao nhất trong toàn quốc.
Chính phủ gồm có Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước
và Nội các. Nội các có Thủ tướng. Chính phủ có
quyền: thi hành các đạo luật; đề nghị những dự án
luật ra trước Nghị viện; đề nghị những dự án sắc
luật trước Ban Thường vụ, trong lúc Nghị viện
không họp mà gặp trường hợp đặc biệt; thi hành
Luật động viên và mọi phương sách cần thiết để giữ
gìn đất nước; lập dự án ngân sách hằng năm.
Quốc hội đã chuẩn y bản Quyết nghị ủy nhiệm cho
Ban Thường trực Quốc hội và Chính phủ thi hành
Hiến pháp.
Từ Quốc dân Ðại hội Tân Trào lập ra Ủy ban dân tộc
giải phóng đến Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa (6-1-1946) lập ra Chính phủ liên hiệp kháng
chiến (2-3-1946), thông qua bản Hiến pháp
(9-11-1946) đã đánh dấu sự trưởng thành của nhà
nước cách mạng, của Chính phủ nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất
nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất,
một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính
quyền trong toàn quốc do toàn dân bầu lên, hoàn
toàn có đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý đại diện
cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại, một
nhà nước hợp pháp, dân chủ - nhà nước của dân, do
dân và vì dân, được nhân dân giao phó trọng trách
điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến
và kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam
trên trường quốc tế.
Chính quyền cách mạng được củng cố, xây dựng thống
nhất và vững mạnh trong toàn quốc, là một nhân tố
quyết định đưa nước nhà vượt qua tình thế vô cùng
hiểm nghèo trong năm 1945 - 1946 dẫn đến kháng
chiến và kiến quốc đến thành công.
Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận dân tộc thống nhất,
các đoàn thể quần chúng, các đảng phái cách mạng
và dân chủ - Ðảng Cộng sản, Ðảng Dân chủ, Ðảng Xã
hội... là hệ thống chính trị của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa. Hệ thống chính trị đó là sản phẩm
khách quan của những điều kiện lịch sử, chính trị,
của quá trình sàng lọc trong cuộc đấu tranh dân
tộc quyết liệt của nhân dân ta tạo nên. Bản chất
và đặc điểm của hệ thống chính trị đó đã loại trừ
được phân ly, chia rẽ và đối lập giai cấp, đảng
phái, tạo nên một khối đoàn kết thống nhất vững
chắc, một sức mạnh cách mạng tập trung, sức mạnh
dân tộc để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm
lược lớn mạnh, đưa cuộc cách mạng và kháng chiến
của dân tộc đến thắng lợi vẻ vang.
Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay từ
khi ra đời đã thể hiện rõ là một bộ phận trong hệ
thống chính trị thống nhất của nước ta, là một
Quốc hội dân tộc thống nhất do Ðảng Cộng sản lãnh
đạo, phấn đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Như diễn văn bế mạc của cụ Tôn Ðức Thắng tại khóa
họp thứ hai của Quốc hội, ngày 9-11-1946 đã nói:
"Nếu có ai có thành kiến của giai cấp, của đảng
phái, của tôn giáo thì đến trong phòng này... cũng
đã để lòng nghe theo một tiếng gọi cao cả và
thiêng liêng hơn cả bấy nhiêu tiếng gọi lúc
thường: tiếng gọi của Tổ quốc. Cái không khí ấy đã
hoàn toàn phản chiếu được tình trạng chung của đất
nước..., tình trạng thống nhất ý chí và hành
động...". Tổ quốc trên hết! Ðoàn kết, đại đoàn
kết! Không phân biệt đảng phái! Ðó là ý chí cơ bản
của Quốc hội theo ngọn cờ thống nhất quốc gia dân
tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ở vào thời điểm chính quyền cách mạng còn trong
trứng nước, trước những thử thách gay go và cấp
bách, Ðảng ta đã quyết đoán việc "nhân nhượng",
"thỏa hiệp", "hòa để tiến" là thể hiện sách lược
mềm dẻo, linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc
"Dĩ bất biến, ứng vạn biến" đã góp phần thành công
cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, thành lập Chính
phủ liên hiệp kháng chiến và bảo vệ chính quyền
cách mạng. Ðây không những là thắng lợi to lớn về
chính trị, phá tan âm mưu của địch hòng chia rẽ,
phá hoại bóp chết chính quyền cách mạng non trẻ,
mà còn là thắng lợi của sự nghiệp đoàn kết thống
nhất dân tộc.
LÊ TRUYỀN
Phó Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam
Nguồn: http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/ |