|
Quốc hội với sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ
quốc
Hiến pháp năm 1959 đã khẳng định: "Ðất nước Việt
Nam là một khối Bắc Nam thống nhất không thể chia
cắt" và "Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một
nước thống nhất gồm nhiều dân tộc".
Chúng ta đều biết cuộc kháng chiến thần thánh của
dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược và can
thiệp Mỹ kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch lịch
sử Ðiện Biên Phủ (7-5-1954) chấn động địa cầu.
Chiến thắng lẫy lừng này có ý nghĩa quyết định đối
với việc ký kết Hiệp định Geneva (20-7-1954), chấm
dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Lào
và Cam-pu-chia. Từ đó đến tháng 4-1975, đất nước
ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền, có hai chế
độ chính trị khác nhau. Cách mạng ở miền bắc và
cách mạng Việt Nam ở miền nam, do một Ðảng Cộng
sản thống nhất lãnh đạo, tiến hành đồng thời hai
chiến lược cách mạng khác nhau, mỗi chiến lược
nhằm giải quyết yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của mỗi
miền. Tuy chiến lược của mỗi miền có vị trí khác
nhau, nhưng trước mắt đều thực hiện mục tiêu chung
của cả nước là giải quyết mâu thuẫn giữa nhân dân
ta với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng để
giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc.
Ngược thời gian, chúng ta nhớ lại những ngày sau
khi Hiệp định Geneva được ký kết, miền bắc hồ hởi
phấn khởi sống trong cảnh hòa bình, bắt tay vào
thời kỳ khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế,
văn hóa theo con đường xã hội chủ nghĩa. Miền nam
"đi trước, về sau" lại tiếp tục cuộc cách mạng dân
tộc dân chủ, đánh đổ ách thống trị của đế quốc và
tay sai, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước.
Song, đế quốc Mỹ đã trắng trợn, ra sức chống, phá
việc thi hành Hiệp định Geneva. Chúng nhanh chóng
hất cẳng Pháp, biến miền nam thành thuộc địa kiểu
mới và căn cứ quân sự của chúng, nhằm chia cắt lâu
dài, xâm lược cả nước ta và toàn bán đảo Ðông
Dương. Chúng đã tự tổ chức tuyển cử, bầu "Quốc
hội" riêng rẽ, công bố "Hiến pháp" của chế độ
"Việt Nam cộng hòa", biến miền nam thành một "quốc
gia" riêng, hoàn toàn trái với bản tuyên bố cuối
cùng của Hội nghị Geneva. Chính quyền Ngô Ðình
Diệm chính thức tuyên bố từ chối hiệp thương để
tiến hành tổng tuyển cử vào tháng 7-1956, theo quy
định của Hiệp định Geneva.
Mặc cho âm mưu và hành động phá hoại của kè thù,
song Chính phủ và Quốc hội nước ta vẫn kiên trì
đấu tranh bảo vệ Hiệp định, đòi nhà đương cục ở
miền nam phải cùng với miền bắc tổ chức hiệp
thương tổng tuyển cử. Là cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân, Quốc hội thật sự tiêu biểu cho ý chí thống
nhất của dân tộc ta, một ý chí sắt đá không gì lay
chuyển nổi. Quốc hội đã kịp thời tố cáo, lên án
những hành động phá hoại của đế quốc Mỹ và chính
quyền Sài Gòn, đòi các nước có liên quan phải tôn
trọng và bảo đảm việc thi hành nghiêm chỉnh hiệp
định nói trên. Trong bản Tuyên bố của Trưởng ban
Thường trực Quốc hội Tôn Ðức Thắng ngày 10-2-1956
có đoạn: "Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
kêu gọi đồng bào trong nước và ngoài nước đoàn kết
rộng rãi và chặt chẽ trong Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, trên cơ sở bản Cương lĩnh của Mặt trận, ra
sức đấu tranh chống trò hề tuyển cử riêng rẽ và
chế độ khủng bố phát-xít của Mỹ - Diệm...".
Trong các kỳ họp Quốc hội cũng như trong tất cả
các hoạt động của mình, Quốc hội đều dành phần
quan tâm đặc biệt tới cuộc đấu tranh ngoan cường,
bất khuất của nhân dân miền nam, vì sự nghiệp
thống nhất Tổ quốc.
Khi biết tin Mỹ - Diệm đã gây ra vụ thảm sát Phú
Lợi ngày 1-12-1958, đầu độc giết hại hơn 1.000
chính trị phạm yêu nước, cả miền bắc dấy lên làn
sóng sôi sục căm thù quân cướp nước và bè lũ bán
nước. Nhiều cuộc tuần hành xuống đường của các
tầng lớp nhân dân biểu lộ thái độ kiên quyết của
toàn dân miền bắc đứng bên cạnh đồng bào miền nam,
cùng nhau kề vai sát cánh chống quân thù. Ngày
23-1-1959, Ban Thường trực Quốc hội ra Tuyên bố
khẳng định "Bọn Mỹ - Diệm thực hiện những chính
sách cực kỳ hung ác, không tỏ ra chúng mạnh, mà
chỉ tỏ ra chúng không thể nào khuất phục được nhân
dân miền nam...".
Sau ba năm phấn đấu, kết thúc thắng lợi nhiệm vụ
khôi phục kinh tế, từ năm 1958, miền bắc bắt tay
vào nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa. Ở miền nam,
cuộc đấu tranh của quần chúng chống lại chính sách
thực dân mới của Mỹ và chế độ độc tài, phát-xít
gia đình trị Ngô Ðình Diệm ngày càng diễn ra ác
liệt. Bằng chính sách "tố cộng", "diệt cộng", áp
dụng đạo luật phát-xít "10-1959" và đưa ra cái gọi
là "chính sách đối với những người cựu kháng
chiến", chính quyền Sài Gòn đã gây cho cách mạng
miền nam những tổn thất lớn. Nhưng "vỏ quýt dày có
móng tay nhọn". Cả nước hướng về miền nam đau
thương mà anh dũng. Trong bản Tuyên bố ngày
30-11-1959, Ban Thường trực Quốc hội khẳng định:
"Nhân dân Việt Nam ngày càng thấy rõ tính chất tàn
ác của chế độ Mỹ - Diệm, sẽ càng căm thù sâu sắc
và càng kiên quyết chống lại chúng. Nhân dân thế
giới vốn sẵn có cảm tình với cuộc kháng chiến anh
dũng trước đây và cuộc đấu tranh chính nghĩa hiện
nay của nhân dân ta sẽ đứng về phía chúng ta. Ngày
càng bị cô lập, bọn Mỹ - Diệm không sao tránh được
thất bại nhục nhã, thắng lợi cuối cùng nhất định
sẽ về tay nhân dân Việt Nam".
Thực tiễn cuộc đấu tranh quyết liệt với kẻ thù đã
làm cho nhân dân miền nam, trước hết là bộ phận
tiên phong cách mạng càng nhận thức sâu sắc thêm
rằng muốn chống lại Mỹ - Diệm để cứu nước, tự cứu
lấy mình, không có con đường nào khác, ngoài con
đường cách mạng.
Sau khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15
(1-1959), xác định đường lối cách mạng Việt Nam ở
miền nam, cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào
miền nam càng chuyển biến mạnh mẽ. Cùng với cuộc
đấu tranh chính trị diễn ra rộng lớn trên khắp đô
thị và nông thôn, các cuộc đấu tranh vũ trang diệt
ác, trừ gian và một số cuộc nổi dậy của quần chúng
phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ với những mức
độ thích hợp khác nhau đã nổ ra ở nhiều vùng thuộc
khu V và Nam Bộ. Có thể nói trong hai năm 1958,
1959, cao trào "Ðồng khởi", khởi nghĩa từng phần
phát triển rộng khắp ở các vùng miền núi, đồng
bằng, đưa cách mạng miền nam chuyển sang thế tiến
công bằng bạo lực cách mạng của quần chúng, kết
hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang khởi
nghĩa của quần chúng và chiến tranh cách mạng.
Phong trào "Ðồng khởi" đã giáng một đòn nặng nề
vào chiến lược "chiến tranh đơn phương" của Tổng
thống Eisenhower, làm phá sản một hình thức thống
trị điển hình của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ
thực thi ở miền nam, đẩy chế độ Ngô Ðình Diệm vào
thời kỳ khủng hoảng trầm trọng kéo dài.
Ðể cứu vãn chính quyền Sài Gòn khỏi sự sụp đổ
trước bão táp cách mạng mãnh liệt của nhân dân
miền nam, đế quốc Mỹ đã lần lượt thực hiện các
chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Tổng thống
Kennedy, "chiến tranh cục bộ" của Tổng thống
Johnson; "Việt Nam hóa chiến tranh" của Tổng thống
Nixon, song rốt cục tất cả chiến lược đó đều bị
thất bại thảm hại.
Có thể nói ý chí thống nhất Tổ quốc luôn được thể
hiện trong suy nghĩ, tình cảm và hành động của
quân và dân miền bắc. Cả nước xiết bao cảm động,
thấm thía trước tình cảm thiêng liêng, sâu sắc của
Bác Hồ đối với miền nam ruột thịt, khi Người đặt
tay lên ngực và nói: "Hình ảnh của miền nam yêu
quý ở trong trái tim tôi" và: "Chờ đến ngày miền
nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hòa bình, thống
nhất, bắc - nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho
phép đồng bào miền nam trao cho tôi Huân chương
cao quý. Như vậy thì dân ta sẽ sung sướng, vui
mừng".
Thông qua các nghị quyết, lời tuyên bố, một số đạo
luật và các văn kiện quan trọng khác, Quốc hội đã
thể hiện quyết tâm của nhân dân cả nước đấu tranh
giành thống nhất Tổ quốc. Hiến pháp năm 1959 đã
khẳng định: "Ðất nước Việt Nam là một khối bắc nam
thống nhất không thể chia cắt" và "Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa là một nước thống nhất gồm nhiều
dân tộc".
Sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc của nhân
dân đã diễn ra lâu dài và vô cùng gian khổ, quyết
liệt, "Lửa thử vàng, gian nan thử sức". Dưới sự
lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Ðảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Quốc hội và Chính phủ đã chỉ đạo,
động viên toàn dân kiên quyết làm tròn hai nhiệm
vụ lịch sử: xây dựng và bảo vệ miền bắc xã hội chủ
nghĩa, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở
miền nam. Từ năm 1965 trở đi, cả nước có chiến
tranh; miền nam là tiền tuyến lớn, trực tiếp đương
đầu với quân Mỹ xâm lược, miền bắc là hậu phương
lớn "Mỗi người làm việc bằng hai" vừa xây dựng chủ
nghĩa xã hội, vừa trực tiếp đối phó chiến tranh
phá hoại bằng không quân của không lực Hoa Kỳ.
Chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu, thiêng
liêng của mọi người Việt Nam yêu nước. Cả dân tộc
ta đã đứng lên chiến đấu với ý chí mà Bác Hồ đã
đúc kết thành chân lý "Không có gì quý hơn độc
lập, tự do". Tại các kỳ họp trong thời kỳ chống
Mỹ, cứu nước, Quốc hội đều thông qua các văn kiện
quan trọng để lên án âm mưu, hành động tội ác tày
trời của bè lũ Mỹ - ngụy, quân, dân hai miền quyết
tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược; đồng thời kêu gọi
nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn
thế giới đứng về phía Việt Nam, ủng hộ Việt Nam
chiến thắng. Khó mà kể hết những hy sinh vô bờ bến
của quân và dân miền nam quyết tâm "đánh cho Mỹ
cút, đánh cho ngụy nhào". Khó mà diễn tả hết những
đóng góp cực kỳ to lớn của miền bắc trong những
ngày tháng không quên đó. "Miền bắc đã dốc vào
cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức
mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn
một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng
của cả nước, xứng đáng là pháo đài vô địch của chủ
nghĩa xã hội " (Báo cáo Chính trị của Ban Chấp
hành Trung ương Ðảng tại Ðại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IV của Ðảng, 12-1976).
Quốc hội đã thực hiện các quyết sách để động viên
toàn bộ nhân tài, vật lực của chế độ xã hội chủ
nghĩa, tập trung mọi hoạt động về đối nội đối
ngoại, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chống Mỹ, cứu
nước, bảo vệ miền bắc, giải phóng miền nam, thống
nhất đất nước, góp phần vào kết quả to lớn của
việc ký kết Hiệp định Paris (27-1-1973) chấm dứt
chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và dẫn
tới Ðại thắng 30-4-1975.
Chúng ta cần nhắc đến vai trò quan trọng của Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền nam Việt Nam, ra đời
năm 1960; Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa
miền nam Việt Nam và Hội đồng Cố vấn bên cạnh
Chính phủ, do Ðại hội đại biểu quốc dân miền nam
bầu ra ngày 6-6-1969. Chính phủ Cách mạng và Hội
đồng Cố vấn là tổ chức có tính chất đại diện đầy
đủ và trực tiếp của nhân dân miền nam, được hàng
chục nước trên thế giới công nhận, đã thực thi sứ
mệnh lịch sử, trực tiếp động viên và huy động lực
lượng tại chỗ cho cuộc chiến đấu và chiến thắng Mỹ
- ngụy.
Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất đã
phát huy được sức mạnh quyền lực của Nhà nước để
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trọng đại là xây dựng
miền bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, giải phóng
hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện
trọn vẹn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Xây
dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào
sự nghiệp cách mạng thế giới". Quốc hội ta thật
xứng đáng là đại biểu của nhân dân Việt Nam anh
hùng. Trong công lao và thành tích của Quốc hội
ta, góp phần to lớn vào thắng lợi vĩ đại của cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có sự đóng góp xứng
đáng của các vị đại biểu Quốc hội.
Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Quốc hội Việt
Nam, chúng ta thêm tự hào về những trang sử vẻ
vang và những thành tích to lớn của Quốc hội đối
với việc hoàn thành sự nghiệp đấu tranh thống nhất
Tổ quốc, để từ đó càng tích cực tham gia vào quá
trình tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của
Quốc hội, phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới toàn
diện đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Nguồn: http://www.nhandan.com.vn |