|
Quốc hội Việt Nam: Sáu thập kỷ không ngừng đổi
mới
Thục Hạnh
Ngày 6-1-1946, lần đầu tiên trong lịch sử, mọi
người dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không
phân biệt già trẻ, nam nữ, dân tộc, tôn giáo...
đã được hưởng quyền bầu cử và ứng cử. Thắng lợi
của cuộc Tổng tuyển cử này đã đánh dấu sự khai
sinh của Quốc hội (QH) nước Việt Nam dân chủ
Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Qua 60 năm hoạt động, QH đã thể hiện
xứng đáng vai trò, vị trí là cơ quan đại diện
dân cử cao nhất và là cơ quan quyền lực Nhà nước
cao nhất thông qua ba chức năng cơ bản: Lập hiến
- lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những
vấn đề quan trọng của đất nước.
Tổng tuyển cử 6-1-1946 - dấu son trong lịch sử
dân tộc
Để bảo vệ nền độc lập, tự do bền vững cho dân
tộc, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu là thực hiện quyền dân chủ cho quần chúng,
xúc tiến việc bầu cử QH để quy định Hiến pháp,
bầu Chính phủ chính thức. Vì vậy, ngày 3-9-1945,
chỉ một ngày sau khi Nhà nước cách mạng ra đời,
trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tổ
chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với
chế độ phổ thông đầu phiếu. Ngày 8-9-1945, Chủ
tịch Chính phủ lâm thời nước VN Dân chủ Cộng hòa
ra sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử để
bầu QH. Cuộc tổng tuyển cử lúc đầu được dự kiến
tổ chức vào ngày 23-12-1945 nhưng để thực hiện
chủ trương thống nhất và hòa giải, đồng thời có
thêm thời gian cho các ứng cử viên nộp đơn và
vận động tranh cử, ngày 18-12-1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh ký sắc lệnh hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến
ngày chủ nhật, 6-1-1956.
Ngày 5-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu
gọi quốc dân đi bỏ phiếu, trong đó có đoạn:
“Ngày mai là một ngày sung sướng của đồng bào
ta vì ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử
Việt nam nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền
dân chủ của mình...”
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1945 được tiến hành
theo những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ nhất là:
Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Ở phía Nam, cuộc tổng tuyển cử diễn ra vào ngày
23-12-1945 (do không kịp nhận lệnh hoãn), nhân
dân đi bỏ phiếu rất đông, bất chấp bom đạn của
giặc Pháp. Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử đã
được tổ chức tại các tỉnh, thành còn lại. Tại Hà
Nội, cuộc Tổng tuyển cử diễn ra trong không khí
tràn đầy phấn khởi. Có 91,95% cử tri của 74 khu
nội thành và 118 làng ngoại thành Hà Nội đã đi
bỏ phiếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trúng cử với
số phiếu cao nhất (98,4%). Cả nước bầu được 333
đại biểu QH, trong đó có 57% số đại biểu thuộc
các đảng phái khác nhau, còn lại là các đại biểu
không đảng phái, 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu
dân tộc thiểu số. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển
cử đánh dấu bước phát triển đầu tiên về thể chế
dân chủ của một nước Việt Nam mới.
Sáu thập kỷ không ngừng phát triển
60 năm đã qua kể từ ngày cuộc Tổng tuyển cử đầu
tiên được tổ chức, lịch sử phát triển của QH
luôn gắn liền với lịch sử CMVN. Với 11 khóa hoạt
động, QH nước ta đã trải qua những giai đoạn hào
hùng gắn với những thăng trầm của lịch sử. Tính
từ năm 1946 đến ngày 15-9-2005, QH Việt Nam đã
thông qua tổng số 183 văn bản Luật và 194 pháp
lệnh có ảnh hưởng, chi phối mọi lĩnh vực của
hoạt động Nhà nước và đời sống xã hội. QH là cơ
quan đại diện dân cử cao nhất của nhân dân đồng
thời là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của
đất nước. Tính đại diện cao nhất của QH nước ta
thể hiện trên 3 yếu tố: QH có cơ cấu, thành phần
đại biểu đại diện rộng rãi cho các tầng lớp nhân
dân, QH thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của
mình dựa vào sự tín nhiệm của nhân dân, do nhân
dân ủy quyền; và QH chịu trách nhiệm trước nhân
dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Các
đại biểu trong Quốc hội này không phải là đại
diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho
toàn thể quốc dân Việt Nam” và
“Quốc hội là tiêu biểu cho ý chí thống nhất của
dân tộc ta, một ý chí sắt đá không gì lay chuyển
nổi”. Các vấn đề được QH quyết định đều
phải được tập thể các đại biểu QH xem xét và chỉ
được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu
QH biểu quyết tán thành, riêng trường hợp sửa
đổi Hiến pháp thì phải có 2/3 tổng số đại biểu
tán thành.
Mô hình tổ chức một viện của QH nước ta đã phản
ánh đúng truyền thống, lịch sử hình thành và yêu
cầu của sự nghiệp CM của nhân dân. QH trở thành
một tổ chức tập trung quyền lực của Nhà nước,
thống nhất ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp
nhân dân. QH có các cơ quan thường trực để giúp
thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn ngay cả
trong thời gian QH không làm việc. Hội đồng dân
tộc và 7 Ủy ban luôn hoạt động rất tích cực để
giúp QH trong việc thẩm tra các dự án luật, pháp
lệnh; giám sát việc thực hiện Hiến pháp, luật,
pháp lệnh và kiến nghị các vấn đề thuộc lĩnh vực
hoạt động của mình.
Suốt 60 năm qua, QH và các cơ quan chuyên trách
luôn nỗ lực đổi mới phương thức hoạt động nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả các kỳ họp. Việc
đổi mới phương thức hoạt động của QH được thực
hiện một cách đồng bộ, từ đổi mới quy trình lập
pháp đến tăng thời lượng và chất lượng các kỳ
họp. QH đã không ngừng cải tiến việc xem xét và
thảo luận các vấn đề tại kỳ họp; Phiên họp theo
hướng dân chủ, mở rộng tranh luận, đối thoại để
thống nhất ý kiến; tăng cường cởi mở, công khai
trong sinh hoạt QH. Trước những yêu cầu của tình
hình mới, các quyết định của QH càng phải đòi
hỏi tính thực chất . Các hình thức lấy ý
kiến nhân dân đối với các dự thảo và các hình
thức tiếp xúc giữa đại biểu QH với cử tri sẽ
tiếp tục được cải tiến để “nhân dân dự thính
hoặc theo dõi trực tiếp các kỳ họp của các cơ
quan dân cử”. Các hoạt động giám sát cũng tập
trung vào bề sâu, đặc biệt là giám sát ngân sách
và thực thi công vụ của các chức danh nhà nước;
đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ
chức trong việc sử dụng ngân sách nhà nước và
nhất là giám sát để làm rõ trách nhiệm chính trị
của những người do QH bầu hoặc phê chuẩn. Tiếp
tục đổi mới cách thức làm việc, nâng cao chất
lượng chất vấn và trả lời chất vấn, nâng cao
chất lượng đại biểu và tăng cường hoạt động của
các Ủy ban... đang là những mục tiêu mà QHVN
hướng tới để có thể ban hành nhiều quyết định và
bộ luật có chất lượng tốt hơn.
Nguồn: Báo Phụ nữ VN số 03, ngày 06.1.2006 |