|
Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Tô Huy Rứa *
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân là một hệ thống các quan
điểm lý luận về bản chất, chức năng, cơ chế hoạt
động, tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công
chức nhà nước; trong đó, quan niệm về nhà nước
pháp quyền là một tư tưởng nhất quán, thể hiện tầm
nhìn vượt thời đại và có giá trị lâu bền. Trong di
sản lý luận của mình, Hồ Chí Minh đã có lần chính
thức sử dụng thuật ngữ "chế độ pháp trị". Tiếp xúc
với nền văn minh Âu - Mỹ, nhất là kinh nghiệm tổ
chức, điều hành đời sống xã hội, Hồ Chí Minh cho
rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là dân chủ,
tiến bộ và có tính chất phổ biến đối với các xã
hội hiện đại.
Nhận thức được tầm quan trọng của luật pháp, từ
rất sớm, Hồ Chí Minh đã đề cập đến vai trò của
chúng trong điều hành và quản lý xã hội. Năm 1919,
tám yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị
Véc- xây đã có 4 điểm liên quan đến vấn đề pháp
quyền, còn lại liên quan đến công lý và quyền con
người.
Sau này, bản Yêu sách của nhân dân An Nam được Hồ
Chí Minh chuyển thành "Việt Nam yêu cầu ca", trong
đó yêu cầu thứ bảy là:
"Bảy xin hiến pháp ban hành,
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền"(1)
"Trăm điều" là một đại lượng được sử dụng theo
cách ẩn dụ để đề cập một cái chung, bao quát. Còn
"thần linh pháp quyền" là một cách nói theo ngôn
ngữ ngày nay, là ý thức, tinh thần pháp luật phải
chi phối, chỉ đạo mọi hành vi, hoạt động của bộ
máy, cơ quan nhà nước; môi trường pháp lý phải bao
trùm mọi mặt, mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Đây là
tư tưởng rất đặc sắc của Hồ Chí Minh, phản ánh nội
dung cốt lõi của Nhà nước dân chủ mới - Nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật. Đồng thời, đây cũng
là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động quản lý
nhà nước của Người.
Sau Cách mạng Tháng Tám, năm 1945, Hồ Chí Minh đề
ra một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa là: Chúng ta phải có một
hiến pháp dân chủ. Cùng với chủ trương xây dựng
Hiến pháp, ngày 10-10-1945, Hồ Chí Minh đã ký Sắc
lệnh SL/47 cho phép sử dụng một số điều khoản của
pháp luật cũ để điều chỉnh các quan hệ dân sự.
Trong nhận thức của Hồ Chí Minh, pháp luật của các
chế độ xã hội có những giá trị nhân bản chung mà
chúng ta có thể kế thừa, phát triển. Ở đây, Hồ Chí
Minh đã nhìn nhận pháp luật trong chiều sâu văn
hóa của nó.
Sau năm 1954, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đạt được nhiều
thành tựu quan trọng, nhiều quy định trong Hiến
pháp năm 1946 không còn phù hợp, Hồ Chí Minh đã
chủ trương sửa đổi và ban hành Hiến pháp mới -
Hiến pháp năm 1959. Trong tư duy Hồ Chí Minh, một
khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì pháp
luật, nhất là đạo luật "gốc" - Hiến pháp, cũng
phải thay đổi để bảo đảm khả năng điều chỉnh hợp
lý các quan hệ xã hội đã phát sinh và định hình.
Ngoài hai bản Hiến pháp, từ năm 1945 đến 1969, Hồ
Chí Minh còn chỉ đạo soạn thảo, ký quyết định công
bố 16 đạo luật và 1.300 văn bản dưới luật. Khối
lượng văn bản luật đó luôn thể hiện rõ việc đề cao
tính nhân đạo và nhân văn, bảo đảm tính hợp hiến,
hợp pháp của nhà nước mà nhân dân là chủ và do
nhân dân làm chủ.
Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Pháp luật của ta là
pháp luật dân chủ, phải nghiêm minh và phát huy
hiệu lực thực tế. Nhà nước ta cũng sử dụng pháp
luật để quản lý xã hội. Song pháp luật của ta đã
có sự thay đổi về chất, mang bản chất của giai cấp
công nhân, là một loại hình pháp luật kiểu mới,
pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự
do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Tuy
nhiên, pháp luật dân chủ ở Hồ Chí Minh cũng được
xem xét trong các mối quan hệ hết sức đặc trưng:
- Trong quan niệm về thực chất của dân chủ: "Không
nên hiểu lầm dân chủ. Khi chưa quyết định thì tha
hồ bàn cãi. Nhưng khi đã quyết định rồi thì không
được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là để bàn
cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để
đề nghị không thực hiện. Phải cấm chỉ những hành
động tự do quá trớn ấy" (2).
- Trong việc xác định rõ giới hạn của các quyền tự
do cá nhân, Người nói: Nhân dân ta hiện nay có tự
do, tự do trong kỷ luật. Mỗi người có tự do của
mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác.
Người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức là
phạm đến tự do của người khác, là phạm pháp. Không
thể có tự do cho bọn việt gian, bọn phản động, bọn
phá hoại tự do của nhân dân.
- Trong việc xử lý mối quan hệ giữa quyền và nghĩa
vụ công dân, pháp luật dân chủ vừa thể hiện các
quyền, lợi ích của công dân, nhưng cũng quy định
rõ các nghĩa vụ mà người dân phải thực hiện. Hưởng
quyền và thực hiện nghĩa vụ là thuộc tính hai mặt
của một người dân làm chủ nhà nước.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Pháp luật của ta là pháp
luật dân chủ; mọi công dân của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa đều bình đẳng trước pháp luật cả về
quyền lợi và nghĩa vụ; ai vi phạm pháp luật đều
phải xử lý nghiêm khắc, cho dù người đó ở vị trí
nào trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà
nước. Theo Người, hiệu lực của pháp luật chỉ có
được khi mọi người đều nghiêm chỉnh chấp hành pháp
luật; pháp chế chỉ bảo đảm khi các quy phạm pháp
luật được thực thi trong các quan hệ xã hội; mọi
hành vi vi phạm pháp luật phải bị xử lý. Như vậy,
trong thực thi luật pháp, việc thưởng phạt phải
nghiêm minh. Vì nếu thưởng phạt không nghiêm minh
thì người cúc cung tận tụy lâu ngày cũng thấy chán
nản, còn người hư hỏng, vi phạm pháp luật, kỷ luật
sẽ ngày càng lún sâu vào tội lỗi, làm thiệt hại
cho nhân dân. Trong một nước, thưởng phạt phải
nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến
mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công.
Muốn pháp luật nghiêm minh, phát huy hiệu lực, cần
có các điều kiện:
Trước hết,
pháp luật đó phải đúng và phải đủ. Pháp luật đúng
là pháp luật phản ánh trung thành bản chất các
quan hệ xã hội khách quan, tiếp cận đến chân lý,
mà chân lý là tất cả những gì phù hợp với lợi ích
của nhân dân. Còn pháp luật đủ là phải có tính
đồng bộ, bao quát được các mặt, các loại quan hệ,
các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thứ hai,
pháp luật phải đến được với dân, "đi vào giữa dân
gian". Để pháp luật được thực thi trong đời sống
xã hội phải chú trọng giáo dục, tuyên truyền pháp
luật cho mọi đối tượng dân cư, làm cho họ biết,
hiểu và thực hiện đúng. Trong điều kiện dân trí
còn thấp, học vấn hạn chế, văn hóa dân chủ chưa
cao, việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật càng
trở nên cần thiết.
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, tuyên truyền,
giáo dục pháp luật là một "công đoạn" trong toàn
bộ quy trình xây dựng - thông qua, ban hành - thực
hiện, giám sát - sửa đổi, điều chỉnh pháp luật.
Tại Hội nghị thảo luận Luật Hôn nhân và Gia đình,
vấn đề này đã được Hồ Chí Minh chỉ rõ: "công bố
đạo luật này chưa phải đã là mọi việc đều xong, mà
còn phải tuyên truyền giáo dục lâu dài mới thực
hiện được tốt"(3). Muốn dân hiểu,
dân nhớ để làm theo, trong tuyên truyền phải biết
cách diễn đạt đơn giản, ngắn gọn, nhưng tuyệt đối
chính xác, phù hợp với đặc điểm tâm lý, tính cách,
văn hóa của các đối tượng dân cư từng khu vực,
từng miền trên đất nước.
Thứ ba,
cán bộ trực tiếp thực thi luật pháp phải thật sự
công tâm và nghiêm minh. Hồ Chí Minh yêu cầu cán
bộ, đảng viên có nhiệm vụ "gương mẫu chấp hành
pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của các đoàn thể
cách mạng của quần chúng mà mình tham gia". Người
nhiều lần phê phán những cán bộ, đảng viên không
chấp hành pháp luật của Nhà nước, cá nhân chủ
nghĩa sinh ra tự do chủ nghĩa, không tôn trọng
pháp luật và thể lệ nhà nước, làm gương xấu cho
quần chúng nhân dân.
Trong việc giữ vững tính nghiêm minh và hiệu lực
của pháp luật, cán bộ làm công tác tư pháp có vai
trò quan trọng. Họ chính là người trực tiếp thực
thi luật pháp, đại diện cụ thể cho "cán cân công
lý". Vì thế, Hồ Chí Minh yêu cầu ở họ phải có phẩm
chất đạo đức cần thiết: Trong công tác xử án phải
công bằng, liêm khiết, trong sạch như thế cũng
chưa đủ vì không thể chỉ hạn chế hoạt động của
mình trong khung tòa án mà còn phải gần dân, giúp
dân, học dân, hiểu dân để giúp mình thêm liêm
khiết, thêm công bằng, trong sạch.
Đối với những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi
phạm pháp luật hoặc xử lý không đúng, không nghiêm
các trường hợp vi phạm pháp luật, Hồ Chí Minh chỉ
rõ: Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của
Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính
sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất
và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng cũng
chưa bị xử lý kịp thời..., như vậy là kỷ luật chưa
nghiêm. Người yêu cầu kiên quyết trừng trị những
kẻ vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền lợi của công
dân, làm cho nhân dân bất bình, oan ức.
Với Hồ Chí Minh, pháp luật không phải là để trừng
trị con người mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi
ích của con người. Tư tưởng pháp quyền của Người
không chỉ dừng lại ở các quyền con người được ghi
trong các văn bản pháp luật mà còn thấm đượm một
tấm lòng thương yêu nhân dân, chăm lo cho ấm no,
hạnh phúc của nhân dân, thấm đượm lòng nhân ái,
nghĩa đồng bào theo đạo lý truyền thống ngàn năm
của dân tộc Việt Nam. Vì thế, pháp quyền Hồ Chí
Minh là pháp quyền đặc biệt, pháp quyền nhân nghĩa
- một thứ nhân nghĩa có nội hàm triết lý, mang đậm
tính dân tộc và dân chủ sâu sắc.
Trên thế giới, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây tồn
tại hai phương thức trị nước chủ yếu: đức trị và
pháp trị. Bản thân Hồ Chí Minh cũng đã có lần đề
cập đến chế độ pháp trị: ... Tư pháp cần góp phần
của mình là thực hiện chế độ pháp trị, giữ
vững và bảo vệ quyền lợi nhân dân, bảo vệ chế độ
dân chủ nhân dân. Nhưng trong thực tế, Người đã
kết hợp chặt chẽ việc quản lý, điều hành xã hội
bằng pháp luật với việc tuyên truyền, giáo dục đạo
đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh công dân, giác
ngộ lý tưởng cách mạng cho cán bộ, đảng viên và
quần chúng nhân dân. Hồ Chí Minh nhận rõ cả pháp
luật và đạo đức đều dùng để điều chỉnh hành vi của
con người, nâng con người lên, hướng con người tới
chân, thiện, mỹ. Pháp luật góp phần hoàn
thiện nhân cách làm người, còn đạo đức làm cho
người ta thực hiện luật pháp một cách tự giác.
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức là cơ sở
để xây dựng, thực hiện pháp luật. Nền pháp quyền
của ta là một nền pháp quyền hợp đạo đức, có nhân
tính. Hồ Chí Minh lý giải: nghĩ cho cùng, vấn đề
tư pháp, cũng như mọi vấn đề khác, trong lúc này
là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người
là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại
đau khổ bị áp bức. Phải làm sao đóng góp vào việc
làm cho nước độc lập, dân được tự do, hạnh phúc,
nhân loại khỏi đau khổ.
Sự thống nhất giữa đạo đức và pháp luật trong tư
tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở quan niệm xử lý
các hành vi phạm pháp, nguyên tắc "có lý","có
tình" chi phối mọi hành vi ứng xử của con người,
tôn trọng cái lý, đề cao cái tình, tùy từng trường
hợp, tình huống cụ thể mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh
mặt này hay mặt khác. Xử lý hành vi vi phạm pháp
luật phải kịp thời, nghiêm minh. Pháp luật không
loại trừ một ai, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi cái xấu,
cái ác, khuyến khích, nâng đỡ, phát huy cái tốt,
cái thiện vốn có trong mỗi con người, chứ không
đơn thuần trừng phạt, răn đe. Trong việc thực thi
pháp luật cũng phải bảo đảm tính hài hòa giữa các
mặt tưởng chừng như đối lập nhau. Phương châm của
Hồ Chí Minh là: không xử phạt là không đúng; song,
cái gì cũng trừng phạt cả cũng là không đúng, nên
phải tránh lạm dụng pháp luật. Tính nghiêm minh và
hiệu lực của luật pháp không chỉ phụ thuộc vào sự
đúng đắn của pháp luật mà trong quan hệ thực tế
còn phụ thuộc vào cả cái tâm của chính người đại
diện cho pháp luật.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu các giá
trị tư tưởng hiện đại của loài người, trước nhu
cầu thực tiễn phát triển đất nước, Đảng Cộng sản
Việt Nam chủ trương lãnh đạo xây dựng nhà nước
pháp quyền ở nước ta. Quan điểm về nhà nước pháp
quyền của Đảng là một bộ phận hợp thành tổng thể
lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội.
Nhận thức của Đảng về nhà nước pháp quyền là một
quá trình. Trước những năm 90 của thế kỷ XX, trên
bình diện lý luận, chúng ta chỉ dùng các khái niệm
"Nhà nước chuyên chính vô sản", "Nhà nước xã hội
chủ nghĩa". Đến năm 1994, tại Hội nghị đại biểu
toàn quốc của Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII, khái
niệm "nhà nước pháp quyền" đã được nêu lên. Từ đó,
Đảng ta nhận thức rất rõ rằng, nhà nước pháp quyền
là một thành tựu vĩ đại của tư tưởng nhân loại;
xét về bản chất, không chỉ có một loại nhà nước
pháp quyền duy nhất; mà dựa trên cơ sở kinh tế -
xã hội, bản chất chế độ xã hội khác nhau, vẫn tồn
tại Nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa và Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Nhận thức này ngày càng thống nhất trong toàn Đảng
và được khẳng định rõ tại Đại hội IX của Đảng
(4-2001): Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực
hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước
pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ
chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ
chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Quan điểm này đã
được thể hiện trong việc sửa đổi, bổ sung một số
điều của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1992 và cụ thể hóa trong Điều 2: Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công
và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Trong Dự thảo Đề cương các Văn kiện trình Đại hội
X của Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa được khẳng định thành một
vấn đề có tính nguyên tắc với các nội dung: nghiên
cứu, thể chế hóa và xây dựng cơ chế vận hành cụ
thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà
nước đều thuộc về nhân dân; nguyên tắc quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp
giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp; xây dựng cơ chế bảo vệ
Hiến pháp, đồng thời định rõ cơ chế, cách thức bảo
đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật trong đời
sống kinh tế - xã hội của đất nước.
Thực hiện nguyên tắc này, trên thực tế là tiếp tục
quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp
quyền trong những điều kiện và yêu cầu phát triển
mới của đất nước. Cụ thể là:
- Cần phải nhận thức đúng đắn vai trò của pháp
luật trong nhà nước pháp quyền, bảo đảm để pháp
luật trở thành phương tiện cho người dân thực hiện
quyền làm chủ của mình, sống và làm việc theo Hiến
pháp, pháp luật.
- Xây dựng đồng bộ và hoàn thiện hệ thống pháp
luật, đáp ứng tốt và kịp thời nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước.
- Kiện toàn, nâng cao chất lượng các cơ quan làm
luật, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đủ phẩm chất
và năng lực.
- Đẩy mạnh công tác giáo dục ý thức pháp luật cho
nhân dân, coi trọng tuyên truyền, hướng dẫn, giải
thích, hỗ trợ tư vấn pháp luật, nhất là ở vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa; giáo dục pháp luật
phải gắn liền với giáo dục đạo đức cách mạng.
- Pháp luật phải được thực thi nghiêm chỉnh từ cơ
quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước đến các
tổ chức xã hội và công dân; mọi hành động vi phạm
pháp luật phải được xử lý đúng, kịp thời, không để
sót người, sót tội, không gây oan ức cho người vô
tội...
- Tăng cường vai trò và đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng trong quá trình xây dựng và hoàn
thiện nhà nước pháp quyền, nhất là nâng cao tầm
trí tuệ và tư duy lý luận của Đảng trong chỉ đạo
định hướng xây dựng hệ thống pháp luật.
* PGS, TS, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(1) Hồ Chí Minh : Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1995, t 1, tr 438
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 6, tr 108
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 267
Nguồn: Tạp chí Cộng sản, số 22, tháng 11-2005
|