|
QUỐC DÂN ĐẠI HỘI TÂN TRÀO – MÔ HÌNH QUỐC HỘI
ĐẦU TIÊN
VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA QUỐC HỘI KHÓA I
Lê Thanh Vân*
Tháng 6-1919, trong Bản yêu sách 8 điểm gửi tới
Hội nghị Véc-xây, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc
đòi thực dân Pháp thực hiện những quyền tự do,
dân chủ, bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Một
trong những yêu sách đó, là đòi "Cải cách nền
pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ
cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp
luật như người Âu châu. Thay chế độ ra sắc lệnh
bằng chế độ ra các đạo luật". "Đoàn đại biểu
thường trực của người bản xứ, do người bản xứ
bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện
biết được những nguyện vọng của người bản xứ"(1).
Cũng trong Bản yêu sách này, Nguyễn Ái Quốc nêu
bật tư tưởng về nhà nước pháp quyền với đòi hỏi
"… Trăm điều phải có thần linh pháp quyền…"(2).
Mặc dù những đòi hỏi chính đáng này không được
thực dân Pháp đoái hoài đến, nhưng đó là một
tiếng chuông báo hiệu sự trỗi dậy của một dân
tộc bị áp bức đang đứng lên đấu tranh tự giải
phóng khỏi ách thuộc địa, để lập ra nền tự chủ,
với việc tự tổ chức ra nhà nước của mình.
Tư tưởng về một cuộc cách mạng kiểu mới cũng đã
được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu rõ trong tác
phẩm "Đường cách mệnh" (1927) là: "Chúng ta đã
hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi,
nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao
cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn
ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế
dân chúng mới được hạnh phúc"(3).
Điều này có thể được coi như cương lĩnh của cách
mạng, với mục đích giao quyền cho đông đảo quần
chúng nhân dân xây dựng một nhà nước mà tất cả
quyền lực thuộc về nhân dân.
Tháng 5 – 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 để đề ra chủ
trương tiến hành cách mạng và thiết lập chính
quyền cách mạng. Hội nghị xác định: "Sau khi
đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập
một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá
cờ toàn quốc. Chính phủ ấy do quốc dân đại hội
cử ra"(4).
Đầu tháng 5-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cao
Bằng chuyển về chiến khu Hoàng Hoa Thám, chọn
Tân Trào (Tuyên Quang) làm nơi ở và làm việc, để
chỉ đạo phong trào cả nước. Lúc này, tình hình
cách mạng đã phát triển rộng và xuất hiện những
cơ hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan
tâm đến việc tổ chức Quốc dân Đại hội.
Giữa tháng 8-1945, Chính phủ Nhật Bản đầu hàng
quân Đồng minh. Quân Nhật ở Đông Dương bị tê
liệt. Chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang cực
độ. Quân đồng minh sắp kéo vào Đông Dương. Thực
dân Pháp ráo riết tìm cách quay trở lại. Những
điều kiện chủ quan và khách quan đã chín muồi và
xuất hiện thời cơ cách mạng. Chớp lấy thời cơ
đó, từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị toàn
quốc của Đảng họp ở Tân Trào để đề ra chủ trương
lãnh đạo toàn dân nổi dậy giành chính quyền.
Chiều ngày 16-8-1945, Việt Nam quốc dân Đại hội
đại biểu họp ở Tân Trào (nay gọi là Quốc dân Đại
hội Tân Trào). Đại hội được tiến hành rất khẩn
trương để các đại biểu có thể mang lệnh khởi
nghĩa về các địa phương. Đại hội tán thành chủ
trương của Đảng về tổng khởi nghĩa, thông qua
Nghị quyết về giành chính quyền toàn quốc và 10
chính sách quan trọng.
Theo đề nghị của Tổng bộ Việt Minh, Quốc dân Đại
hội đã quyết định thành lập Ủy ban Giải phóng
dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời, do
đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đại hội quy
định Quốc kỳ là cờ đỏ, giữa có sao vàng năm cánh
và Quốc ca là bài Tiến quân ca. Đại hội giao cho
Chính phủ lâm thời thực hiện 10 chính sách đã
được Đại hội thông qua.
Cùng với việc thông qua 10 chính sách quan trọng
và thành lập Chính phủ lâm thời, Quốc dân Đại
hội nhấn mạnh sự khôn khéo trong quan hệ đối
ngoại, quan hệ với các nước đồng minh để tránh
những điều kiện bất lợi.
Có thể coi Quốc dân Đại hội Tân Trào là mô hình
Quốc hội đầu tiên của nước ta vì những lẽ sau
đây:
- Về vị trí, tính chất: Sự ra đời của
Quốc dân Đại hội Tân Trào đã phản ánh nguyện
vọng đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt
Nam, đáp ứng quyền lợi về dân sinh, dân chủ của
nhân dân ta. Với những quyết định quan trọng của
mình, Quốc dân Đại hội không chỉ đại biểu cho
quyền lợi của cách mạng, mà còn đại diện cho ý
chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước và lợi ích
của dân tộc ta. Điều kiện lịch sử đặc biệt của
dân tộc ta là tiền đề quan trọng cho việc ghi
nhận Quốc dân Đại hội như là cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nhân dân, đại biểu cao
nhất cho ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp
nhân dân trong cả nước trước thời khắc lịch sử
đầy biến động.
- Về chức năng, nhiệm vụ: Việc ban bố 10
chính sách quan trọng của Quốc dân Đại hội Tân
Trào, về thực chất, là sự ban bố luật pháp cách
mạng và có thể được coi như là hoạt động lập
pháp đầu tiên của nước ta. Nếu coi Ủy ban Giải
phóng dân tộc Việt Nam do Quốc dân Đại hội cử ra
như là một Chính phủ lâm thời, thì hoàn toàn có
cơ sở để coi Quốc dân Đại hội là một Quốc hội
lâm thời hay mô hình tiền Quốc hội của nước ta.
- Về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động:
Quốc dân Đại hội Tân Trào gồm hơn 60 đại biểu
của ba miền Bắc, Trung, Nam, đại diện cho các
đảng phái chính trị, đoàn thể quần chúng, dân
tộc, tôn giáo trong cả nước và kiều bào ở nước
ngoài. Tuy chỉ hoạt động trong một thời gian
ngắn, nhưng trình tự tổ chức ra các cơ quan lãnh
đạo của Quốc dân Đại hội vẫn được tiến hành theo
nghi thức của một kỳ họp Quốc hội. Ngoài việc
bầu ra Đoàn Chủ tịch để điều khiển Đại hội, theo
ông Cù Huy Cận, Quốc dân Đại hội còn có Thư ký
đoàn. Diễn biến của Quốc dân Đại hội được Thư ký
đoàn ghi thành biên bản.
Quốc dân Đại hội Tân Trào đã sử dụng hình thức
cơ bản và chủ yếu trong phương thức hoạt động
của Quốc hội, đó là chế độ hội nghị. Các hoạt
động và những quyết định của Quốc dân Đại hội
thực sự biểu thị cho ý chí, nguyện vọng của nhân
dân ta và là hình ảnh của khối đại đoàn kết dân
tộc, đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Việt Minh,
dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm tập trung sức
lực ở thời điểm cực kỳ trọng đại, để đứng lên
giành độc lập, giành chính quyền về tay nhân
dân.
Quốc dân Đại hội Tân Trào là một chủ trương sáng
tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là Hội
nghị Diên Hồng lần thứ 2 trong lịch sử nước ta,
thể hiện lòng tin sắt đá của nhân dân cả nước
đối với Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến.
Cùng với Hội nghị toàn quốc của Đảng, Quốc dân
Đại hội là một mốc son chói lọi, mãi mãi được
ghi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc, là niềm tự
hào của mọi thế hệ người Việt Nam. Bàn về vấn đề
này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: "Quốc
dân Đại hội Tân Trào có ý nghĩa là một Quốc hội
lâm thời, hay một tiền Quốc hội bởi vì cách mạng
chưa thành công. Quốc dân Đại hội tạo căn cứ
pháp lý cho sự ra đời chế độ cộng hòa dân chủ
của nước ta, cho một Chính phủ lâm thời của nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa khi cách mạng đã thành
công. Đại hội thông qua Chương trình 10 điểm
giao cho Ủy ban giải phóng thi hành. Có thể coi
chương trình 10 điểm này như là Hiến pháp lâm
thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa"(5).
Như vậy, kể từ bản Yêu sách của dân An Nam
(1919) đến Quốc dân Đại hội Tân trào (1945), 26
năm trôi qua, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về xây dựng nhà nước pháp quyền đã được cụ thể
hóa từng bước, với những việc làm rất cụ thể, từ
thấp đến cao. Đó là những bước đi phù hợp với
quy luật phát triển của lịch sử và trở thành
những bài học quý giá trong sự nghiệp cách mạng
của dân tộc ta.
Sau Lễ tuyên bố độc lập, vấn đề xây dựng nhà
nước cách mạng kiểu mới đã được Đảng, Chính phủ
lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan
tâm. Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của
Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:
"Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế
cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần
chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân
dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ.
Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề
nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc
TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu.
Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có
quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu
nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v…"(6).
Chưa đầy một tuần lễ sau ngày tuyên bố độc lập,
ngày 8-9-1045, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký Sắc lệnh số
14-SL về cuộc Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội
khóa I.
Sắc lệnh đã khẳng định vai trò và vị trí pháp lý
của Quốc dân Đại hội Tân trào. Sắc lệnh quy
định: sau 2 tháng kể từ ngày ký, cuộc Tổng tuyển
cử bầu Quốc hội sẽ được tiến hành; tất cả công
dân Việt Nam, cả trai và gái từ 18 tuổi trở lên
đều có quyền bầu cử, ứng cử, trừ những người mất
quyền công dân và những người trí óc không bình
thường. Đây là quy định đặc biệt mới và tiến bộ
đối với một đất nước vốn là phong kiến, thuộc
địa vừa giành được độc lập. Sắc lệnh còn quyết
định thành lập ủy ban Dự thảo thể lệ cuộc Tổng
tuyển cử, đồng thời, thành lập ủy ban Khởi thảo
Hiến pháp.
Cuối tháng 12-1945, công việc chuẩn bị cho bầu
cử Quốc hội đã trở nên rất khẩn trương. Các thế
lực phản động ra sức phá hoại cuộc bầu cử, phá
hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Theo
quy định, cuộc bầu cử dự kiến sẽ tiến hành vào
ngày 23-12-1945. Để việc chuẩn bị chu đáo hơn,
nhất là tạo điều kiện để các ứng cử viên nộp đơn
và vận động tranh cử, ngày 18-12-1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký đã ký Sắc lệnh số 76-SL hoãn cuộc
Tổng tuyển cử đến ngày 6-1-1946.
Để làm cho toàn thể quốc dân hiểu rõ tầm quan
trọng của cuộc Tổng tuyển cử đối với vận mệnh
của quốc gia, dân tộc, ngày 31-12-1945, trên Báo
Cứu quốc, số 130, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết
bài "Ý nghĩa của Tổng tuyển cử". Trong bài viết,
Người nêu rõ: "Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn
thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài,
có đức, để gánh vác công việc nước nhà... Do
Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc
hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là
Chính phủ của toàn dân"(7).
Ngày 1-1-1946, Chính phủ lâm thời được cải tổ
thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, có thêm
thành phần của Đảng Việt Quốc và Đảng Việt Cách.
Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 18 thành viên
do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm ngoại
giao. Về chính trị, tuyên bố chính sách của
Chính phủ liên hiệp lâm thời ghi rõ: "Làm cho
cuộc Tổng tuyển cử toàn quốc được mỹ mãn". Ngày
5-1-1946, trong "Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ
phiếu", Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Ngày
mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con
đường mới mẻ... Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa
chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt
cho mình, và gánh vác việc nước"(8).
Cùng với quá trình chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa
đầu tiên, việc tổ chức soạn thảo Hiến pháp cũng
được tiến hành rất khẩn trương. Dự án Hiến pháp
đã được Hội đồng Chính phủ thảo luận và ngày
31-10-945, được Chính phủ quyết định công bố
trên báo và gửi đi các làng, xã để lấy ý kiến
của nhân dân. Ngày 10-11-1945, Bản dự án Hiến
pháp được công bố trên Báo Cứu quốc kèm theo
Thông cáo của Chính phủ.
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 bầu Quốc hội
khóa I đã diễn ra đúng kế hoạch và thắng lợi
trên phạm vi cả nước. Trong 71 tỉnh, thành của
cả nước, có 89% số cử tri đi bỏ phiếu, nhiều nơi
đạt 95%. Cả nước bầu được 333 đại biểu Quốc hội,
trong đó có 87% số đại biểu là công nhân, nông
dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu là phụ nữ
và 34 đại biểu là người các tộc thiểu số.
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946,
bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa, là thắng lợi của tinh thần yêu
nước của toàn thể nhân dân Việt Nam phấn đấu cho
một quốc gia độc lập, thống nhất, vì cuộc sống
hòa bình, tự do, hạnh phúc. Đó là thắng lợi của
chế độ mới, của chính thể dân chủ cộng hòa lần
đầu tiên được thiết lập trên đất nước ta. Đó còn
là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn,
của chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng
Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi của
cuộc Tổng tuyển cử đã chứng minh sự giác ngộ
chính trị của các tầng lớp nhân dân – lần đầu
tiên thực hiện quyền làm chủ đất nước và xã hội
qua lá phiếu bầu ra những đại biểu của mình.
Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I (ngày
2-3-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính
phủ đề nghị Quốc hội mở rộng số đại biểu thêm 70
người không qua bầu cử, dành cho Đảng Việt Cách
20 người và Đảng Việt Quốc 50 người. Quốc hội đã
thông qua đề nghị này để tỏ rõ sự đoàn kết toàn
dân.
Quốc hội đã thông qua Tuyên ngôn của Quốc hội.
Tuyên ngôn của Quốc hội tuyên bố với quốc dân
Việt Nam và nhân dân thế giới rằng: Chủ quyền
của nước Việt Nam độc lập thuộc về toàn thể nhân
dân Việt Nam. Vận mệnh quốc gia Việt Nam là ở
trong tay Quốc hội Việt Nam. Chính thể của nước
Việt Nam là chính thể dân chủ cộng hòa, có nhiệm
vụ bảo vệ tự do và mưu đồ hạnh phúc cho mọi tầng
lớp nhân dân. Quốc hội đã bầu Ban Thường trực để
thay mặt Quốc hội thực hiện nhiệm vụ của Quốc
hội. Ban Thường trực gồm 15 uỷ viên chính thức
và 3 uỷ viên dự khuyết do cụ Nguyễn Văn Tố làm
Trưởng ban. Lá cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ và Quốc
ca là bài Tiến quân ca của Việt Nam.
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử và của kỳ họp
đầu tiên của Quốc hội khóa I cho thấy sự trưởng
thành và lớn mạnh của Nhà nước cách mạng Việt
Nam. Thể thức bầu cử là phổ thông đầu phiếu,
trực tiếp và bí mật (bỏ phiếu kín) là thật sự
dân chủ. Ngay từ buổi đầu mới hình thành, Quốc
hội thực sự là cơ quan quyền lực của toàn thể
quốc dân Việt Nam. Quốc hội đã cử ra Chính phủ
chính thức để thực hiện công việc điều hành đất
nước. Quốc hội thực hiện quyền lập pháp mà nhiệm
vụ trọng tâm là soạn thảo Hiến pháp. Cơ quan
hành pháp là chính phủ do Quốc hội cử ra được
tăng cường cả về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu
tổ chức bộ máy. Đó là chính quyền được xây dựng
trên cơ sở pháp lý vững chắc và được toàn thể
quốc dân ủng hộ.
Mặc dù đã giành được độc lập và xây dựng được
Nhà nước cách mạng của nhân dân, song do sự xâm
lược của thực dân Pháp và sự phá hoại của chủ
nghĩa đế quốc nên nhân dân Việt Nam vẫn phải
tiếp tục sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhiệm vụ
của Quốc hội và Chính phủ là lãnh đạo, tổ chức
sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.
Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I diễn ra ở Thủ
đô Hà Nội từ ngày 28-10 đến ngày 9-11-1946 với
290 đại biểu. Một số đại biểu Nam bộ và Nam
Trung bộ vì công việc kháng chiến nên không về
dự được. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thảo luận
và quyết định nhiều vấn đề đối nội và đối ngoại.
Quốc hội đã bầu ra Chính phủ mới vào ngày
3-11-1946. Chính phủ gồm 14 thành viên, do Chủ
tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Cụ Bùi Bằng Đoàn được
bầu làm Trưởng ban thường trực của Quốc hội.
Ngày 9-11-1946, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ hai
đã biểu quyết thông qua Hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với 240 phiếu tán
thành trong tổng số 242 phiếu. Đây là sự kiện
trọng đại, có ý nghĩa to lớn trong đời sống
chính trị của đất nước ta.
Hoạt động của các kỳ hợp Quốc hội cũng như những
quy định về cơ cấu tổ chức các cơ quan của bộ
máy nhà nước và chính quyền các cấp trong Hiến
pháp mang nội dung và tinh thần dân chủ. Đây là
điều chưa từng xảy ra trước đó ở nước ta. Nhiều
điều trong Hiến pháp mang nội dung dân chủ sâu
sắc, vượt xa thể chế dân chủ của nhiều nước
trong cùng thời điểm lịch sử lúc đó và cả nhiều
năm sau. Chẳng hạn, về quyền bầu cử, ứng cử,
quyền bình đẳng giới, Hiến pháp đã ghi nhận sự
bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ giữa đàn ông và
phụ nữ, giữa các giai cấp, dân tộc, tôn giáo.
Hiến pháp cũng phản ánh trình độ cao của Nhà
nước ta về xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là
đạo luật cơ bản. Sự ra đời của Hiến pháp đã đánh
dấu bước tiến quan trọng trong xây dựng nhà nước
pháp quyền ở nước ta. Đó cũng là cống hiến lớn
lao của Quốc hội khóa I.
Như vậy, từ Quốc dân Đại hội Tân Trào đến sự ra
đời của Quốc hội khóa I là cả một quá trình
chuẩn bị công phu với sự năng động, sáng tạo
trong tư duy chính trị, sự nhạy cảm thời thế và
sự vận dụng tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ
Chí Minh kính mến. Tuy nhiên, theo tư tưởng ban
đầu, Quốc hội khóa I được lập ra là để thông qua
Hiến pháp, không thực hiện nhiệm vụ lập pháp và
không hoạt động thường xuyên. Cũng chính vì vậy,
hoạt động của Quốc hội mang nặng tính nghi thức
hội nghị (với tên gọi là Quốc dân Đại hội). Nghị
viện nhân dân theo quy định của Hiến pháp năm
1946, mà trên thực tế chưa có, là cơ quan quyền
lực được thiết kế theo mô hình nghị viện chung
trên cơ sở có tính toán đến những yêu cầu và đặc
điểm của nước ta lúc đó.
Tiếp sau Quốc dân Đại hội Tân Trào, Quốc hội
khóa I ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt.
Buổi đầu tiên khi mới được bầu ra, cơ cấu tổ
chức và phương thức hoạt động của Quốc hội khóa
I dựa trên cơ sở các sắc lệnh của Chính phủ lâm
thời. Từ đây, Quốc hội mới làm ra Hiến pháp
1946, đặt nền móng pháp lý cho việc tổ chức bộ
máy nhà nước và sự hình thành hệ thống pháp luật
nước ta trong chế độ mới./.
* TS, Phó vụ trưởng Vụ Công tác đại biểu, Văn
phòng Quốc hội
(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000, t1, tr436, 438
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t2, tr270
(4) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2000, t7, tr150
(5) Văn phòng Quốc hội: Quốc dân Đại hội Tân
Trào, Hà Nội, 1995, tr27
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2000, t4, tr8
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t4, tr133
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t4, tr145
Nguồn: http://www.tapchicongsan.org.vn |