Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

QUỐC DÂN ĐẠI HỘI TÂN TRÀO –  MÔ HÌNH QUỐC HỘI ĐẦU TIÊN

VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA QUỐC HỘI KHÓA I

Lê Thanh Vân*

 

Tháng 6-1919, trong Bản yêu sách 8 điểm gửi tới Hội nghị Véc-xây, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đòi thực dân Pháp thực hiện những quyền tự do, dân chủ, bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Một trong những yêu sách đó, là đòi "Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu. Thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật". "Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ"(1). Cũng trong Bản yêu sách này, Nguyễn Ái Quốc nêu bật tư tưởng về nhà nước pháp quyền với đòi hỏi "… Trăm điều phải có thần linh pháp quyền…"(2).

Mặc dù những đòi hỏi chính đáng này không được thực dân Pháp đoái hoài đến, nhưng đó là một tiếng chuông báo hiệu sự trỗi dậy của một dân tộc bị áp bức đang đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách thuộc địa, để lập ra nền tự chủ, với việc tự tổ chức ra nhà nước của mình.

Tư tưởng về một cuộc cách mạng kiểu mới cũng đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu rõ trong tác phẩm "Đường cách mệnh" (1927) là: "Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc"(3). Điều này có thể được coi như cương lĩnh của cách mạng, với mục đích giao quyền cho đông đảo quần chúng nhân dân xây dựng một nhà nước mà tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.

Tháng 5 – 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 để đề ra chủ trương tiến hành cách mạng và thiết lập chính quyền cách mạng. Hội nghị xác định: "Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc. Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra"(4).

Đầu tháng 5-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cao Bằng chuyển về chiến khu Hoàng Hoa Thám, chọn Tân Trào (Tuyên Quang) làm nơi ở và làm việc, để chỉ đạo phong trào cả nước. Lúc này, tình hình cách mạng đã phát triển rộng và xuất hiện những cơ hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức Quốc dân Đại hội.

Giữa tháng 8-1945, Chính phủ Nhật Bản đầu hàng quân Đồng minh. Quân Nhật ở Đông Dương bị tê liệt. Chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang cực độ. Quân đồng minh sắp kéo vào Đông Dương. Thực dân Pháp ráo riết tìm cách quay trở lại. Những điều kiện chủ quan và khách quan đã chín muồi và xuất hiện thời cơ cách mạng. Chớp lấy thời cơ đó, từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào để đề ra chủ trương lãnh đạo toàn dân nổi dậy giành chính quyền.

Chiều ngày 16-8-1945, Việt Nam quốc dân Đại hội đại biểu họp ở Tân Trào (nay gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào). Đại hội được tiến hành rất khẩn trương để các đại biểu có thể mang lệnh khởi nghĩa về các địa phương. Đại hội tán thành chủ trương của Đảng về tổng khởi nghĩa, thông qua Nghị quyết về giành chính quyền toàn quốc và 10 chính sách quan trọng.

Theo đề nghị của Tổng bộ Việt Minh, Quốc dân Đại hội đã quyết định thành lập Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời, do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đại hội quy định Quốc kỳ là cờ đỏ, giữa có sao vàng năm cánh và Quốc ca là bài Tiến quân ca. Đại hội giao cho Chính phủ lâm thời thực hiện 10 chính sách đã được Đại hội thông qua.

Cùng với việc thông qua 10 chính sách quan trọng và thành lập Chính phủ lâm thời, Quốc dân Đại hội nhấn mạnh sự khôn khéo trong quan hệ đối ngoại, quan hệ với các nước đồng minh để tránh những điều kiện bất lợi.

Có thể coi Quốc dân Đại hội Tân Trào là mô hình Quốc hội đầu tiên của nước ta vì những lẽ sau đây:

- Về vị trí, tính chất: Sự ra đời của Quốc dân Đại hội Tân Trào đã phản ánh nguyện vọng đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam, đáp ứng quyền lợi về dân sinh, dân chủ của nhân dân ta. Với những quyết định quan trọng của mình, Quốc dân Đại hội không chỉ đại biểu cho quyền lợi của cách mạng, mà còn đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước và lợi ích của dân tộc ta. Điều kiện lịch sử đặc biệt của dân tộc ta là tiền đề quan trọng cho việc ghi nhận Quốc dân Đại hội như là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân, đại biểu cao nhất cho ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân trong cả nước trước thời khắc lịch sử đầy biến động.

- Về chức năng, nhiệm vụ: Việc ban bố 10 chính sách quan trọng của Quốc dân Đại hội Tân Trào, về thực chất, là sự ban bố luật pháp cách mạng và có thể được coi như là hoạt động lập pháp đầu tiên của nước ta. Nếu coi Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam do Quốc dân Đại hội cử ra như là một Chính phủ lâm thời, thì hoàn toàn có cơ sở để coi Quốc dân Đại hội là một Quốc hội lâm thời hay mô hình tiền Quốc hội của nước ta.

- Về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động: Quốc dân Đại hội Tân Trào gồm hơn 60 đại biểu của ba miền Bắc, Trung, Nam, đại diện cho các đảng phái chính trị, đoàn thể quần chúng, dân tộc, tôn giáo trong cả nước và kiều bào ở nước ngoài. Tuy chỉ hoạt động trong một thời gian ngắn, nhưng trình tự tổ chức ra các cơ quan lãnh đạo của Quốc dân Đại hội vẫn được tiến hành theo nghi thức của một kỳ họp Quốc hội. Ngoài việc bầu ra Đoàn Chủ tịch để điều khiển Đại hội, theo ông Cù Huy Cận, Quốc dân Đại hội còn có Thư ký đoàn. Diễn biến của Quốc dân Đại hội được Thư ký đoàn ghi thành biên bản.

Quốc dân Đại hội Tân Trào đã sử dụng hình thức cơ bản và chủ yếu trong phương thức hoạt động của Quốc hội, đó là chế độ hội nghị. Các hoạt động và những quyết định của Quốc dân Đại hội thực sự biểu thị cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ta và là hình ảnh của khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm tập trung sức lực ở thời điểm cực kỳ trọng đại, để đứng lên giành độc lập, giành chính quyền về tay nhân dân.

Quốc dân Đại hội Tân Trào là một chủ trương sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là Hội nghị Diên Hồng lần thứ 2 trong lịch sử nước ta, thể hiện lòng tin sắt đá của nhân dân cả nước đối với Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến. Cùng với Hội nghị toàn quốc của Đảng, Quốc dân Đại hội là một mốc son chói lọi, mãi mãi được ghi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc, là niềm tự hào của mọi thế hệ người Việt Nam. Bàn về vấn đề này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: "Quốc dân Đại hội Tân Trào có ý nghĩa là một Quốc hội lâm thời, hay một tiền Quốc hội bởi vì cách mạng chưa thành công. Quốc dân Đại hội tạo căn cứ pháp lý cho sự ra đời chế độ cộng hòa dân chủ của nước ta, cho một Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khi cách mạng đã thành công. Đại hội thông qua Chương trình 10 điểm giao cho Ủy ban giải phóng thi hành. Có thể coi chương trình 10 điểm này như là Hiến pháp lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa"(5).

Như vậy, kể từ bản Yêu sách của dân An Nam (1919) đến Quốc dân Đại hội Tân trào (1945), 26 năm trôi qua, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền đã được cụ thể hóa từng bước, với những việc làm rất cụ thể, từ thấp đến cao. Đó là những bước đi phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử và trở thành những bài học quý giá trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

Sau Lễ tuyên bố độc lập, vấn đề xây dựng nhà nước cách mạng kiểu mới đã được Đảng, Chính phủ lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v…"(6).

Chưa đầy một tuần lễ sau ngày tuyên bố độc lập, ngày 8-9-1045, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội khóa I.

Sắc lệnh đã khẳng định vai trò và vị trí pháp lý của Quốc dân Đại hội Tân trào. Sắc lệnh quy định: sau 2 tháng kể từ ngày ký, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội sẽ được tiến hành; tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, ứng cử, trừ những người mất quyền công dân và những người trí óc không bình thường. Đây là quy định đặc biệt mới và tiến bộ đối với một đất nước vốn là phong kiến, thuộc địa vừa giành được độc lập. Sắc lệnh còn quyết định thành lập ủy ban Dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử, đồng thời, thành lập ủy ban Khởi thảo Hiến pháp.

Cuối tháng 12-1945, công việc chuẩn bị cho bầu cử Quốc hội đã trở nên rất khẩn trương. Các thế lực phản động ra sức phá hoại cuộc bầu cử, phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Theo quy định, cuộc bầu cử dự kiến sẽ tiến hành vào ngày 23-12-1945. Để việc chuẩn bị chu đáo hơn, nhất là tạo điều kiện để các ứng cử viên nộp đơn và vận động tranh cử, ngày 18-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký đã ký Sắc lệnh số 76-SL hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 6-1-1946.

Để làm cho toàn thể quốc dân hiểu rõ tầm quan trọng của cuộc Tổng tuyển cử đối với vận mệnh của quốc gia, dân tộc, ngày 31-12-1945, trên Báo Cứu quốc, số 130, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài "Ý nghĩa của Tổng tuyển cử". Trong bài viết, Người nêu rõ: "Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà... Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân"(7).

Ngày 1-1-1946, Chính phủ lâm thời được cải tổ thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, có thêm thành phần của Đảng Việt Quốc và Đảng Việt Cách. Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 18 thành viên do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm ngoại giao. Về chính trị, tuyên bố chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời ghi rõ: "Làm cho cuộc Tổng tuyển cử toàn quốc được mỹ mãn". Ngày 5-1-1946, trong "Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu", Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ... Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước"(8).

Cùng với quá trình chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên, việc tổ chức soạn thảo Hiến pháp cũng được tiến hành rất khẩn trương. Dự án Hiến pháp đã được Hội đồng Chính phủ thảo luận và ngày 31-10-945, được Chính phủ quyết định công bố trên báo và gửi đi các làng, xã để lấy ý kiến của nhân dân. Ngày 10-11-1945, Bản dự án Hiến pháp được công bố trên Báo Cứu quốc kèm theo Thông cáo của Chính phủ.

Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 bầu Quốc hội khóa I đã diễn ra đúng kế hoạch và thắng lợi trên phạm vi cả nước. Trong 71 tỉnh, thành của cả nước, có 89% số cử tri đi bỏ phiếu, nhiều nơi đạt 95%. Cả nước bầu được 333 đại biểu Quốc hội, trong đó có 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu là phụ nữ và 34 đại biểu là người các tộc thiểu số.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, là thắng lợi của tinh thần yêu nước của toàn thể nhân dân Việt Nam phấn đấu cho một quốc gia độc lập, thống nhất, vì cuộc sống hòa bình, tự do, hạnh phúc. Đó là thắng lợi của chế độ mới, của chính thể dân chủ cộng hòa lần đầu tiên được thiết lập trên đất nước ta. Đó còn là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, của chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã chứng minh sự giác ngộ chính trị của các tầng lớp nhân dân – lần đầu tiên thực hiện quyền làm chủ đất nước và xã hội qua lá phiếu bầu ra những đại biểu của mình.

Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I (ngày 2-3-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ đề nghị Quốc hội mở rộng số đại biểu thêm 70 người không qua bầu cử, dành cho Đảng Việt Cách 20 người và Đảng Việt Quốc 50 người. Quốc hội đã thông qua đề nghị này để tỏ rõ sự đoàn kết toàn dân.

Quốc hội đã thông qua Tuyên ngôn của Quốc hội. Tuyên ngôn của Quốc hội tuyên bố với quốc dân Việt Nam và nhân dân thế giới rằng: Chủ quyền của nước Việt Nam độc lập thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam. Vận mệnh quốc gia Việt Nam là ở trong tay Quốc hội Việt Nam. Chính thể của nước Việt Nam là chính thể dân chủ cộng hòa, có nhiệm vụ bảo vệ tự do và mưu đồ hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân. Quốc hội đã bầu Ban Thường trực để thay mặt Quốc hội thực hiện nhiệm vụ của Quốc hội. Ban Thường trực gồm 15 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự khuyết do cụ Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban. Lá cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ và Quốc ca là bài Tiến quân ca của Việt Nam.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử và của kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I cho thấy sự trưởng thành và lớn mạnh của Nhà nước cách mạng Việt Nam. Thể thức bầu cử là phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bí mật (bỏ phiếu kín) là thật sự dân chủ. Ngay từ buổi đầu mới hình thành, Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực của toàn thể quốc dân Việt Nam. Quốc hội đã cử ra Chính phủ chính thức để thực hiện công việc điều hành đất nước. Quốc hội thực hiện quyền lập pháp mà nhiệm vụ trọng tâm là soạn thảo Hiến pháp. Cơ quan hành pháp là chính phủ do Quốc hội cử ra được tăng cường cả về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy. Đó là chính quyền được xây dựng trên cơ sở pháp lý vững chắc và được toàn thể quốc dân ủng hộ.

Mặc dù đã giành được độc lập và xây dựng được Nhà nước cách mạng của nhân dân, song do sự xâm lược của thực dân Pháp và sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc nên nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhiệm vụ của Quốc hội và Chính phủ là lãnh đạo, tổ chức sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I diễn ra ở Thủ đô Hà Nội từ ngày 28-10 đến ngày 9-11-1946 với 290 đại biểu. Một số đại biểu Nam bộ và Nam Trung bộ vì công việc kháng chiến nên không về dự được. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thảo luận và quyết định nhiều vấn đề đối nội và đối ngoại. Quốc hội đã bầu ra Chính phủ mới vào ngày 3-11-1946. Chính phủ gồm 14 thành viên, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Cụ Bùi Bằng Đoàn được bầu làm Trưởng ban thường trực của Quốc hội. Ngày 9-11-1946, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ hai đã biểu quyết thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với 240 phiếu tán thành trong tổng số 242 phiếu. Đây là sự kiện trọng đại, có ý nghĩa to lớn trong đời sống chính trị của đất nước ta.

Hoạt động của các kỳ hợp Quốc hội cũng như những quy định về cơ cấu tổ chức các cơ quan của bộ máy nhà nước và chính quyền các cấp trong Hiến pháp mang nội dung và tinh thần dân chủ. Đây là điều chưa từng xảy ra trước đó ở nước ta. Nhiều điều trong Hiến pháp mang nội dung dân chủ sâu sắc, vượt xa thể chế dân chủ của nhiều nước trong cùng thời điểm lịch sử lúc đó và cả nhiều năm sau. Chẳng hạn, về quyền bầu cử, ứng cử, quyền bình đẳng giới, Hiến pháp đã ghi nhận sự bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ giữa đàn ông và phụ nữ, giữa các giai cấp, dân tộc, tôn giáo. Hiến pháp cũng phản ánh trình độ cao của Nhà nước ta về xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là đạo luật cơ bản. Sự ra đời của Hiến pháp đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta. Đó cũng là cống hiến lớn lao của Quốc hội khóa I.

Như vậy, từ Quốc dân Đại hội Tân Trào đến sự ra đời của Quốc hội khóa I là cả một quá trình chuẩn bị công phu với sự năng động, sáng tạo trong tư duy chính trị, sự nhạy cảm thời thế và sự vận dụng tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến. Tuy nhiên, theo tư tưởng ban đầu, Quốc hội khóa I được lập ra là để thông qua Hiến pháp, không thực hiện nhiệm vụ lập pháp và không hoạt động thường xuyên. Cũng chính vì vậy, hoạt động của Quốc hội mang nặng tính nghi thức hội nghị (với tên gọi là Quốc dân Đại hội). Nghị viện nhân dân theo quy định của Hiến pháp năm 1946, mà trên thực tế chưa có, là cơ quan quyền lực được thiết kế theo mô hình nghị viện chung trên cơ sở có tính toán đến những yêu cầu và đặc điểm của nước ta lúc đó.

Tiếp sau Quốc dân Đại hội Tân Trào, Quốc hội khóa I ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Buổi đầu tiên khi mới được bầu ra, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội khóa I dựa trên cơ sở các sắc lệnh của Chính phủ lâm thời. Từ đây, Quốc hội mới làm ra Hiến pháp 1946, đặt nền móng pháp lý cho việc tổ chức bộ máy nhà nước và sự hình thành hệ thống pháp luật nước ta trong chế độ mới./.


* TS, Phó vụ trưởng Vụ Công tác đại biểu, Văn phòng Quốc hội

(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t1, tr436, 438

(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t2, tr270

(4) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t7, tr150

(5) Văn phòng Quốc hội: Quốc dân Đại hội Tân Trào, Hà Nội, 1995, tr27

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t4, tr8

(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t4, tr133

(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t4, tr145

 

Nguồn: http://www.tapchicongsan.org.vn

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện