|
Quốc hiệu Việt
Nam - Ý chí độc lập, tự do của dân tộc
Chính thức trở thành quốc hiệu từ cách đây gần hai thế kỷ, hai tiếng
"Việt Nam" ngày nay đã được sử dụng phổ
biến, trở nên thiêng liêng và gần gũi. Tuy
nhiên, nguồn gốc, ý nghĩa và nhất là quá
trình hình thành quốc hiệu đó vẫn luôn là
những vấn đề lý thú, hấp dẫn, được nhiều
người quan tâm...
Quan niệm phổ biến từ trước và nhiều kết quả
nghiên cứu gần đây thường khẳng định quốc hiệu
Việt Nam xuất hiện từ đầu thời Nguyễn (năm
1802), bởi vì chính sử của cả nước ta và Trung
Quốc đều ghi nhận cụ thể việc này.
Thực ra, không phải đến tận đầu thời Nguyễn, cái
tên Việt Nam mới xuất hiện và có xuất xứ như
vậy. Tên gọi Việt Nam được biết đến ít nhất từ
thế kỷ 14, thường thấy trong nhiều thư tịch
đương thời: Việt Nam thế chí của Hồ Tông
Thốc, Lịch triều hiến chương loại chí của
Phan Huy Chú, Dư địa chí của Nguyễn Trãi,
Trình tiên sinh quốc ngữ văn của Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Vân đài loại ngữ của Lê Quý
Đôn... Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải cũng
sưu tầm được các văn bia (với niên đại đều trước
thế kỷ 18) có khắc tên gọi Việt Nam,
tại những địa điểm khác nhau ở miền Bắc: bia
chùa Bảo Lâm (năm 1558, Hải Phòng), bia chùa Cam
Lộ (năm 1590, Hà Tây), bia chùa Phúc Thành (năm
1664, Bắc Ninh), bia Thủy Đình Môn (năm 1670,
Lạng Sơn). Tên gọi Việt Nam có lẽ
mang ý nghĩa kết hợp nòi giống và vị trí cư trú
địa lý của dân tộc ta (Việt Nam-nước của người
Việt Nam ở phía Nam), thể hiện niềm tự tôn, tinh
thần độc lập và phủ nhận sự áp đặt, miệt thị của
người Trung Quốc. Tuy nhiên, nó chưa thể trở
thành quốc hiệu vì chưa được các triều đại phong
kiến nước ta tuyên bố hoặc ghi nhận bằng pháp
luật.
Tên gọi Việt Nam lần đầu tiên
chính thức trở thành quốc hiệu của nước ta vào
năm 1804. Nó được xác lập bởi một văn bản pháp
lý quan trọng (chiếu) của Nhà nước
Nguyễn, niên hiệu Gia Long thứ ba (cách đây 201
năm) và đã được thông báo cho nhà Thanh. Trong
Dụ Am văn tập của Phan Huy Ích có chép
nguyên bản bài Tuyên cáo về việc đặt quốc
hiệu mới của vua Gia Long (Nguyễn Ánh) vào
năm 1804, nội dung như sau:
"Xuống chiếu cho thần dân trong thiên hạ đều
biết:
Trẫm nghĩ, xưa nay các bậc đế vương dựng nước,
ắt có đặt quốc hiệu để tỏ sự đổi mới, hoặc nhân
tên đất lúc mới khởi lên, hoặc dùng chữ nghĩa
tốt đẹp, xét trong sử sách chứng cớ đã rõ ràng.
Nước ta: sao chùa Dực, Chân, cõi Việt hùng
cường. Từ lâu đã có tên Văn Lang, Vạn Xuân còn
thô kệch. Đến thời Đinh Tiên Hoàng gọi là Đại Cồ
Việt nhưng người Trung Quốc vẫn gọi là Giao Chỉ.
Từ thời Lý về sau, quen dùng tên An Nam do nhà
Tống phong cho ngày trước. Tuy thế, vận hội dù
có đổi thay nhưng trải bao đời vẫn giữ theo tên
cũ, thực là trái với nghĩa chân chính của việc
dựng nước vậy. Trẫm nối nghiệp xưa, gây dựng cơ
đồ, bờ cõi đất đai rộng nhiều hơn trước. Xem qua
sổ sách, trẫm xét núi sông nên đặt tên tốt để
truyền lâu dài... Ban đổi tên An Nam làm nước
Việt Nam, đã tư sang Trung Quốc biết rõ.
Từ nay trở đi, cõi viêm bang bền vững, tên hiệu
tốt đẹp gọi truyền, ở trong bờ cõi đều hưởng
phúc thanh ninh...".
Trong lịch sử nước ta có một hiện tượng rất thú
vị là quốc hiệu và tên gọi đất nước (quốc danh)
không thống nhất. Chẳng hạn, năm 1054, nhà Lý
đổi quốc hiệu là Đại Việt, quốc
hiệu đó liên tục tồn tại đến hết đời Trần
(1400), thế nhưng chiếu nhường ngôi của Lý Chiêu
Hoàng cho Trần Cảnh ngày 10-1-1226 lại mở đầu
bằng câu: "Nước Nam Việt ta từ lâu đã có
các đế vương trị vì". Nhà Hồ (1400-1407) đổi
quốc hiệu là Đại Ngu (sự yên vui
lớn), nhưng đa số dân chúng vẫn gọi là Đại
Việt, còn người Trung Quốc gọi là
Giao Chỉ. Thế kỷ thứ 15, trong Dư địa
chí, Nguyễn Trãi có viết: "Vua đầu tiên là
Kinh Dương Vương, sinh ra có đức của bậc thánh
nhân, được phong sang Việt Nam làm
tổ Bách Việt", nhưng trong Bình Ngô đại cáo,
ông lại viết: "Như nước Đại Việt
ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu". Đời
Gia Long (1802-1820), quốc hiệu là Việt
Nam, nhưng một bộ phận dân chúng vẫn
quen gọi là Đại Việt, còn người
Trung Quốc và phương Tây thường gọi An
Nam...
Sau khi lên nối ngôi vua Gia Long, vua Minh Mạng
cho đổi quốc hiệu là Đại Nam
(1838), cái tên Việt Nam không còn
thông dụng như trước nữa. Tuy nhiên, từ cuối thế
kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, hai tiếng Việt Nam
được sử dụng trở lại bởi các nhà sử học và chí
sĩ yêu nước, trong nhiều tác phẩm và tên tổ chức
chính trị: Phan Bội Châu viết Việt Nam vong
quốc sử (năm 1905) rồi cùng Cường Để thành
lập Việt Nam Công hiến hội (năm 1908),
Việt Nam Quang phục hội (năm 1912); Phan
Châu Trinh viết Pháp-Việt liên hiệp hậu chi
Tân Việt Nam, Trần Trọng Kim viết Việt
Nam sử lược, Nguyễn Ái Quốc thành lập
Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội
(năm 1925) và Việt Nam độc lập đồng minh hội
(năm 1941)...
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, trao chính
quyền hình thức cho Bảo Đại, Bảo Đại đổi lại
quốc hiệu từ Đại Nam thành
Việt Nam. Ngày 19-8-1945, Cách mạng
Tháng Tám thành công, Bảo Đại thoái vị. Ngày
2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn
Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa. Hiến pháp năm 1946 chính
thức thể chế hóa danh hiệu này. Từ đấy, quốc
hiệu Việt Nam được sử dụng phổ
biến, với đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng, toàn diện
nhất.
QUỐC HUY
Nguồn: http://www.quandoinhandan.org.vn/ |