|
Quyền làm chủ của nhân dân
Trần Bạch Đằng
Năm nay cả nước sôi nổi kỷ niệm 60 năm ngày ra
đời nước Việt Nam mới - nước Việt Nam Dân chủ
cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam- thành quả của cuộc Cách mạng tháng Tám
vĩ đại dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các thiết
chế chính trị- xã hội đầu tiên hợp thành chế độ
mới trong đó có QH cũng nhân dịp này tổ chức kỷ
niệm thành lập của mình.
QH Việt Nam, kể từ khóa đầu tiên được bầu ra
trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng giêng năm
1946 cho đến nay đã kinh qua 11 khóa trong đó có
2 khóa đánh dấu 2 bước ngoặt của lịch sử Việt
Nam hiện đại. Đó là khóa I (1946) thông qua Hiến
pháp đầu tiên, chính thức hóa về mặt pháp lý nhà
nước và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
góp phần tích cực củng cố chính quyền cách mạng
non trẻ, đương đầu thắng lợi với thù trong giặc
ngoài. Đó là Khóa VI (1976) đánh dấu thời kỳ đất
nước hoàn toàn độc lập và thống nhất, cả nước
bắt tay vào việc phục hồi, xây dựng và phát
triển trong hòa bình theo định hướng xã hội chủ
nghĩa sau đại thắng mùa Xuân 1975.
Suốt 60 năm tồn tại và phát triển với tư cách là
bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xét trên
bình diện chính trị, QH đã hoàn tất tốt đẹp sứ
mạng lịch sử của mình- góp phần tích cực xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố chế độ,
động viên toàn dân xông vào cuộc chiến đấu vũ
trang lâu dài, gian khổ, đầy hy sinh vì độc lập,
tự do thống nhất Tổ quốc và sau thắng lợi, xây
dựng, phát triển đất nước. Nhưng với tư cách là
cơ quan quyền lực tối cao hiến định, không phải
lúc nào QH cũng thực hiện được toàn vẹn, đầy đủ
và tốt đẹp vai trò, chức năng của mình. Hoàn
cảnh khách quan của thời chiến khiến QH không
thể hoạt động bình thường. Đó là một lẽ đầy
thuyết phục. Nhưng trong suốt 30 năm trong hòa
bình, trong một đất nước đã thống nhất, hoàn
toàn độc lập, QH vẫn chưa đạt đến ngang tầm của
vai trò và chức năng thì tìm lý lẽ ở đâu?
Kỷ niệm 60 năm QH, tung hô những thành quả đạt
được trong quá khứ là cần thiết nhưng thiết thực
nhất là thì giờ cho QH hiện tại và tương lai.
QH và HĐND các cấp hợp thành hệ thống cơ quan
dân cử thông qua phổ thông đầu phiếu, là đại
diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là
thiết chế nhà nước chủ yếu thông qua đó, nhân
dân thực hiện quyền làm chủ. QH và HĐND các cấp
là cơ quan quyền lực. QH là cơ quan quyền lực
tối cao giữa quyền lập pháp, quyền giám sát tối
cao và quyền quyết định những vấn đề hệ trọng
khác của đất nước.
Nói chung đến nay, vai trò của các cơ quan quyền
lực chưa ngang tầm cần có và phải có, càng xuống
dưới càng lu mờ nếu không muốn nói là hình thức.
Đương nhiên, đi đôi với tình trạng đó, ý chí và
nguyện vọng của nhân dân khó được phát huy, thậm
chí ở nhiều nơi- nếu không nói là phổ biến-
quyền quyết định cao nhất và cuối cùng có liên
quan đến quản lý nhà nước- tôi nhấn mạnh là quản
lý nhà nước- thực chất là cấp ủy Đảng, là Ban
Thường vụ cấp ủy Đảng, tiếp theo đó là các cơ
quan hành pháp. Hiện trạng này là bất bình
thường ở một nước dân chủ pháp quyền thông
thường, càng bất thường hơn ở một nước đã xât
dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa 30 năm nay. Gần đây, ở khóa XI
đương nhiệm của QH và HĐND thành phố Hồ Chí Minh
và vài nơi khác đã có ít nhiều dấu hiệu tích cực
trong thể hiện quyền lực và chức năng pháp định
của mình nhưng chưa có thể nói là đã có sự
chuyển biến căn bản về chất.
Để xây dựng QH và HĐND các cấp đúng như vai trò,
vị trí và chức năng hiến định của nó, có nhiều
công việc phải làm kể cả phải đấu tranh với sức
ì của tư duy cũ, của kiểu làm cũ. Trong phạm vi
hạn hẹp của bài viết, không thể đề cập đến mọi
việc- dù muốn cũng không thể- chỉ xin nêu lên
vài suy nghĩ:
Một là, Cần
đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng.
Đảng là lực lượng chính trị trung tâm giữ vai
trò lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thành
quả đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng trong
cuộc đấu tranh lâu dài vì độc lập, tự do, thống
nhất tổ quốc đã khẳng định vai trò đó. Đảng là
Đảng của giai cấp, đồng thời được dân tộc xem
như Đảng của mình. Trong điều kiện chiến tranh,
bên cạnh vai trò lãnh đạo chính trị, vai trò của
người chính ủy, trên thực tiễn, Đảng còn là
người tổ chức và chỉ huy trực tiếp, người ra
mệnh lệnh, ra quyết định cuối cùng trên mọi lĩnh
vực. Mọi tổ chức chính trị- xã hội- kinh tế- văn
hóa- quân sự là công cụ của Đảng theo đúng nghĩa
bóng và nghĩa đen.
Hoàn cảnh hiện nay đã khác trước. Sau đại thắng
mùa Xuân 1975, đất nước đã hoàn toàn thống nhất,
độc lập tự do, hòa bình và đang trong quá trình
xây dựng theo định hướng xã hội chủ nghĩa tức đã
ở trong trạng thái phát triển bình thường. Đổi
mới tư duy và phương thức lãnh đạo phù hợp với
hoàn cảnh mới là đòi hỏi cấp thiết, là điều kiện
tiên quyết và tất yếu cho cách mạng tiếp tục đi
lên, củng cố chế độ và cho chính cả vai trò lãnh
đạo của Đảng.
Cho đến nay, về cơ bản, tư duy và phương thức
lãnh đạo của Đảng vẫn như thời chiến cộng thêm
vị trí của một Đảng cầm quyền khiến Đảng trở
thành siêu quyền lực, một loại hình của siêu
chính quyền. Các vụ kiện ở Hà Giang, ở Đồ Sơn,
Hải Phòng, các vụ chiếm dụng đất công ở Tây
Ninh, hồ Trị An và rất nhiều nơi khác... đều có
dính dáng đến cấp ủy Đảng, thậm chí cả bằng văn
bản ra mệnh lệnh chính thức hoặc đứng phía sau
các vụ việc đó, đã nói lên điều đó. Thật ra có
thể mở dấu ngoặc để kể vài vụ việc, để thấy rõ
vai trò của Đảng không còn dấu vết nào ở Bình
Thuận với vụ án lâm tặc của Hai Tri. Nhưng dù
sao, một vài hiện tượng trái ngược đó cũng không
làm thay đổi vấn đề đang được đề cập thậm chí
còn là bằng chứng phản diện cho sự bất lực, vô
hiệu lực của chính quyền, của cơ quan quyền lực
là HĐND các cấp ở địa phương, của cả Đoàn ĐBQH.
Đảng là của giai cấp đồng thời được dân tộc xem
là Đảng của mình nhưng bất luận thế nào Đảng chỉ
là một bộ phận của dân tộc, không phải là dân
tộc. Đảng cầm quyền nhưng không phải là chính
quyền, làm chức năng chính quyền. Nhà nước Cộng
hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là của dân, do
dân, vì dân. Các thiết chế hiến định- có thể còn
khiếm khuyết- cũng đủ để nhân dân thông qua đó
thực hiện quyền làm chủ của mình trong đó có QH
và HĐND các cấp- cơ quan quyền lực được nhân dân
ủy quyền qua lá phiếu của mình nếu biết phát huy
nó.
Vai trò lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam đã
được khẳng định qua cuộc đấu tranh lâu dài, vai
trò lãnh đạo của Đảng đã được khẳng định trong
Hiến pháp như mọt nhân tố quyết định hàng đầu
cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đảm bảo
vững chắc cho sự bền vững của chế độ, cho tương
lai của đất nước, dân tộc. Người ta nói, người
lãnh đạo giỏi có thể “bất chiến tự nhiên thành”
nhưng xét cho cùng “bất chiến” tức là “chiến”
thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa sách lược và
chiến lược. Vai trò lãnh đạo của Đảng không phải
là “thiên định” mà phải đấu tranh giành lấy, giữ
lấy. Tuy nhiên, Đảng chỉ là một bộ phận của dân
tộc, thậm chí bộ phận rất nhỏ, một bộ phận của
giai cấp không thể tự mình giành thắng lợi trong
cuộc đấu tranh đó mà phải lôi cuốn toàn thể dân
tộc- có ý thức và thực sự có quyền làm chủ đất
nước, làm chủ số phận của mình, vì lợi ích của
mình. Đảng lãnh đạo đấu tranh vì lợi ích dân tộc
nhưng khổng thể tự cho mình vai trò đại diện cho
toàn dân tộc. Chỉ có Nhà nước CHXHCN Việt Nam
được nhân dân ủy quyền mới có quyền đại diện cho
dân tộc.
Nêu lên vấn đề đổi mới tư duy và phương thức
lãnh đạo của Đảng- đương nhiên bao hàm cả những
cái mới do thực tiễn đòi hỏi của thời hiện tại
và những cái cũ- thuộc về nguyên lý, cũ mà vẫn
mới nhưng bị bỏ qua, cố tình hay quên đi- Tôi
muốn nhấn mạnh hai vấn đề cơ bản: cần chỉnh đốn
lại Đảng như di chúc Bác Hồ đã dạy và cần tôn
trọng và phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân
dân. Các thiết chế quyền lực của nhân dân, trong
đó QH có quyền lực tối cao, phải được tôn trọng
và phát huy. Đảng có luật của Đảng, Nhà nước có
luật của Nhà nước, không thể núp bóng của Đảng
như Bộ trưởng GTVT trong phiên họp của QH mới
đây- thực tế là hạ thấp quyền của QH, đặt Đảng ở
vị trí siêu quyền lực.
Hai là, cần
đổi mới tư duy và phương thức kết cấu thành phần
QH (HĐND các cấp).
Chọn người có tài, có đức- đạo đức cá nhân và
đạo đức chính trị- trong mọi tầng lớp nhân dân
để cử vào QH (HĐND) là những điều kiện hàng đầu
để QH (HĐND) đủ sức thực hiện quyền năng hiến
định và trở thành biểu tượng thực sự của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, là một trong những
nhân tố chủ yếu đảm bảo vai trò lãnh đạo, địa vị
cầm quyền của Đảng.
Người có tài, có đức được nhân dân tín nhiệm có
thể là Đảng viên hay người ngoài Đảng. Trong QH
hiện nay có khoảng 80% đại biểu là Đảng viên.
Nới rộng ra một chút, từ QH, Chính phủ được hình
thành với 100% nhân sự là Đảng viên. Như vậy, có
thể suy ra rằng ở Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam hiện nay, hầu hết nếu không nói là chỉ
có Đảng viên mới có tài, có đức và được nhân dân
tín nhiệm. Đảng viên cũng là công dân. Đảng
viên- qua thử thách, giáo dục và rèn luyện- chắc
chắn không ít người có tài, có đức, để giữ trọng
trách của Nhà nước nhưng chắc chắn cũng còn
không ít người ngoài Đảng như thế được nhân dân
tín nhiệm.
Những con số nói trên là điều đáng suy nghĩ.
Những cái đáng suy nghĩ nhất là liệu hiện trạng
đó có nói lên tính biệt phái, đối nghịch với
tính dân chủ của chế độ, với việc củng cố khối
đại đoàn kết dân tộc, với việc tận dụng và phát
huy tài năng và trí tuệ của toàn dân xây dựng
đất nước.
Vì vậy, cần đổi mới tư duy và phương thức kết
cấu thành phần ĐBQH (HĐND) và mở rộng ra cho cả
nhân sự của các thiết chế Nhà nước.
Ba là, cần
nghiên cứu lộ trình sớm chuyển sinh hoạt định kỳ
của QH có tính “nghiệp dư”, cứ “đến hẹn lại lên”
hiện nay thành QH chuyên nghiệp.
Hiện nay hầu hết ĐBQH là quan chức lãnh đạo cơ
quan Quân Dân chính Đảng từ TƯ đến địa phương,
là các nhân vật lãnh đạo các tổ chức sản xuất,
kinh doanh và sự nghiệp của Nhà nước. Quyền lợi
kinh tế và tương lai sự nghiệp của ĐBQH gắn liền
với cơ quan, đơn vị, địa phương trả lương. Và
đương nhiên các ĐBQH không thể dành thời gian,
vật chất, sức lực và trí tuệ chủ yếu cho nó. Đã
thế, thời gian họp QH hàng năm Xuân thu nhị kỳ
tổng cộng chỉ hai tháng (chỉ vài ngày mỗi quý ở
HĐND). Chúng ta đã chứng kiến những cuộc thảo
luận thiếu chiều sâu, những thái độ tránh né
hoặc im lặng là vàng của không ít đại biểu khi
có việc đụng chạm đến địa phương mình, ngành
mình, đến cấp lãnh đạo của mình dù việc đó rõ
ràng là vi phạm pháp luật, có hại đến lợi ích
chính đáng của nhân dân mà mình được bầu lên
bằng lá phiếu của họ. Có thể là do bệnh quan
liêu và cũng có thể là sợ mất ghế. Như vậy liệu
QH (HĐND) có thể làm tròn chức năng của mình hay
không trong điều kiện như hiện nay- làm ĐBQH
bằng tay trái và vì lợi ích của bản thân, vì cục
bộ địa phương hay không.
Vì vậy, cần sớm chuyển hoạt động QH thành chuyên
nghiệp, thường trực, tách ĐBQH ra khỏi chức năng
quản lý Nhà nước. Nếu muốn xây dựng một Nhà nước
thực sự dân chủ pháp quyền. Việc chuyển đổi sẽ
rất phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian và công
sức vì vậy cần có lộ trình được xác định. Nhưng
trước hết đòi hỏi phải đổi mới tư duy.
Bốn là, cần
kiện toàn tổ chức QH. QH là cơ quan quyền lực
tối cao của đất nước và như bất cứ ở nước nào
theo thể chế nghị viện, trình độ và tài năng của
ĐBQH, nghị sỹ không đồng đều, kiến thức của
ĐBQH, nghị sỹ không thể bao quát được tất cả mọi
vấn đề, mọi lĩnh vực. Ở nước ta dù “nghiệp dư”
như hiện nay hay “chuyên nghiệp” nếu được thiết
lập cũng không tránh khỏi thực tế này.
Vì vậy, kiện toàn tổ chức QH thường xuyên đặt
ra, trong đó trước hết phải kiện toàn các Ủy ban
của QH đủ sức, đủ trình độ, năng lực và quyền
năng để làm tham mưu cho UBTVQH và QH.
Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân số 1+2, ngày 1.1.2006 |