|
Tầm vóc lịch sử của Quốc dân Ðại hội Tân Trào
Ngày 6-1-1946, cử tri cả nước ta lần đầu tiên tham
gia Tổng tuyển cử, bầu đại biểu Quốc hội khóa I.
Tiến tới kỷ niệm 60 năm Quốc hội Việt Nam
(6-1-1946 - 6-1-2006), báo Nhân Dân mở chuyên mục:
"60 năm Quốc hội Việt Nam" nhằm góp phần ôn lại
quá trình hình thành, phát triển, khẳng định những
thành tựu mà Quốc hội Việt Nam đạt được trong 60
năm qua.
Việt Nam là một quốc gia dân tộc có hàng nghìn năm
văn hiến. Quá trình dựng nước và giữ nước đã hun
đúc và phát triển ngày càng sâu sắc ý thức về độc
lập, chủ quyền đất nước và khát vọng tự do. Chủ
tịch Hồ Chí Minh viết: "Nhờ ý chí độc lập và lòng
khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh,
nước Nam đã thắng"(1) các đội quân xâm lược phong
kiến đông mạnh trong lịch sử. Song động lực dân
tộc vĩ đại đó không phải bất cứ lúc nào cũng có
thể khơi dậy và phát động mạnh mẽ được.
Vào giữa thế kỷ 19, chế độ phong kiến Việt Nam đã
suy thoái đến cực điểm. Lợi dụng lá cờ tự do và
bình đẳng, thực dân Pháp đã xâm lược, biến Việt
Nam thành một thuộc địa của chúng. Dưới ách thống
trị hà khắc và tàn bạo của thực dân Pháp, nhân dân
Việt Nam mất hết quyền độc lập, tự do.
Trong bối cảnh lịch sử đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nhận lấy trách nhiệm lịch sử ra đi tìm đường cứu
nước, giải phóng dân tộc. Người nghiên cứu, tiếp
biến và phát triển biện chứng giá trị tư tưởng văn
hóa truyền thống của dân tộc, tinh hoa văn hóa
phương Ðông và phương Tây, đặc biệt lấy chủ nghĩa
Mác - Lê-nin làm nền tảng, đã xây dựng được một hệ
thống quan điểm toàn diện và sáng tạo về lý luận
giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho
nhân dân Việt Nam và tạo lập một thể chế quyền lực
của "quần chúng số nhiều".
Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước
sống ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi đến Hội
nghị hòa bình ở Véc-xai bản yêu sách, trong đó có
yêu cầu đòi cải cách nền pháp lý ở Ðông Dương bằng
cách cho người bản xứ cũng được hưởng những bảo
đảm về mặt pháp luật như người Âu châu, và phải
thay đổi chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các
đạo luật. Ðó là tư tưởng đầu tiên về "thần linh
pháp quyền" của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Từ định hướng tư tưởng chính trị cơ bản đó, Người
đã từng bước đề ra chủ trương đấu tranh để tạo
dựng một thể chế cộng hòa dân chủ ở Việt Nam.
Cuối tháng 1-1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nước
trực tiếp tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh chống
Pháp - Nhật của nhân dân Việt Nam. Nắm vững và
giương cao ngọn cờ độc lập, tự do được xác định
trong cương lĩnh đầu tiên của Ðảng, Hội nghị lần
thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng tháng
5-1941 do Người chủ trì đã quyết định thay đổi
chiến lược cách mạng, khẳng định cách mạng Ðông
Dương lúc bấy giờ là một cuộc "cách mạng dân tộc
giải phóng". Nhiệm vụ đánh Pháp - Nhật không phải
là nhiệm vụ riêng của giai cấp công nhân, nông dân
mà là nhiệm vụ chung của toàn thể nhân dân. Lúc
này không phân biệt công nhân, nông dân, phú nông,
địa chủ, tư sản bản xứ; ai có lòng yêu nước thương
nòi sẽ cùng nhau thống nhất vào mặt trận chung,
đem tiềm lực dân tộc để giành quyền độc lập, tự
do. Mặt trận ấy là Việt Nam độc lập đồng minh gọi
tắt là Việt Minh. Chương trình cứu nước của Việt
Minh nhằm thực hiện hai điều cốt yếu mà toàn thể
đồng bào ta đang mong ước là: "Làm cho nước Việt
Nam được hoàn toàn độc lập, dân Việt Nam được sung
sướng tự do". Sau khi đánh đuổi được Pháp - Nhật
sẽ "thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo
tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của
nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng
của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể
dân tộc"(2). Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa lấy ngọn cờ đỏ ở giữa có ngôi sao vàng năm
cánh làm lá cờ toàn quốc và do "Quốc dân đại hội
cử lên".
Chủ trương thay đổi chiến lược của Hội nghị lần
thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng tháng 5-1941
dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh có ý
nghĩa quyết định đến thành công của cuộc vận động
giải phóng dân tộc từ năm 1941 đến 1945.
Tháng 10-1944, trong bối cảnh chiến tranh thế giới
sắp bước vào giai đoạn kết thúc, thắng lợi sẽ
thuộc về các lực lượng dân chủ chống phát-xít, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho quốc dân đồng bào
thông báo chủ trương triệu tập Ðại hội đại biểu
quốc dân để bầu ra một cơ cấu đại biểu cho sự chân
thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể
quốc dân Việt Nam trước vận hội mới của đất nước.
"Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín,
trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc,
ngoài thì giao thiệp với các hữu bang"(3).
Từ tháng 3-1945 trở đi, một cao trào kháng Nhật,
cứu nước đã phát động mạnh mẽ trong toàn quốc.
Cuộc khởi nghĩa từng phần diễn ra thắng lợi ở
nhiều địa phương. Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt
Minh ra Chỉ thị tổ chức Ủy ban Dân tộc Giải phóng
là hình thức tiền chính phủ, trong đó nhân dân học
tập để tiến lên giành chính quyền cách mạng. Trong
các vùng giải phóng, các căn cứ địa cách mạng thì
tổ chức Ủy ban Nhân dân Cách mạng do dân dùng phổ
thông đầu phiếu hay do đại biểu hội nghị các giới
bầu lên.
Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp từ ngày 15
đến 20-4-1945 cũng thảo luận và đề nghị triệu tập
một cuộc đại biểu đại hội của các giới, các đảng
phái, các thân sĩ toàn quốc để thành lập Ủy ban
Dân tộc Giải phóng Việt Nam và tiến tới thành lập
Chính phủ lâm thời. Ðiều này đã thể hiện rõ tư
tưởng và chủ trương tổ chức Quốc dân Ðại hội của
Chủ tịch Hồ Chí Minh có tầm quan trọng đặc biệt và
được sự nhất trí của Ðảng và của Mặt trận Việt
Minh.
Ðến giữa tháng 8-1945, cao trào kháng Nhật, cứu
nước phát triển đến đỉnh cao. Quân đội phát-xít
Nhật bị quân Ðồng minh đánh bại. Vua Nhật tuyên bố
đầu hàng không điều kiện. Quân Nhật ở Ðông Dương
rệu rã, chính phủ Trần Trọng Kim tê liệt. Quân
Ðồng minh sắp kéo vào Ðông Dương. Thực dân Pháp
ráo riết trở lại xâm lược Ðông Dương. Thời cơ Tổng
khởi nghĩa đã chín muồi.
Hội nghị đại biểu toàn quốc của Ðảng đã kịp thời
họp và quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành
chính quyền trong cả nước, xác lập địa vị làm chủ
nước nhà của nhân dân Việt Nam trước khi quân Ðồng
minh vào Ðông Dương giải giáp quân đội Nhật. Ủy
ban Khởi nghĩa đã ra Quân lệnh cho quân dân toàn
quốc phải đứng lên giành lấy quyền độc lập và phải
hành động cho nhanh, với một tinh thần quả cảm.
Thực hiện tư tưởng nhà nước pháp quyền, kế hoạch
triệu tập đại biểu Quốc dân Ðại hội đã triển khai,
song vì liên lạc khó khăn, giao thông trắc trở,
cho nên nhiều đại biểu chưa thể đến kịp. Tình thế
vô cùng khẩn cấp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cân nhắc
giá trị của thời gian, của mỗi ngày, mỗi giờ trong
lúc đại chuyển biến của thời cuộc. Chậm một ngày,
một giờ tức là bỏ lỡ cơ hội. Vì vậy, Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh thấy không thể chờ
đại biểu đến đầy đủ được, cho nên đã quyết định
khai mạc Ðại hội đại biểu quốc dân ngay từ chiều
16-8-1945 tại đình Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang. Khoảng 60 đại biểu đại diện cho các
đảng phái dân chủ, các Hội Cứu quốc, các tộc ít
người, đại biểu từ Nam Bộ, nam Trung Bộ và Việt
kiều ở Thái-lan, ở Lào đã về dự đại hội. Phần lớn
các đại biểu lần đầu được gặp Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh, vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, được
nghe Người vạch rõ phương châm hành động thắng lợi
trước tình thế mới. Ðồng chí Trường-Chinh, Tổng Bí
thư Ðảng, báo cáo với đại hội về quyết định phát
động Tổng khởi nghĩa và bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải
phóng; đồng chí Hoàng Quốc Việt báo cáo về phong
trào công nhân; đồng chí Trần Ðức Thịnh báo cáo về
phong trào nông dân; đồng chí Nguyễn Ðình Thi báo
cáo về văn hóa cứu quốc; đồng chí Hoàng Ðạo Thúy
báo cáo về Hướng đạo sinh... Ðại hội đã nhất trí
tán thành chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa của
Ðảng và Tổng bộ Việt Minh, thông qua 10 chính sách
lớn về đối nội và đối ngoại, trong đó điểm đầu
tiên là "phải giành lấy chính quyền, xây dựng một
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn
toàn độc lập" và thành lập Ủy ban Dân tộc Giải
phóng Việt Nam gồm 15 thành viên do đồng chí Hồ
Chí Minh làm Chủ tịch, đồng chí Trần Huy Liệu làm
Phó Chủ tịch. Ủy ban Dân tộc Giải phóng cũng như
Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam trước khi
thành lập một Chính phủ chính thức. Ủy ban này
thay mặt quốc dân mà giao thiệp với các nước ngoài
và chủ trì mọi công việc trong nước.
Ðại hội bế mạc ngày 17-8-1945 trong bầu không khí
Tổng khởi nghĩa sục sôi. Các đại biểu khẩn trương
trở về địa phương để lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa
giành chính quyền theo ba nguyên tắc: tập trung,
thống nhất, kịp thời, vì "không phải Nhật bại mà
nước ta tự nhiên được độc lập... Chúng ta phải
khôn khéo và kiên quyết. Khôn khéo để tránh những
sự không lợi cho ta... Kiên quyết để giành cho
được nền hoàn toàn độc lập. Một dân tộc quyết tâm
và nhất trí đòi quyền độc lập thì nhất định được
độc lập. Chúng ta sẽ thắng lợi"(4).
Ngay sau Ðại hội quốc dân, Hồ Chí Minh - Chủ tịch
Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam đã gửi thư kêu
gọi đồng bào cả nước "hãy đứng dậy đem sức ta mà
tự giải phóng cho ta... Chúng ta không thể chậm
trễ". Người cũng đã gửi thư yêu cầu Liên Hợp quốc
thực hiện lời hứa long trọng của mình về quyền
được hưởng dân chủ và độc lập của tất cả dân tộc,
đồng thời cũng gửi thông điệp yêu cầu Chính phủ
Pháp phải công nhận Chính phủ Việt Nam và nêu các
điều kiện về mối quan hệ giữa người Việt Nam và
Pháp. Quốc dân Ðại hội Tân Trào diễn ra khẩn
trương và thắng lợi trong đêm trước của cuộc Tổng
khởi nghĩa là hình ảnh tiêu biểu của khối đại đoàn
kết của dân tộc quyết tâm và nhất trí đứng lên đem
sức ta mà giải phóng cho ta ở một thời điểm thuận
lợi ngàn năm có một, quyết giành cho được độc lập
hoàn toàn.
Cuộc Tổng khởi nghĩa đã nhanh chóng diễn ra thắng
lợi, tiêu biểu là khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài
Gòn. Chính quyền trong cả nước đã thuộc về nhân
dân. Vua Bảo Ðại xin thoái vị để "được làm dân tự
do của một nước độc lập".
Với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, nhân
dân ta đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân
Pháp - Nhật, lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế,
lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền
tảng hoàn toàn độc lập.
Ngày 25-8-1945, Chủ tịch Ủy ban Dân tộc Giải phóng
Hồ Chí Minh đã về Hà Nội. Theo đề nghị của Người,
Ủy ban đã tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một Chính phủ quốc gia
thống nhất. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố "Nước
Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự
thật đã thành một nước tự do, độc lập".
Tổ chức thắng lợi Quốc dân Ðại hội Tân Trào để
quyết định chuyển xoay vận nước bằng cuộc Tổng
khởi nghĩa, thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng có
tính chất như một Chính phủ lâm thời của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa là một điển hình sáng tạo của
Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng cơ sở pháp
quyền đầu tiên cho chế độ dân chủ cộng hòa. Ông
Archimedes L.APatti, một sĩ quan tình báo Mỹ có
mặt ở Việt Nam lúc bấy giờ nhận xét rằng, khi được
tin sự sụp đổ của phát-xít Nhật, Hồ Chí Minh "đã
hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng vì
ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng chân vững
chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng Ông
phải làm cho mọi người thấy rõ được cả tính hợp
pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát
triển phong trào"(5).
Ðại hội Quốc dân Tân Trào "là một tiến bộ rất lớn
trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc ta từ
ngót một thế kỷ nay"(6), mang tầm vóc lịch sử như
một Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cơ
quan quyền lực cao nhất của dân tộc, do dân tộc và
vì dân tộc.
1. Hồ Chí Minh Toàn tập. Sđd. Tập 1, tr80.
2. Ðảng Cộng sản Việt Nam. Sđd. Tập 7, tr 114.
3. Hồ Chí Minh Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia H.
1995. Tập 3, tr 505.
4. Ðảng Cộng sản Việt Nam. Sđd. Tập 7, tr 561.
5. Archimedes L.APatti. Tại sao Việt Nam. Nxb Ðà
Nẵng, 1995, tr 146.
6. Hồ Chí Minh Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia H.
1995. Tập 3, tr 553.
Nguồn: http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/ |