Thực quyền của Quốc hội trong quyết định các vấn
đề kinh tế - tài chính
(Phần 1)
PGS.TS Đặng Văn Thanh
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách
của QH
Yêu cầu của đất
nước đang đòi hỏi phải có sự đổi mới cả về nhận
thức, nội dung, cả về phương pháp và điều kiện
để các quyết định của QH về kinh tế, tài chính,
về ngân sách và chính sách tài khóa thực chất
hơn. Hoạt động giám sát về tình hình KT- XH, về
hoạt động tài chính phải có tác dụng thiết thực,
có hiệu quả, góp phần đổi mới và nâng cao hơn
nữa chất lượng hoạt động của QH, để QH xứng đáng
là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ
quan quyền lực cao nhất của Nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, đáp ứng lòng mong mỏi của
nhân dân cả nước, vì một nước Việt Nam giàu
mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh...
Để QH có thực
quyền và nâng cao chất lượng các quyết định liên
quan đến hoạt đông kinh tế- tài chính cần có
nhận thức đầy đủ và đúng mức về hoạt động kinh
tế- tài chính, đặc biệt là tài chính- ngân sách,
sức mạnh, và nguồn lực của quốc gia và là công
cụ quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Kinh tế
phải tăng trưởng nhanh, bền vững. Tài chính
không chỉ có nhiệm vụ nuôi dưỡng, phát triển,
khai thác các nguồn lực, thúc đẩy, duy trì và
tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập, mà còn
phải quản lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả
mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của đất nước.
Trong nền kinh tế
thị trường, chức năng phân phối thu nhập của tài
chính ngày càng được coi trọng. Phân phối nguồn
lực và thu thập tài chính có chủ định, có căn
cứ, phù hợp mục tiêu của chiến lược phát triển
KT- XH sẽ là yếu tố quyết định cho phát triển
kinh tế bền vững. Chính phủ cần và có thể phải
sử dụng chính sách tài chính, chính sách ngân
sách, chính sách tài khóa để điều tiết kinh tế
vĩ mô; Phát huy chức năng ổn định kinh tế của
tài chính. Trong phạm vi và điều kiện ngân sách
còn hạn hẹp, nhu cầu chỉ tiêu cho KT- XH ngày
càng lớn, việc thực hiện chính sách ngân sách
thắt chặt hay nới lỏng đều đòi hỏi phải có
sự cân nhắc và quyết định rất thông minh, chính
xác, nhưng linh hoạt phù hợp từng giai đoạn phát
triển kinh tế. Chính sách ngân sách thắt chặt
đòi hỏi phải hạn chế bội chi, tiến tới ngân cân
bằng ngân sách, nhưng sẽ chịu áp lực chi ngân
sách quá lớn như hiện nay. Thực hiện chính sách
tài chính nới lỏng cho phép thỏa mãn nhu
cầu chi tiêu bằng vay nợ (phát hành trái phiếu,
công trái,...) mà lãi suất tiền vay sẽ phải trả
bằng chính tiền thu thuế, phí và lệ phí trong
tương lai. Số có thể vay trong nền kinh tế cho
chi tiêu ngân sách nhà nước cũng chỉ là có hạn.
Vì vậy, cần có sự cân nhắc, tính toán thận trọng
mức độ cho phép và thời gian cần thiết của việc
áp dụng chính sách tài chính nới lỏng.
QH có nhiệm vụ và
quyền hạn quyết định các vấn đề kinh tế, các
chính sách kinh tế, chính sách ngân sách, dự
toán ngân sách, từng loại thu, từng lĩnh vực chi
và cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi trả nợ, mức
bội chi ngân sách nhà nước và các nguồn bù đắp
bội chi. Hơn thế nữa, QH phải thảo luận và quyết
định về các chỉ tiêu, các chính sách, các giải
pháp thực hiện nhiệm vụ KT- XH, quyết định
phương án phân bổ ngân sách phù hợp yêu cầu phát
triển KT- XH; Quyết định danh mục các chương
trình dự án Quốc gia, các công trình xây dựng cơ
bản quan trọng đầu tư từ nguồn ngân sách nhà
nước. Đó là nhiệm vụ rất quan trọng, phức tạp;
Một nhiệm vụ vừa mang tính cụ thể, vừa thể hiện
vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thực hiện
tốt, có chất lượng nhiệm vụ này sẽ khẳng định vị
thế và nâng cao trách nhiệm của QH trước nhân
dân, củng cố lòng tin đối với nhân dân về thực
quyền của QH và góp phần lành mạnh hóa nền tài
chính quốc gia. Hơn thế nữa, QH với vị thế là cơ
quan quyền lực cao nhất của nhà nước, người đại
diện của dân, phải thực hiện quyền giám sát
tối cao đối với mọi hoạt động của Nhà nước;
Trong đó có hoạt động kinh tế- tài chính, tính
hiệu quả, tính thực tiễn của các chủ trương,
giải pháp, các chính sách kinh tế, tài chính,
tiền tệ trong đời sống KT- XH; Tình hình chấp
hành ngân sách, chấp hành kỷ luật tài chính, kỷ
luật ngân sách. Chỉ có trên cơ sở giám sát
thường xuyên, liên tục, toàn diện thì QH mới
có đủ căn cứ tin cậy để xem xét, quyết định các
vấn đề kinh tế, phê chuẩn quyết toán ngân sách
nhà nước. Đây là việc khó, phức tạp, nhưng rất
trọng đại của QH, những người thay mặt, chịu
trách nhiệm trước cử tri cả nước trực tiếp xem
xét, đánh giá và phê chuẩn những đồng tiền đã
thu của dân, đã chi dùng cho dân, cho nước không
chỉ vì hôm nay, mà còn vì tương lai, vì sự phát
triển lâu dài, bền vững, trường tồn của quốc
gia, dân tộc. Đó cũng là sự tín nhiệm, tin cậy
và ủy thác của dân, của cử tri cho những đại
biểu của họ ở cơ quan quyền lực cao nhất của nhà
nước.
Nâng cao chất
lượng, hiệu quả và đảm bảo thực quyền của QH
trong các quyết định về kinh tế- tài chính đã và
đang là đòi hỏi bức xúc của đất nước, của nhân
dân, là yêu cầu cấp thiết để tăng cường hiệu
lực, hiệu quả của Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Cần phải chủ động triển khai tích cực, có
hiệu quả một số giải pháp sau:
Phải có sự thống nhất nhận thức về Nhà nước Pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của Việt Nam,
đó là Nhà nước do dân, vì dân, vụ mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh và hiệu đại. Trong hệ thống tổ chức của nhà
nước Việt Nam sự phân công về nhiệm vụ và quyền
hạn giữa cơ quan hành pháp và lập pháp trong
hoạt động kinh tế- tài chính cũng là nhằm mục
đích nâng cao trách nhiệm, tính khách quan trước
các quyết định vì sự tăng trưởng kinh tế, vì một
nền kinh tế, tài chính ổn định, có tiềm lực
mạnh, an toàn và hoạt động có hiệu quả. Cần có
sự hợp tác thực sự, cởi mở, hết lòng giữa các cơ
quan quản lý hành chính nhà nước với các cơ quan
của QH. Đồng thời, phải đảm bảo tính độc lập,
tính khách quan của từng cơ quan trong quá trình
xây dựng, thảo luận, xem xét, thẩm tra báo cáo
tình hình thực hiện nhiệm vụ KT- XH, báo cáo dự
toán, quyết toán ngân sách nhà nước, phương án
phân bổ ngân sách trung ương và quyết định các
chính sách tài chính của đất nước.
Cần hoàn chỉnh và công khai hóa quy trình thảo luận, thẩm tra và cho ý
kiến các báo cáo của Chính phủ về tình hình thực
hiện nhiệm vụ KT- XH, nhiệm vụ tài chính; Lập,
thẩm tra và quyết định dự toán, phương án phân
bổ ngân sách và phê chuẩn quyết toán ngân sách
nhà nước.
Quy trình thảo luận và thẩm tra phải khoa học,
cụ thể; Rõ ràng, minh bạch. Từng công việc, từng
nội dung của quy trình và trách nhiệm của mỗi cơ
quan, mỗi cá nhân phải cụ thể, hợp lý. Quy trình
thảo luận, thẩm tra và quyết định về kinh tế-
tài chính, về ngân sách phải được luạt hóa và
mang tính ràng buộc chặt chẽ. Trong quá trình
thực hiện, nội dung và phương pháp thực hiện quy
trình cần tiếp tục phát triển và hoàn thiện phù
hợp thực tế và có hiệu lực thực sự. Mọi cơ quan
và cá nhân phải tôn trọng triệt để, tuân thủ
nghiêm ngặt quy trình đã được thiết lập và công
bố. Tăng cường việc báo cáo và giải trình của
Chính phủ, của các Bộ ngành trước Ủy ban Kinh tế
và Ngân sách, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban
khác về những vấn đề Quốc hội và cử tri quan
tâm, những vấn đề thuộc trách nhiệm của các
nhân, của đơn vị.
Cần hệ thống hóa và cập nhập chính sách, chế độ mới, cũng như những thông
tin cần thiết về kinh tế, tài chính, những định
mức, tiêu chuẩn làm căn cứ cho việc thẩm tra và
quyết định những vấn đề kinh tế- tài chính.
Kinh tế- Tài chính là những vấn đề nhạy cảm, có
phạm vi tác động rộng và chịu sự chi phối, có
quan hệ chặt chẽ với nhiều chủ trương, chiến
lược, chính sách, có quan hệ trực tiếp hoặc gián
tiếp về lợi ích với mọi chủ thể trong nền kinh
tế. Do đó, cần phải có sự cập nhật về tình hình
kinh tế, xã hội, thông tin về kinh tế tài chính
trong và ngoài nước, nắm bắt một cách có hệ
thống các chính sách, chế độ đã, đang và sẽ có
hiệu lực phục vụ cho việc thẩm tra, đánh giá và
quyết định các vấn đề tổng thể về KT- XH cũng
như từng nội dung cụ thể về từng lĩnh vực kinh
tế, xã hội, về tài chính, ngân sách.
Không thể có các
ý kiến và quyết định các vấn đề kinh tế- tài
chính khi thiếu những thôn tin tin cậy đã được
lượng hóa. Những thông tin đó không thể đơn lẻ,
không thể chỉ có hiện tại, chỉ có trong nước, mà
đó phải là một hệ thống thông tin toàn diện,
được tích lũy, gồm cả thông tin quá khứ, hiện
tại, thông tin dự báo và thông tin trong, ngoài
nước. Cần phải tạo lập các ngân hàng dữ liệu,
các kênh thông tin đa chiều, thỏa mãn các căn cứ
tối thiểu cho các nhận xét, đánh giá và quyết
định.
(Còn nữa)
Nguồn: Báo Người
đại biểu nhân dân số 3, ngày 3.1.2006
|