|
Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) - ngời sáng
tinh thần
"nhất định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ"
(ĐCSVN)-
Đêm 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc
bùng nổ. Sự kiện lịch sử này cách đây đã
trên nửa thế kỷ, nhưng tầm vóc mở đầu cuộc
kháng chiến thần thánh vẫn không phai mờ.
Đã có những phần
tử thực dân cố tình xuyên tạc sự thật, đổ trách
nhiệm làm bùng nổ cuộc chiến tranh cho phía Việt
Nam. Nhưng tất cả những người có lương tri- phía
Việt Nam, phía Pháp và ở các nước khác- đều nhận
rõ sự thật và khẳng định cuộc chiến tranh không
thể tránh khỏi do bọn thực dân hiếu chiến Pháp
quyết tâm dùng vũ lực đặt lại ách thống trị trên
đất nước ta.
Cách mạng Tháng
Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
ra đời, dân tộc ta được độc lập, nhân dân ta
giành được quyền làm chủ vận mệnh của mình.Tuy
nhiên , vào thời điểm từ cuối năm 1945 đến cuối
năm 1946, cách mạng nước ta đứng trước những khó
khăn chồng chất, những thử thách nghiêm trọng.
Nghiêm trọng nhất là trên đất nước ta, cùng lúc
có gần 30 vạn quân đế quốc dưới danh nghĩa Đồng
minh, chiếm đóng các vị trí chiến lược quan
trọng, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội và các thành
phố lớn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một nhân
chứng lịch sử đã viết: "Khó khăn lớn nhất lúc
này là các quân đội nước ngoài từ bốn phương
cùng dồn dập kéo tới. Bọn ở gần, bọn ở xa, chúng
khác nhau về màu da, về tiếng nói, nhưng rất
giống nhau ở dã tâm muốn thôn tính đất nước
chúng ta, muốn đẩy chúng ta trở về cuộc sống nô
lệ".
Trong số các kẻ
thù đế quốc, Đảng ta xác định kẻ thù chính là
thực dân Pháp xâm lược. Được sự đồng loã của Mỹ
và sự hỗ trợ của quân Anh ở miền Nam, ngày
23-9-1945, thực dân Pháp đã gây hấn ở Nam Bộ,
cuộc Kháng chiến Nam Bộ bắt đầu. Xuất phát từ
truyền thống hoà hiếu của dân tộc, từ yêu cầu
hoà bình để xây dựng đất nước, xây dựng chế độ
mới, cùng với tương quan lực lượng hiện thời bất
lợi cho ta, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ
trương hoà hoãn với Pháp. Trong quá trình đấu
tranh ngoại giao, ta phải nhân nhượng một số
quyền lợi kinh tế, văn hoá…, nhưng không bao giờ
xa rời nguyên tắc căn bản là độc lập dân tộc và
thống nhất Tổ quốc. Nếu phía Pháp chấp nhận thì
có hoà hoãn, nếu Pháp bác bỏ , cố tình áp đặt
chế độ thực dân thì hoà hoãn lâm vào bế tắc và
tan vỡ. Bản thân nước Pháp lúc này cũng còn đầy
rẫy khó khăn sau chiến tranh. Cuộc xâm lược ở
Nam Bộ bị tổn thất, kế hoạch đánh nhanh, thắng
nhanh thất bại. Nước Pháp lại chưa có đủ lực
lượng đáp ứng ngay cho cuộc chiến tranh ngày
càng mở rộng ở Việt Nam. Chính điều đó làm cho
một số người thức thời trong giới chính trị,
quân sự Pháp có xu hướng muốn giải quyết cuộc
xung đột Pháp-Việt, giữ quyền lợi của đế quốc
Pháp bằng thương lượng. Hiệp định Sơ bộ
Pháp-Việt được ký kết ngày 6-3-1946 là trong
hoàn cảnh đó.
Hiệp định Sơ bộ
là một thắng lợi của ta, nhưng rõ ràng thắng lợi
này còn hạn chế và không vững chắc. Hai bên đình
chỉ xung đột quân sự. Ta phải chấp nhận cho
15.000 quân Pháp vào miền Bắc và Nam Bộ có trở
về với nước Việt Nam thống nhất hay không còn
tuỳ thuộc vào kết quả cuộc trưng cầu dân ý ở Nam
Bộ.
Sau Hiệp định Sơ
bộ, cuộc đấu tranh vẫn diễn ra quyết liệt. Một
bên là phía Việt Nam đấu tranh thực hiện Hiệp
định, giữ nền hoà bình, bảo vệ thành quả cách
mạng. Một bên là phía thực dân hiếu chiến Pháp
cố tình phá hoại Hiệp định, chuẩn bị cho một
cuộc vũ trang xâm lược mới. Do sự phá hoại của
Pháp mà các cuộc tiếp súc ngoại giao giữa Chủ
tịch Hồ chí Minh và Cao uỷ Pháp Đácgiăngliơ
(ngày 24-3-1946), Hội nghị trù bị Đà Lạt (ngày
19-4-1946), Hội nghị chính thức Phôngtenblô
(tháng 7-1946) đều bị đổ vỡ.
Đến đây, cánh cửa
hoà bình như đã đóng chặt, quan hệ hai nước rất
căng thẳng. Cuộc chiến tranh lớn có thể nổ ra
một sớm một chiều. Để cứu vãn tình thế và giành
thêm thời gian chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến
tranh nếu phải xảy ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp
tục vận động cho một giải pháp hoà bình dù là
tạm thời và mỏng manh. Ngày 14-9-1946, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp
bản Tạm ước ghi nhận cuộc thương thuyết còn tiếp
tục và cuộc đình chiến vẫn giữ nguyên hiện
trạng.
Thực tế, đến đây
khả năng hoà bình hầu như không còn, ta ký Tạm
ước, mục đích chính là để chậm nổ ra cuộc chiến
tranh khó tránh khỏi. Đảng và Chính phủ ta chủ
trương, một mặt thi hành đầy đủ những điều khoản
đã ký kết, tránh khiêu khích quân Pháp, kiên
quyết đấu tranh chống quân Pháp vi phạm thoả
ước, cố giữ trạng thái hoà bình. Mặt khác, tích
cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến.
Thực dân Pháp tuy
ký Tạm ước nhưng liên tiếp vi phạm các điều
khoản đã ký kết.Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, quân
đội Pháp tiến công quân ta và khủng bố nhân dân
rất dã man. Tại miền Bắc, chúng gây ra nhiều vụ
khiêu khích xâm phạm chủ quyền nước ta. Nghiêm
trọng hơn , quân Pháp đánh chiếm thành phố Hải
Phòng, giết hại đồng bào ta. Quân dân Hải Phòng
kiên quyết chiến đấu chống lại hành động gây
chiến này, cuộc xung đột đã xảy ra.
Trước hành động
gây chiến trắng trợn của thực dân Pháp, Chính
phủ ta kiềm chế, dàn xếp để chấm dứt cuộc xung
đột, nhưng không có kết quả. Ngày 23-11-1946,
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân Việt Nam,
nhân dân Pháp và nhân dân thế giới. Người nêu
rõ:"Chính phủ và nhân dân Việt Nam kiên quyết
cộng tác thật thà với người Pháp. Song, phải giữ
chủ quyền của Tổ quốc, cần hy sinh thì cũng kiên
quyết hy sinh".
Những cố gắng của
Chính phủ ta để duy trì hoà bình, ngăn cản cuộc
chiến tranh không được phía Pháp đáp lại. Giữa
tháng 12-1946, bọn thực dân hiếu chiến Pháp đã
xác định kế hoạch đánh chiếm miền Bắc nước ta,
và chúng càng lấn tới. Ngày 17-12, chúng gây ra
nhiều vụ khiêu khích trắng trợn, thảm sát dã man
đồng bào ta ở Hà nội. Ngày 18-12, quân Pháp
chiếm nhiều công sở của ta tại Hà Nội. Cùng
ngày, chỉ huy quân Pháp gửi cho Chính phủ ta hai
bức thư đặt ra yêu cầu như tối hậu thư. Trong
thời điểm hết sức căng thẳng này, Đảng ta khẳng
định:" Sự thật đã chứng minh rằng: thực dân Pháp
ngang nhiên khiêu hấn. Chúng định dùng vũ lực
bắt ta phải nhượng bộ. Nhưng không khi nào ta
chịu. Tạm ước 14-9 là một bước nhân nhượng cuối
cùng.Nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của
nước, là hại quyền lợi cao trọng của dân tộc".
Hội nghị Ban
Thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Vạn Phúc
(nay thuộc thị xã Hà Đông) duới sự chủ toạ của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhận định khả năng hoà
hoãn đã hết và quyết định phát động toàn quốc
kháng chiến. Đêm 19-12 1946, cuộc Toàn quốc
kháng chiến bắt đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời
kêu gọi đồng bào toàn quốc: "Chúng ta thà hy
sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ". Cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược với tinh thần
trên đã giành thắng lợi său chín năm gian lao và
anh dũng.
Đại tá, PGS. TS Vũ Như Khôi
Nguồn: http://dangcongsan.vn/ |