Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) - ngời sáng tinh thần

"nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"

 

(ĐCSVN)- Đêm 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Sự kiện lịch sử này cách đây đã trên nửa thế kỷ, nhưng tầm vóc mở đầu cuộc kháng chiến thần thánh vẫn không phai mờ.

Đã có những phần tử thực dân cố tình xuyên tạc sự thật, đổ trách nhiệm làm bùng nổ cuộc chiến tranh cho phía Việt Nam. Nhưng tất cả những người có lương tri- phía Việt Nam, phía Pháp và ở các nước khác- đều nhận rõ sự thật và khẳng định cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi do bọn thực dân hiếu chiến Pháp quyết tâm dùng vũ lực đặt lại ách thống trị trên đất nước ta.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, dân tộc ta được độc lập, nhân dân ta giành được quyền làm chủ vận mệnh của mình.Tuy nhiên , vào thời điểm từ cuối năm 1945 đến cuối năm 1946, cách mạng nước ta đứng trước những khó khăn chồng chất, những thử thách nghiêm trọng. Nghiêm trọng nhất là trên đất nước ta, cùng lúc có gần 30 vạn quân đế quốc dưới danh nghĩa Đồng minh, chiếm đóng các vị trí chiến lược quan trọng, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một nhân chứng lịch sử đã viết: "Khó khăn lớn nhất lúc này là các quân đội nước ngoài từ bốn phương cùng dồn dập kéo tới. Bọn ở gần, bọn ở xa, chúng khác nhau về màu da, về tiếng nói, nhưng rất giống nhau ở dã tâm muốn thôn tính đất nước chúng ta, muốn đẩy chúng ta trở về cuộc sống nô lệ".

Trong số các kẻ thù đế quốc, Đảng ta xác định kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược. Được sự đồng loã của Mỹ và sự hỗ trợ của quân Anh ở miền Nam, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp đã gây hấn ở Nam Bộ, cuộc Kháng chiến Nam Bộ bắt đầu. Xuất phát từ truyền thống hoà hiếu của dân tộc, từ yêu cầu hoà bình để xây dựng đất nước, xây dựng chế độ mới, cùng với tương quan lực lượng hiện thời bất lợi cho ta, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương hoà hoãn với Pháp. Trong quá trình đấu tranh ngoại giao, ta phải nhân nhượng một số quyền lợi kinh tế, văn hoá…, nhưng không bao giờ xa rời nguyên tắc căn bản là độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Nếu phía Pháp chấp nhận thì có hoà hoãn, nếu Pháp bác bỏ , cố tình áp đặt chế độ thực dân thì hoà hoãn lâm vào bế tắc và tan vỡ. Bản thân nước Pháp lúc này cũng còn đầy rẫy khó khăn sau chiến tranh. Cuộc xâm lược ở Nam Bộ bị tổn thất, kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh thất bại. Nước Pháp lại chưa có đủ lực lượng đáp ứng ngay cho cuộc chiến tranh ngày càng mở rộng ở Việt Nam. Chính điều đó làm cho một số người thức thời trong giới chính trị, quân sự Pháp có xu hướng muốn giải quyết cuộc xung đột Pháp-Việt, giữ quyền lợi của đế quốc Pháp bằng thương lượng. Hiệp định Sơ bộ Pháp-Việt được ký kết ngày 6-3-1946 là trong hoàn cảnh đó.

Hiệp định Sơ bộ là một thắng lợi của ta, nhưng rõ ràng thắng lợi này còn hạn chế và không vững chắc. Hai bên đình chỉ xung đột quân sự. Ta phải chấp nhận cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc và Nam Bộ có trở về với nước Việt Nam thống nhất hay không còn tuỳ thuộc vào kết quả cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ.

Sau Hiệp định Sơ bộ, cuộc đấu tranh vẫn diễn ra quyết liệt. Một bên là phía Việt Nam đấu tranh thực hiện Hiệp định, giữ nền hoà bình, bảo vệ thành quả cách mạng. Một bên là phía thực dân hiếu chiến Pháp cố tình phá hoại Hiệp định, chuẩn bị cho một cuộc vũ trang xâm lược mới. Do sự phá hoại của Pháp mà các cuộc tiếp súc ngoại giao giữa Chủ tịch Hồ chí Minh và Cao uỷ Pháp Đácgiăngliơ (ngày 24-3-1946), Hội nghị trù bị Đà Lạt (ngày 19-4-1946), Hội nghị chính thức Phôngtenblô (tháng 7-1946) đều bị đổ vỡ.

Đến đây, cánh cửa hoà bình như đã đóng chặt, quan hệ hai nước rất căng thẳng. Cuộc chiến tranh lớn có thể nổ ra một sớm một chiều. Để cứu vãn tình thế và giành thêm thời gian chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến tranh nếu phải xảy ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục vận động cho một giải pháp hoà bình dù là tạm thời và mỏng manh. Ngày 14-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Tạm ước ghi nhận cuộc thương thuyết còn tiếp tục và cuộc đình chiến vẫn giữ nguyên hiện trạng.

Thực tế, đến đây khả năng hoà bình hầu như không còn, ta ký Tạm ước, mục đích chính là để chậm nổ ra cuộc chiến tranh khó tránh khỏi. Đảng và Chính phủ ta chủ trương, một mặt thi hành đầy đủ những điều khoản đã ký kết, tránh khiêu khích quân Pháp, kiên quyết đấu tranh chống quân Pháp vi phạm thoả ước, cố giữ trạng thái hoà bình. Mặt khác, tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến.

Thực dân Pháp tuy ký Tạm ước nhưng liên tiếp vi phạm các điều khoản đã ký kết.Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, quân đội Pháp tiến công quân ta và khủng bố nhân dân rất dã man. Tại miền Bắc, chúng gây ra nhiều vụ khiêu khích xâm phạm chủ quyền nước ta. Nghiêm trọng hơn , quân Pháp đánh chiếm thành phố Hải Phòng, giết hại đồng bào ta. Quân dân Hải Phòng kiên quyết chiến đấu chống lại hành động gây chiến này, cuộc xung đột đã xảy ra.

Trước hành động gây chiến trắng trợn của thực dân Pháp, Chính phủ ta kiềm chế, dàn xếp để chấm dứt cuộc xung đột, nhưng không có kết quả. Ngày 23-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và nhân dân thế giới. Người nêu rõ:"Chính phủ và nhân dân Việt Nam kiên quyết cộng tác thật thà với người Pháp. Song, phải giữ chủ quyền của Tổ quốc, cần hy sinh thì cũng kiên quyết hy sinh".

Những cố gắng của Chính phủ ta để duy trì hoà bình, ngăn cản cuộc chiến tranh không được phía Pháp đáp lại. Giữa tháng 12-1946, bọn thực dân hiếu chiến Pháp đã xác định kế hoạch đánh chiếm miền Bắc nước ta, và chúng càng lấn tới. Ngày 17-12, chúng gây ra nhiều vụ khiêu khích trắng trợn, thảm sát dã man đồng bào ta ở Hà nội. Ngày 18-12, quân Pháp chiếm nhiều công sở của ta tại Hà Nội. Cùng ngày, chỉ huy quân Pháp gửi cho Chính phủ ta hai bức thư đặt ra yêu cầu như tối hậu thư. Trong thời điểm hết sức căng thẳng này, Đảng ta khẳng định:" Sự thật đã chứng minh rằng: thực dân Pháp ngang nhiên khiêu hấn. Chúng định dùng vũ lực bắt ta phải nhượng bộ. Nhưng không khi nào ta chịu. Tạm ước 14-9 là một bước nhân nhượng cuối cùng.Nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của nước, là hại quyền lợi cao trọng của dân tộc".

Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Vạn Phúc (nay thuộc thị xã Hà Đông) duới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhận định khả năng hoà hoãn đã hết và quyết định phát động toàn quốc kháng chiến. Đêm 19-12 1946, cuộc Toàn quốc kháng chiến bắt đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào toàn quốc: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược với tinh thần trên đã giành thắng lợi său chín năm gian lao và anh dũng.

Đại tá, PGS. TS Vũ Như Khôi

Nguồn: http://dangcongsan.vn/

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện