Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 

Tổng tuyển cử ngày 6.11.1946, cuộc đấu tranh chính trị, thể hiện ý chí sắt đá

và quyết tâm cách mạng của TƯ Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta

Trần Minh 

Với thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chính quyền đã về tay nhân dân. Nhân dân ta từ đây đã được làm chủ cuộc sống của mình, không phải sống dưới ách đô hộ, thống trị của thực dân, phong kiến. Giành được chính quyền đã khó, nhưng làm thế nào để giữ được chính quyền còn khó hơn. Xác định rõ vấn đề đó, ngay từ những ngày đầu giành được chính quyền, Đảng ta và Bác Hồ vĩ đại đã đặt ra một trong những nhiệm vụ hàng đầu có tính cấp bách của cách mạng lúc bấy giờ là phải tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội- Cơ quan đại biểu, đại diện cao nhất cho quyền lực nhân dân. Chỉ một ngày sau khi tuyên bố nước nhà độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 3.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu vấn đề Tổng tuyển cử bầu Quốc dân Đại hội. Người nói “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống...”.

Trong hoàn cảnh nước nhà mời giành được độc lập, tình hình đất nước vô cùng khó khăn, phức tạp “thù trong, giặc ngoài”. Quân Pháp nấp sau lưng quân Anh, chiếm đóng ở nhiều nơi, gây chiến hòng cướp nước ta một lần nữa. Quân Tưởng kéo vào miền Bắc, quân Anh kéo vào miền Nam để giải giáp quân đội Nhật. Bọn chúng ra sức chống phá Chính quyền cách mạng non trẻ của nhân dân ta. Lực lượng phản động Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh Hội cũng chống phá quyết liệt, tìm mọi cách lật đổi Chính quyền nhân dân, mưu toan lập Chính phủ bù nhìn tay sai cho đế quốc. Tình hình KT- XH đất nước lúc bấy giờ cũng đứng trước những khó khăn, thách thức tưởng chừng không vượt qua nổi. Tình trạng nghèo đói, bệnh tật, tệ nạn xã hội, thất học, dân trí thấp, lạc hậu, đã đặt lên vai chính quyền non trẻ của chúng ta nhiệm vụ hết sức nặng nề. Tất cả những khó khăn đó phải nhanh chóng được giải quyết, để vừa thực hiện tốt việc xây dựng, củng cố chính quyền, vừa bảo vệ, giữ vững chính quyền cách mạng, để thực hiện quyết định đã được Quốc dân Đại hội Tân Trào họp ngày 16- 17.8.1945 thông qua: “Nước Việt Nam sẽ theo Chính thể dân chủ cộng hòa và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân Đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên. Quốc dân Đại hội thay mặt quyền lực tối cao của nhân dân để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp theo đường lối dân chủ cộng hòa, tự do hạnh phúc...”.

Để có cơ sở pháp lý tiến hành Tổng tuyển cử, một tuần sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 8.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 14/SL quyết định tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc dân Đại hội. Trong thời gian tiếp theo, ngày 26.9.1945, Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 39/SL về việc thành lập Ủy ban Dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử, và ngày 17.10.1945 ban hành Sắc lệnh số 51/SL, quy định về thể lệ Tổng tuyển cử, như: Việc định số đại biểu trong toàn quốc, trong từng tỉnh, thành phố theo tỷ lệ dân số, các thủ tục và cách thức bầu cử (lập danh sách cử tri thành lập Ban phụ trách bầu cử, việc khiếu nại trong bầu cử...).

Tư tưởng cốt lõi của các Sắc lệnh về Tổng tuyển cử thể hiện ở nội dung quan trọng là: Quyền bầu cử bình đẳng, phổ thông; Quyền ứng cử là hoàn toàn tự do, dân chủ. Điều 2 của Sắc lệnh số 51/SL đã quy định: tất cả công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ, đều có quyền bầu cử và ứng cử, trừ những người đã bị mất quyền công dân và những người có trí óc không bình thường. Theo Sắc lệnh, công dân không thuộc các trường hợp nói trên, nếu xét thấy có đủ đức tài, có khả năng gánh vác công việc đất nước, thì tự do nộp đơn ứng cử; Chính quyền nhân dân (ở cả Trung ương và địa phương) tạo điều kiện thuận lợi cho công dân nộp đơn ứng cử. Điều 11 của Sắc lệnh quy định cụ thể thời gian, cách thức việc nộp đơn ứng cử: Chậm nhất là 15 ngày trước ngày tổ chức bỏ phiếu, người ứng cử gửi đơn ứng cử cùng với giấy chứng nhận đủ điều kiện ứng cử của UBND địa phương nơi quê quán hoặc nơi cư trú lên UBND tỉnh, thành phố nơi mình xin ra ứng cử. Điều 14 của Sắc lệnh quy định: Chậm nhất là 12 ngày trước ngày bầu cử, UBND tỉnh, thành phố phải niêm yết danh sách những người ứng cử tại các nơi công cộng ở tỉnh lỵ hoặc ở thành phố. Điều 15 của Sắc lệnh cũng quy định: Chậm nhất là 5 ngày trước ngày bầu cử, danh sách những người ứng cử phải gửi đến các UBND làng hay khu phố để niêm yết ngay tại những nơi công cộng. Ngoài ra, Sắc lệnh cũng quy định về việc vận động bầu cử “Được tiến hành tự do, nhưng những cuộc vận động không được trái với nền dân chủ cộng hòa...”, “... những cuộc tuyên truyền vận động có tính cách phương hại đến nền độc lập và trị an đều bị cấm”, “trong việc vận động, người ứng cử có thể dùng riêng một danh sách hay hợp cùng nhiều người khác lập chung một danh sách, có thể lấy danh nghĩa một đoàn thể mà cổ động...”. Để việc vận động bầu cử được tiến hành đúng với quy định, Sắc lệnh đã ghi rõ: “những cuộc hội họp để vận động tuyển cử phải khai cho các UBND địa phương biết trước 24 giờ; Nói rõ địa điểm cuộc họp, mục đích cuộc họp và người chịu trách nhiệm cuộc họp. UBND địa phương sẽ phái người đến kiểm soát cuộc hội họp, có quyền giải tán nếu thấy cuộc họp có tính chất phương hại đến nền độc lập và sự trị an...”. Tiếp đó, Chính phủ lâm thời đã ban hành Sắc lệnh số 71/SL, ngày 2.12.1945, bổ sung quy định về việc cho phép trong những trường hợp do điều kiện giao thông đi lại khó khăn, thì người ứng cử có thể gửi đơn ứng cử ngay cho UBND nơi mình cư trú và yêu cầu UBND đó điện (hoặc báo) cho UBND tỉnh, thành phố nơi mình ra ứng cử, để tạo thuận lợi cho người ứng cử bảo đảm kịp thời gian theo thủ tục quy định. Sau đó, đơn và giấy chứng nhận đủ điều kiện ứng cử sẽ do UBND nơi người ứng cử cư trú chuyển sau đến UBND tỉnh, thành phố.

Theo Sắc lệnh số 51, “thì ngày 25.12.1945 sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử trong toàn cõi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa để bầu đại biểu dự vào Quốc dân Đại hội”. Tuy nhiên, tình hình chính trị- xã hội lúc bấy giờ rất phức tạp, bọn phản động chống phá quyết liệt, thậm chí không ủng hộ Tổng tuyển cử. Để có thêm thời gian thương lượng, thỏa hiệp trong các đảng phái, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, thu hút lực lương ủng hộ Tổng tuyển cử. Mặt khác, để công việc chuẩn bị được chu đáo hơn, tạo điều kiện cho người ứng cử, nhất là những nhân sỹ, trí thức có thời gian nộp đơn ứng cử và thực hiện việc vận động bầu cử, ngày 18.12.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 6.1.1946, và hạn nộp đơn ứng cử được kéo dài đến hết ngày 27.12.1945. Tuy vậy, Sắc lệnh cũng ghi rõ: “những tỉnh nào nhận được chậm Sắc lệnh này, không đủ thời gian để thông tri cho tất cả các làng, thì UBND tỉnh ấy được phép vẫn tổ chức cuộc bầu cử vào ngày 23.12.1945 như đã định”.

Trên cơ sở các quy định của Sắc lệnh về Tổng tuyển cử, công việc chuẩn bị bầu cử theo sự chỉ đạo chặt chẽ và sáng suốt của Đảng và Bác Hồ đã được tiến hành rất khẩn trương, với tinh thần giành dật thời gian, chớp thời cơ, không được chậm chễ. Ngày 31.12.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài viết nêu ý nghĩa và tầm quan trọng của Tổng tuyển cử. Người nói “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể Quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền đi bầu cử...”. Người nhấn mạnh: “Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội”. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó mới thực sự là Chính phủ của toàn dân, Chính phủ đó mới có tiếng nói trên trường Quốc tế...”. 

Báo Người đại biểu nhân dân số 217, ngày 10-11-2005 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện