|
Tổng
tuyển cử ngày 6.11.1946, cuộc đấu tranh chính
trị, thể hiện ý chí sắt đá
và quyết tâm cách
mạng của TƯ Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân
dân ta
Trần Minh
Với thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945
và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa, chính quyền đã về tay nhân dân. Nhân dân ta
từ đây đã được làm chủ cuộc sống của mình, không
phải sống dưới ách đô hộ, thống trị của thực dân,
phong kiến. Giành được chính quyền đã khó, nhưng
làm thế nào để giữ được chính quyền còn khó hơn.
Xác định rõ vấn đề đó, ngay từ những ngày đầu
giành được chính quyền, Đảng ta và Bác Hồ vĩ đại
đã đặt ra một trong những nhiệm vụ hàng đầu có
tính cấp bách của cách mạng lúc bấy giờ là phải
tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử để
bầu Quốc hội- Cơ quan đại biểu, đại diện cao
nhất cho quyền lực nhân dân. Chỉ một ngày sau
khi tuyên bố nước nhà độc lập, khai sinh ra nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa, tại phiên họp đầu
tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 3.9.1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nêu vấn đề Tổng tuyển cử bầu
Quốc dân Đại hội. Người nói “Trước chúng ta đã
bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến
chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên
nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không
được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có
một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ
chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với
chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai
gái 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và ứng
cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng
giống...”.
Trong hoàn cảnh nước nhà mời giành được độc lập,
tình hình đất nước vô cùng khó khăn, phức tạp
“thù trong, giặc ngoài”. Quân Pháp nấp sau lưng
quân Anh, chiếm đóng ở nhiều nơi, gây chiến hòng
cướp nước ta một lần nữa. Quân Tưởng kéo vào
miền Bắc, quân Anh kéo vào miền Nam để giải giáp
quân đội Nhật. Bọn chúng ra sức chống phá Chính
quyền cách mạng non trẻ của nhân dân ta. Lực
lượng phản động Việt Nam Quốc dân đảng và Việt
Nam cách mạng đồng minh Hội cũng chống phá quyết
liệt, tìm mọi cách lật đổi Chính quyền nhân dân,
mưu toan lập Chính phủ bù nhìn tay sai cho đế
quốc. Tình hình KT- XH đất nước lúc bấy giờ cũng
đứng trước những khó khăn, thách thức tưởng
chừng không vượt qua nổi. Tình trạng nghèo đói,
bệnh tật, tệ nạn xã hội, thất học, dân trí thấp,
lạc hậu, đã đặt lên vai chính quyền non trẻ của
chúng ta nhiệm vụ hết sức nặng nề. Tất cả những
khó khăn đó phải nhanh chóng được giải quyết, để
vừa thực hiện tốt việc xây dựng, củng cố chính
quyền, vừa bảo vệ, giữ vững chính quyền cách
mạng, để thực hiện quyết định đã được Quốc dân
Đại hội Tân Trào họp ngày 16- 17.8.1945 thông
qua: “Nước Việt Nam sẽ theo Chính thể dân chủ
cộng hòa và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do
một Quốc dân Đại hội bầu theo lối phổ thông đầu
phiếu cử lên. Quốc dân Đại hội thay mặt quyền
lực tối cao của nhân dân để ấn định cho nước
Việt Nam một Hiến pháp theo đường lối dân chủ
cộng hòa, tự do hạnh phúc...”.
Để có cơ sở pháp lý tiến hành Tổng tuyển cử, một
tuần sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày
8.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số
14/SL quyết định tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc
dân Đại hội. Trong thời gian tiếp theo, ngày
26.9.1945, Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh
số 39/SL về việc thành lập Ủy ban Dự thảo thể lệ
Tổng tuyển cử, và ngày 17.10.1945 ban hành Sắc
lệnh số 51/SL, quy định về thể lệ Tổng tuyển cử,
như: Việc định số đại biểu trong toàn quốc,
trong từng tỉnh, thành phố theo tỷ lệ dân số,
các thủ tục và cách thức bầu cử (lập danh sách
cử tri thành lập Ban phụ trách bầu cử, việc
khiếu nại trong bầu cử...).
Tư tưởng cốt lõi của các Sắc lệnh về Tổng tuyển
cử thể hiện ở nội dung quan trọng là: Quyền bầu
cử bình đẳng, phổ thông; Quyền ứng cử là hoàn
toàn tự do, dân chủ. Điều 2 của Sắc lệnh số
51/SL đã quy định: tất cả công dân Việt Nam từ
18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ, đều có
quyền bầu cử và ứng cử, trừ những người đã bị
mất quyền công dân và những người có trí óc
không bình thường. Theo Sắc lệnh, công dân không
thuộc các trường hợp nói trên, nếu xét thấy có
đủ đức tài, có khả năng gánh vác công việc đất
nước, thì tự do nộp đơn ứng cử; Chính quyền nhân
dân (ở cả Trung ương và địa phương) tạo điều
kiện thuận lợi cho công dân nộp đơn ứng cử. Điều
11 của Sắc lệnh quy định cụ thể thời gian, cách
thức việc nộp đơn ứng cử: Chậm nhất là 15 ngày
trước ngày tổ chức bỏ phiếu, người ứng cử gửi
đơn ứng cử cùng với giấy chứng nhận đủ điều kiện
ứng cử của UBND địa phương nơi quê quán hoặc nơi
cư trú lên UBND tỉnh, thành phố nơi mình xin ra
ứng cử. Điều 14 của Sắc lệnh quy định: Chậm nhất
là 12 ngày trước ngày bầu cử, UBND tỉnh, thành
phố phải niêm yết danh sách những người ứng cử
tại các nơi công cộng ở tỉnh lỵ hoặc ở thành phố.
Điều 15 của Sắc lệnh cũng quy định: Chậm nhất là
5 ngày trước ngày bầu cử, danh sách những người
ứng cử phải gửi đến các UBND làng hay khu phố để
niêm yết ngay tại những nơi công cộng. Ngoài ra,
Sắc lệnh cũng quy định về việc vận động bầu cử
“Được tiến hành tự do, nhưng những cuộc vận động
không được trái với nền dân chủ cộng hòa...”,
“... những cuộc tuyên truyền vận động có tính
cách phương hại đến nền độc lập và trị an đều bị
cấm”, “trong việc vận động, người ứng cử có thể
dùng riêng một danh sách hay hợp cùng nhiều
người khác lập chung một danh sách, có thể lấy
danh nghĩa một đoàn thể mà cổ động...”. Để việc
vận động bầu cử được tiến hành đúng với quy định,
Sắc lệnh đã ghi rõ: “những cuộc hội họp để vận
động tuyển cử phải khai cho các UBND địa phương
biết trước 24 giờ; Nói rõ địa điểm cuộc họp, mục
đích cuộc họp và người chịu trách nhiệm cuộc họp.
UBND địa phương sẽ phái người đến kiểm soát cuộc
hội họp, có quyền giải tán nếu thấy cuộc họp có
tính chất phương hại đến nền độc lập và sự trị
an...”. Tiếp đó, Chính phủ lâm thời đã ban hành
Sắc lệnh số 71/SL, ngày 2.12.1945, bổ sung quy
định về việc cho phép trong những trường hợp do
điều kiện giao thông đi lại khó khăn, thì người
ứng cử có thể gửi đơn ứng cử ngay cho UBND nơi
mình cư trú và yêu cầu UBND đó điện (hoặc báo)
cho UBND tỉnh, thành phố nơi mình ra ứng cử, để
tạo thuận lợi cho người ứng cử bảo đảm kịp thời
gian theo thủ tục quy định. Sau đó, đơn và giấy
chứng nhận đủ điều kiện ứng cử sẽ do UBND nơi
người ứng cử cư trú chuyển sau đến UBND tỉnh,
thành phố.
Theo Sắc lệnh số 51, “thì ngày 25.12.1945 sẽ mở
cuộc Tổng tuyển cử trong toàn cõi nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa để bầu đại biểu dự vào Quốc dân
Đại hội”. Tuy nhiên, tình hình chính trị- xã hội
lúc bấy giờ rất phức tạp, bọn phản động chống
phá quyết liệt, thậm chí không ủng hộ Tổng tuyển
cử. Để có thêm thời gian thương lượng, thỏa hiệp
trong các đảng phái, thực hiện chính sách đại
đoàn kết dân tộc, thu hút lực lương ủng hộ Tổng
tuyển cử. Mặt khác, để công việc chuẩn bị được
chu đáo hơn, tạo điều kiện cho người ứng cử,
nhất là những nhân sỹ, trí thức có thời gian nộp
đơn ứng cử và thực hiện việc vận động bầu cử,
ngày 18.12.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc
lệnh số 76/SL hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày
6.1.1946, và hạn nộp đơn ứng cử được kéo dài đến
hết ngày 27.12.1945. Tuy vậy, Sắc lệnh cũng ghi
rõ: “những tỉnh nào nhận được chậm Sắc lệnh này,
không đủ thời gian để thông tri cho tất cả các
làng, thì UBND tỉnh ấy được phép vẫn tổ chức
cuộc bầu cử vào ngày 23.12.1945 như đã định”.
Trên cơ sở các quy định của Sắc lệnh về Tổng
tuyển cử, công việc chuẩn bị bầu cử theo sự chỉ
đạo chặt chẽ và sáng suốt của Đảng và Bác Hồ đã
được tiến hành rất khẩn trương, với tinh thần
giành dật thời gian, chớp thời cơ, không được
chậm chễ. Ngày 31.12.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã có bài viết nêu ý nghĩa và tầm quan trọng của
Tổng tuyển cử. Người nói “Tổng tuyển cử là một
dịp cho toàn thể Quốc dân tự do lựa chọn những
người có tài, có đức để gánh vác công việc nước
nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn
lo việc nước thì đều có quyền đi bầu cử...”.
Người nhấn mạnh: “Do Tổng tuyển cử mà toàn dân
bầu ra Quốc hội”. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ.
Chính phủ đó mới thực sự là Chính phủ của toàn
dân, Chính phủ đó mới có tiếng nói trên trường
Quốc tế...”.
Báo Người đại biểu nhân dân số 217, ngày
10-11-2005 |