|
Triệu Tạ Luồng –
ĐBQH khóa II:
Trung thành với nhân dân
Nguyễn Quang
“... Nếu
không là đại biểu Quốc hội, là đại biểu của
nhân dân thì mọi công việc Đảng giao, dân
cậy vẫn hoàn thành, nhưng tôi không thể mở
rộng được tầm nhìn như hiện nay và ngay
trong thời gian công tác cũng vậy. Là đại
biểu, thay mặt nhân dân, nhất là dân tộc Dao
trên vùng núi cực Bắc Tổ quốc này, điều quan
trọng đầu tiên là làm cho dân hiểu, dân tin
tưởng vào đường lối lãnh đạo của Nhà nước,
hiểu rõ hiến pháp, pháp luật để dân thực
hiện nghĩa vụ công dân của mình. Qua đó đồng
bào còn tham gia đóng góp ý kiến, phản ánh
những cái đã được, những điều chưa được để
Quốc hội xem xét...”.
Đó là lời bộc
bạch của ông Triệu Tạ Luồng, dân tộc Dao, đại
biểu Quốc hội Khóa 2, thuộc Đoàn đại biểu Quốc
hội tỉnh Hà Giang. Ông sinh năm 1923 tại xã Hồ
Thầu, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, hiện
đang cư trú tại thôn Tân Bình, xã Yên Bình,
huyện Quang Bình, là một huyện mới tách từ huyện
Bắc Quang. 82 tuổi, ông vẫn còn minh mẫn.
Năm 1948, cách
mạng đang dồn sức người, sức người, sức của cho
mặt trận Điện Biên, đó cũng là cơ hội cho bọn
phỉ ở Hoàng Su Phì hoạt động chống phá cách
mạng, trong khi chính quyền cách mạng ở đây còn
non trẻ. Nhân dân xã Hồ Thầu nói riêng và đồng
bào vùng cao nói chung vô cùng cực khổ trước sự
tàn phá của bọn phỉ khi chúng tìm cách vơ vét,
cướp bóc lương thực, hành hạ, tra tấn mọi
người... Ông Luồng đã cùng với một số thanh niên
trong xã tìm sang xã Quảng Nguyên của Bắc Quang
đi theo bộ đội cách mạng. Trong những năm ở bộ
đội, ông đã cùng đơn vị hoạt động chủ yếu tại
các xã thuộc huyện Hoàng Su Phì, bao vây, tiêu
diệt dần lực lượng phỉ ở đây, khống chế không
cho chúng lộng hành trên địa bàn.
Năm 1951 ông được
điều lên làm việc tại Ban Dân vận, huyện Hoàng
Su Phì và cũng là thời gian ông xuống cơ sở thực
hiện “3 cùng” với nhân dân nhiều nhất, bình quân
mỗi tháng tới 25 ngày. Ông tích cực vận động
quần chúng nhân dân tăng gia sản xuất, thực hiện
phong trào “Hũ gạo nuôi quân”, phong trào “Diệt
dốt”... Đây cũng là điều kiện để ông càng hiểu
được tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân
tộc thiểu số trên vùng cao, hiểu rõ những khát
khao tự do, độc lập, quyết tâm theo Bác Hồ, theo
Việt Minh đến cùng.
Năm 1960, khi ông
đang giữ chức Phó Chủ tịch UBND hành chính huyện
Hoàng Su Phì, thì được giới thiệu ra ứng cử đại
biểu Quốc hội và ông đã trúng cử. Năm 1961 ông
được điều lên công tác tại Ban Kiểm tra tỉnh ủy
và là ủy viên BCH tỉnh ủy. Để có đủ trình độ văn
hóa phục vụ cách mạng lâu dài, ông đã theo học
tại Trường Văn hóa, thuộc khu Tự trị Việt Bắc.
Học xong, khi trở lại công tác, ông được điều
động sang làm Phó Ban Dân tộc Tỉnh ủy cho tới
khi nghỉ hưu.
Trong thời gian
làm đại biểu Quốc hội, ông có nhiều kỷ niệm về
những lần đầu tham gia các kỳ họp của Quốc hội,
nhất là được tiếp xúc, trò chuyện với các lãnh
đạo Đảng và Nhà nước. Ông kể: “Cán bộ trung ương
nào cũng đặc biệt quan tâm tới đồng bào dân tộc
vùng cao, bao giờ cũng hỏi thăm sức khỏe, hỏi
thăm cách làm ăn của đồng bào, mong đồng bào
chăm học, chăm làm, đoàn kết, yêu thương nhau để
xây dựng đất nước.” Trong gần 30 năm công tác
của mình, ông đã đi bộ hàng ngàn km đường rừng
để xuống với đồng bào các xã trong huyện.
Kỷ niệm vui sướng
nhất đời ông là được đón Bác Hồ, ngày 26.3.1961
tại Tỉnh ủy Hà Giang, và còn nhớ như in những
lời Bác dạy năm ấy. Rồi ông cũng bảo kỷ niệm đau
buồn nhất, đó là ngày ông theo các đồng chí lãnh
đạo tỉnh Hà Giang về viếng Bác. Ông đứng lặng
sau Chủ tịch UBHC tỉnh Hà Giang Dương Mạc Thạch,
nhìn Bác nằm đó, ông không thể tin rằng bác Hồ
đã đi xã. Chỉ khi nhìn mọi người khóc nức nở,
ông mới thấy ngực áo mình, má mình ướt đẫm từ
lúc nào. Khi được hỏi nguyện vọng, ông cười:
Chỉ mong các vị đại biểu Quốc hội thật mạnh
khỏe, thật trung thành với nhân dân để làm tốt
điều dân tin, Đảng cậy.
Nguồn: Báo Người
đại biểu nhân dân, số 253 |