|
Tư
tưởng Hồ Chí Minh và cội
nguồn quyền lực của Quốc hội
Phạm Văn Hùng
Phó vụ trưởng Vụ Pháp luật - VPQH
Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, quan điểm
về tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước luôn
luôn là vấn đề phức tạp nhất và là nguyên nhân
của những cuộc đấu tranh giữa các lực lượng
trong xã hội . Về vấn đề này, năm 1919, Hồ Chí
Minh đã trình bày trên Báo L’Humanité, cơ quan
ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp:
“Báo L’Humanité ngày 18.6 mới đây đã đăng văn
bản thỉnh cầu của những người An Nam gửi Hội
nghị Hoà Bình đòi ân xá cho tất cả các tù chính
trị người bản xứ, đòi cải cách pháp chế ở Đông
Dương bằng ban hành những đảm bảo cho người bản
xứ cũng như người Âu, đòi tự do cho báo chí, tự
do hội họp và lập hội, tự do dạy học, đòi thay
đổi chế độ sắc lệnh bằng chế độ pháp luật; và
sau cùng đòi có một đoàn đại biểu thường trực
của dân bản xứ, được bầu vào Nghị viện Pháp.
Chúng tôi chỉ có thể coi các yêu sách rất
đúng đắn đó cũng là của chính mình, trong thời
đại mà ý muốn của nhân dân nắm quyền tự quyết”
Như vậy ngay từ thời kỳ đầu tiên khi thực hiện
các biện pháp đấu tranh chính trị ở trên đất
Pháp, quan điểm quyền lực thuộc về nhân dân đã
trở thành mạch suy nghĩ chủ đạo trong tư tưởng
của Hồ Chí Minh. Tiếp đến năm 1926, trong bản
yêu sách gửi Hội vạn quốc, một lần nữa Hồ Chí
Minh lại đề cập tới vấn đề quyền tự quyết của
nhân dân. Trong bản yêu sách này, Hồ Chí Minh và
những người yêu nước khác đã thể hiện quan điểm
nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi xếp đặt
một nền Hiến pháp theo những lý tưởng dân quyền
Tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân còn thể
hiện ở chỗ Hồ Chí Minh đã kiên quyết khước từ
mọi hình thức ưu đãi mang màu sắc quân chủ trong
việc kiến tạo ra một lãnh tụ quốc gia.Tháng
12.1945, tại Hà Nội, 118 Chủ tịch các Uỷ ban
nhân dân và tất cả các giới đại biểu làng xã
công bố một bản kiến nghị: Yêu cầu Cụ Hồ Chí
Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc tổng tuyển
cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn làm
Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà. Đáp lại nguyện vọng của nhân dân, Hồ
Chí Minh đã trả lời: “Tôi là một công dân của
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nên tôi không
vượt khỏi thể lệ của Tổng tuyển cử đã định”.
Ngày 26.2.1945, khi trả lời phỏng vấn của
phóng viên các báo, Hồ Chí Minh đã giải thích rõ
hơn lý do vì sao Người không thể không qua bầu
cử mà trở thành người lãnh đạo quốc gia. Có nhà
báo hỏi: “Thế sao Cụ không ra làm Chủ tịch Việt
Nam, Cụ còn phải ra ứng cử?”. Hồ Chí Minh trả
lời: “Vì tôi không muốn làm vua Lu-y thập tứ”.
Tháng 10.1944, trước tình hình thời cơ giải phóng dân tộc
đang đến gần, việc thành lập các cơ quan nhà
nước như thế nào cho phù hợp đã trở thành vấn đề
quan trọng đặt ra đối với cơ quan lãnh đạo của
Đảng và của nhân dân. Là người đã dày công
nghiên cứu vấn đề này, Hồ Chí Minh đã viết thư
gửi đồng bào và đưa ra phương án rất rõ ràng:
“Chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu
cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí
của toàn thể quốc dân ta. Mà cơ cấu ấy thì phải
do một cuộc toàn quốc đại hội gồm tất cả các
đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc
trong nước bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ
lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công
việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp
với các hữu bang”. Sau này, diễn biến cuộc Cách
mạng tháng Tám đã xảy ra đúng như Người dự kiến.
Ngày 16.8.1945, tại Tân Trào, Đại hội đại biểu
toàn quốc gồm hơn 60 đại biểu đại diện cho các
đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc, các
dân tộc, tôn giáo đã thành lập Uỷ ban dân tộc
giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đại hội
Tân Trào có y nghĩa vô cùng quan trọng như một
hội nghị “ Diên hồng” , một “ tiền Quốc hội "
thay mặt nhân dân quyết định vận mệnh ngàn năm
có một để giành độc lập cho Tổ quốc. Đây chính
là sự thành công đầu tiên chứng minh cho luận
điểm của Hồ Chí Minh: Quyền lực nhà nước dù sơ
khai cũng phải nhận được sự ủy nhiệm của nhân
dân. Không có sự ủy nhiệm của nhân dân thì cách
mạng không thể thành công.
Sau khi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã
giành thắng lợi, Uỷ ban Dân tộc giải phóng được
cải tổ thành Chính phủ lâm thời. Không ai có thể
nghi ngờ về những thành tích to lớn mà Chính phủ
lâm thời đã làm được trong cuộc khởi nghĩa ấy và
những ngày đầu tiên của chính quyền cách mạng;
Không ai có thể nghi ngờ về vai trò đại diện cho
nhân dân Việt Nam của Chính phủ lâm thời nhưng
dường như Hồ Chí Minh chưa thật yên tâm nếu để
kéo dài tình trạng điều hành đất nước bằng thiết
chế Chính phủ lâm thời. Tại thời điểm quan trọng
này, tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân một
lần nữa lại được Hồ Chí Minh thể hiện một cách
sáng tạo trong việc chỉ đạo thành lập một Chính
phủ chính thức để kịp thời giải quyết các công
việc đối nội và đối ngoại của đất nước. Chính vì
vậy mà tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm
thời (ngày 3.9.1945), một trong những công việc
khẩn cấp mà Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ phải
tập trung giải quyết là vấn đề bầu cử Quốc hội.
Người nói: “Chúng ta phải có một Hiến pháp dân
chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng
hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu
phiếu”
Tư tưởng Hồ Chí Minh- vấn đề nhân dân nắm quyền
tự quyết đã được hình thành rất sớm và ngày càng
được phát triển phong phú thông qua các hoạt
động chỉ đạo thực tiễn cách mạng. Có thể nói
việc thành lập Quốc hội đầu tiên của nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà là kết quả tất yếu của tư
tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề quyền lực thuộc về
nhân dân. Quyền lực nhà nước của Quốc hội không
phải tự Quốc hội định ra cho mình mà là do nhân
dân ủy quyền.
Quốc hội phải do toàn dân bầu ra theo nguyên tắc
dân chủ
Do hoàn cảnh lịch sử, việc thành lập Quốc hội ở
Việt Nam muộn hơn Nghị viện nhiều nước trên thế
giới. Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm quyền
lực thuộc về nhân dân cho nên trong nhiều tác
phẩm và bài viết, Hồ Chí Minh cho rằng trong
cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội càng nhiều cử
tri tham gia bỏ phiếu càng tốt. Do không đơn
giản chỉ là vấn đề trực tiếp thực hiện quyền lực
của nhân dân mà còn là biểu hiện sinh động của
một hình thức đấu tranh chính trị chống lại âm
mưu của các thế lực thù địch.Trong một số bài
viết trước ngày Tổng tuyển cử đầu tiên ( ngày
6.1.1946), Hồ Chí Minh cho rằng: “Một lá
phiếu cũng có sức lực như một viên đạn”, “hễ
là công dân thì đều có quyền đi bầu cử”; “
Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là
dân chủ, đoàn kết ”. Năm 1953 trong các bài
viết về Thường thức chính trị đăng trên
báo Cứu quốc Hồ Chí Minh tiếp tục đề cập
đến vấn đề quyền bầu cử của nhân dân. Người viết:
“Trong các cuộc bầu cử, công dân Việt Nam từ
18 tuổi trở lên, không phân biệt gái, trai, tôn
giáo, mức tài sản, trình độ văn hoá, không phân
biệt nòi giống đều có quyền tham gia. Đó là một
cách rất hợp lý để nhân dân lao động thực hành
quyền thống trị của mình”.
Một vấn đề đặt ra là việc Hồ Chí Minh quan niệm
mở rộng sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân
vào công việc bầu cử và ứng cử liệu có ảnh hưởng
gì tới tích chất giai cấp của chính quyền hay
không? Đặt ra câu hỏi này, bởi lẽ theo quan điểm
của Chủ nghĩa Mác-Lênin, khái niệm nhân dân là
một khái niệm mang bản chất giai cấp. Việc quan
niệm những đối tượng nào là nhân dân phụ thuộc
vào đặc điểm tình hình cụ thể của cách mạng mỗi
nước. Ở nước Nga, trên thực tế sau cách mạng
Tháng Mười đã không có chỗ đứng cho giai cấp địa
chủ, quý tộc trong chính trị. Hiến pháp 1936 của
Liên Xô (cũ) quy định: Liên bang Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa xô viết là một Nhà nước xã hội chủ
nghĩa của công nhân và nông dân. Toàn bộ chính
quyền ở Liên Xô thuộc về những người lao động ở
thành thị và nông thôn, do các đại biểu lao động
thay mặt. Như vậy, quan niệm về nhân dân trong
Nhà nước Liên Xô là khá thuần khiết dựa trên
việc xác định hình thức sở hữu của người lao
động (tài sản nhà nước hoặc tài sản hợp tác xã
và nông trường tập thể). Sau Cách mạng Tháng Tám
và suốt cả trong thời kỳ chống Pháp do thực tiễn
Việt Nam có những đặc điểm riêng cho nên quan
niệm về nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất
cởi mở. Người cho rằng: “Nhân dân là bốn giai
cấp công, nông, tiểu tư sản dân tộc và những
phần tử khác yêu nước. Đó là nền tảng của quốc
dân”. Nhưng quan niệm về nhân dân trong tư
tưởng Hồ Chí Minh cũng không “bao la” đến
mức bất kỳ ai sống trên đất nước Việt Nam đều có
quyền lợi như nhân dân, không phân biệt ranh
giới bản chất giai cấp. Theo Hồ Chí Minh: “Những
bọn phản động chưa đến nỗi xử tử vẫn là quốc dân.
Nhưng chúng không được ở trong địa vị nhân dân.
Chúng không có quyền tuyển cử, ứng cử , không có
quyền tổ chức tuyên truyền… song chúng cần phải
làm tròn nghĩa vụ, như phục tùng trật tự, tuân
theo pháp luật của nhân dân” .
Quan niệm của Hồ Chí Minh về việc mở rộng cho mọi tầng lớp
nhân dân tham gia bầu cử Quốc hội có ý nghĩa
cực kỳ quan trọng trong việc củng cố chính quyền
nhân dân. Quan niệm đó một mặt vẫn giữ được bản
chất giai cấp của Nhà nước ta là Nhà nước của
giai cấp công nhân, mặt khác, phúc đáp được yêu
cầu của Cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đó là
phải thực hiện đại đoàn kết dân tộc để chống thù
trong giặc ngoài, thực hiện thắng lợi sự nghiệp
kháng chiến, kiến quốc. Do có những quan niệm
đúng đắn về vấn đề bầu cử của Hồ Chí Minh và
dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta,
trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên ngày
6.1.1946 có 89% tổng số cử tri đi bỏ phiếu.
Trong hoàn cảnh thực dân Pháp đã phát động cuộc
chiến tranh xâm lược ở miền Nam và sự chống đối
của các thế lực thù địch ngày càng gia tăng ở
miền Bắc thì kết quả của cuộc Tổng tuyển cử đầu
tiền thật là một kỳ tích, khẳng định được sức
mạnh to lớn của chính quyền nhân dân.
Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân số 209, ngày 01-11-2005 |