Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh và cội nguồn quyền lực của Quốc hội

Phạm Văn Hùng

Phó vụ trưởng Vụ Pháp luật - VPQH

Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, quan điểm về tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước luôn luôn là vấn đề phức tạp nhất và là nguyên nhân của những cuộc đấu tranh giữa các lực lượng trong xã hội . Về vấn đề này, năm 1919, Hồ Chí Minh đã trình bày trên  Báo L’Humanité, cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp: Báo L’Humanité ngày 18.6 mới đây đã đăng văn bản thỉnh cầu của những người An Nam gửi Hội nghị Hoà Bình đòi ân xá cho tất cả các tù chính trị người bản xứ, đòi cải cách pháp chế ở Đông Dương bằng ban hành những đảm bảo cho người bản xứ cũng như người Âu, đòi tự do cho báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do dạy học, đòi thay đổi chế độ sắc lệnh bằng chế độ pháp luật; và sau cùng đòi có một đoàn đại biểu thường trực của dân bản xứ, được bầu vào Nghị viện Pháp. Chúng tôi chỉ có thể coi các yêu sách rất đúng đắn đó cũng là của chính mình, trong thời đại mà ý muốn của nhân dân nắm quyền tự quyết

Như vậy ngay từ thời kỳ đầu tiên khi thực hiện các biện pháp đấu tranh chính trị ở trên đất Pháp, quan điểm quyền lực thuộc về nhân dân đã trở thành mạch suy nghĩ chủ đạo trong tư tưởng của Hồ Chí Minh. Tiếp đến năm 1926, trong bản yêu sách gửi Hội vạn quốc, một lần nữa Hồ Chí Minh lại đề cập tới vấn đề quyền tự quyết của nhân dân. Trong bản yêu sách này, Hồ Chí Minh và những người yêu nước khác đã thể hiện quan điểm nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi xếp đặt một nền Hiến pháp theo những lý tưởng dân quyền

Tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân còn thể hiện ở chỗ Hồ Chí Minh đã kiên quyết khước từ mọi hình thức ưu đãi mang màu sắc quân chủ trong việc kiến tạo ra một lãnh tụ quốc gia.Tháng 12.1945, tại Hà Nội, 118 Chủ tịch các Uỷ ban nhân dân và tất cả các giới đại biểu làng xã công bố một bản kiến nghị: Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn làm Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đáp lại nguyện vọng của nhân dân, Hồ Chí Minh đã trả lời: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nên tôi không vượt khỏi thể lệ của Tổng tuyển cử đã định”. Ngày 26.2.1945, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên các báo, Hồ Chí Minh đã giải thích rõ hơn lý do vì sao Người không thể không qua bầu cử mà trở thành người lãnh đạo quốc gia. Có nhà báo hỏi: “Thế sao Cụ không ra làm Chủ tịch Việt Nam, Cụ còn phải ra ứng cử?”. Hồ Chí Minh trả lời: “Vì tôi không muốn làm vua Lu-y thập tứ”.

 Tháng 10.1944, trước tình hình thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần, việc thành lập các cơ quan nhà nước như thế nào cho phù hợp đã trở thành vấn đề quan trọng đặt ra đối với  cơ quan lãnh đạo của Đảng và của nhân dân. Là người đã dày công nghiên cứu vấn đề này, Hồ Chí Minh đã viết thư gửi đồng bào và đưa ra phương án rất rõ ràng: “Chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta. Mà cơ cấu ấy thì phải do một cuộc toàn quốc đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”. Sau này, diễn biến cuộc Cách mạng tháng Tám đã xảy ra đúng như Người dự kiến. Ngày 16.8.1945, tại Tân Trào, Đại hội đại biểu toàn quốc gồm hơn 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc, các dân tộc, tôn giáo đã thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đại hội Tân Trào có y nghĩa vô cùng quan trọng như  một hội nghị “ Diên hồng” , một “ tiền Quốc hội " thay mặt nhân dân quyết định vận mệnh ngàn năm có một để giành độc lập cho Tổ quốc. Đây chính là sự thành công đầu tiên chứng minh cho luận điểm của Hồ Chí Minh: Quyền lực nhà nước dù sơ khai cũng phải nhận được sự ủy nhiệm của nhân dân. Không có sự ủy nhiệm của nhân dân thì cách mạng không thể thành công.

Sau khi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã giành thắng lợi, Uỷ ban Dân tộc giải phóng được cải tổ thành Chính phủ lâm thời. Không ai có thể nghi ngờ về những thành tích to lớn mà Chính phủ lâm thời đã làm được trong cuộc khởi nghĩa ấy và những ngày đầu tiên của chính quyền  cách mạng; Không ai có thể nghi ngờ về vai trò đại diện cho nhân dân Việt Nam của Chính phủ lâm thời nhưng dường như Hồ Chí Minh chưa thật yên tâm nếu để kéo dài tình trạng điều hành đất nước bằng thiết chế Chính phủ lâm thời. Tại thời điểm quan trọng này, tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân một lần nữa lại được Hồ Chí Minh thể hiện một cách sáng tạo trong việc chỉ đạo thành lập một Chính phủ chính thức để kịp thời giải quyết các công việc đối nội và đối ngoại của đất nước. Chính vì vậy mà tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3.9.1945), một trong những công việc khẩn cấp mà Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ phải tập trung giải quyết là vấn đề bầu cử Quốc hội. Người nói: “Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”

 Tư tưởng Hồ Chí Minh- vấn đề nhân dân nắm quyền tự quyết đã được hình thành rất sớm và ngày càng được phát triển phong phú thông qua các hoạt động chỉ đạo thực tiễn cách mạng. Có thể nói việc thành lập Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là kết quả tất yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề quyền lực thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước của Quốc hội không phải tự Quốc hội định ra cho mình mà là do nhân dân ủy quyền.

Quốc hội phải do toàn dân bầu ra theo nguyên tắc dân chủ

Do hoàn cảnh lịch sử, việc thành lập Quốc hội ở Việt Nam muộn hơn Nghị viện nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, xuất phát từ  quan điểm quyền lực thuộc về nhân dân cho nên trong nhiều tác phẩm và bài viết, Hồ Chí Minh cho rằng trong cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội càng nhiều cử tri tham gia bỏ phiếu càng tốt. Do không đơn giản chỉ là vấn đề trực tiếp thực hiện quyền lực của nhân dân mà còn là biểu hiện sinh động của một hình thức đấu tranh chính trị chống lại âm mưu của các thế lực thù địch.Trong một số bài viết trước ngày Tổng tuyển cử đầu tiên ( ngày 6.1.1946), Hồ Chí Minh cho rằng: “Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn”, “hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử”; “  Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ, đoàn kết ”. Năm 1953 trong các bài viết về Thường thức chính trị đăng trên báo Cứu quốc Hồ Chí Minh tiếp tục đề cập đến vấn đề quyền bầu cử của nhân dân. Người viết: “Trong các cuộc bầu cử, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái, trai, tôn giáo, mức tài sản, trình độ văn hoá, không phân biệt nòi giống đều có quyền tham gia. Đó là một cách rất hợp lý để nhân dân lao động thực hành quyền thống trị của mình”.

Một vấn đề đặt ra là việc Hồ Chí Minh quan niệm mở rộng sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân vào công việc bầu cử và ứng cử liệu có ảnh hưởng gì tới tích chất giai cấp của chính quyền hay không? Đặt ra câu hỏi này, bởi lẽ theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, khái niệm nhân dân là một khái niệm mang bản chất giai cấp. Việc quan niệm những đối tượng nào là nhân dân phụ thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể của cách mạng mỗi nước. Ở nước Nga, trên thực tế sau cách mạng Tháng Mười đã không có chỗ đứng cho giai cấp địa chủ, quý tộc trong chính trị. Hiến pháp 1936 của Liên Xô (cũ) quy định: Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa xô viết là một Nhà nước xã hội chủ nghĩa của công nhân và nông dân. Toàn bộ chính quyền ở Liên Xô thuộc về những người lao động ở thành thị và nông thôn, do các đại biểu lao động thay mặt. Như vậy, quan niệm về nhân dân trong Nhà nước Liên Xô là khá thuần khiết dựa trên việc xác định hình thức sở hữu của người lao động (tài sản nhà nước hoặc tài sản hợp tác xã và nông trường tập thể). Sau Cách mạng Tháng Tám và suốt cả trong thời kỳ chống Pháp do thực tiễn Việt Nam có những đặc điểm riêng cho nên quan niệm về nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất cởi mở. Người cho rằng: “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước. Đó là nền tảng của quốc dân”. Nhưng quan niệm về nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không “bao la” đến mức bất kỳ ai sống trên đất nước Việt Nam đều có quyền lợi như nhân dân, không phân biệt ranh giới bản chất giai cấp. Theo Hồ Chí Minh: “Những bọn phản động chưa đến nỗi xử tử vẫn là quốc dân. Nhưng chúng không được ở trong địa vị nhân dân. Chúng không có quyền tuyển cử, ứng cử , không có quyền tổ chức tuyên truyền… song chúng cần phải làm tròn nghĩa vụ, như phục tùng trật tự, tuân theo pháp luật của nhân dân” .

Quan niệm của Hồ Chí Minh về việc mở rộng cho mọi tầng lớp nhân dân tham gia bầu cử  Quốc hội có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc củng cố chính quyền nhân dân. Quan niệm đó một mặt vẫn giữ được bản chất giai cấp của Nhà nước ta là Nhà nước của giai cấp công nhân, mặt khác, phúc đáp được yêu cầu của Cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đó là phải thực hiện đại đoàn kết dân tộc để chống thù trong giặc ngoài, thực hiện thắng lợi sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Do có những quan niệm đúng đắn về vấn đề bầu cử của Hồ Chí Minh và dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta, trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên ngày 6.1.1946 có 89% tổng số cử tri đi bỏ phiếu. Trong hoàn cảnh thực dân Pháp đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam và sự chống đối của các thế lực thù địch ngày càng gia tăng ở miền Bắc thì kết quả của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiền thật là một kỳ tích, khẳng định được sức mạnh to lớn của chính quyền nhân dân.

 Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân số 209, ngày 01-11-2005

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện