|
Tư tưởng Hồ Chí Minh và cội
nguồn quyền lực của Quốc hội
(Tiếp theo số 209)
Phạm Văn Hùng
Phó vụ trưởng Vụ Pháp luật - VPQH
Quốc hội đại diện cho lợi ích của toàn
thể nhân dân
Trong Bản báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi
tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội Khóa I đọc ngày
18.12.1959, Hồ Chí Minh cho rằng tính chất nhà
nước là vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Đó là nội
dung giai cấp của chính quyền. Chính quyền về
tay ai và phục vụ quyền lợi của ai? Điều đó
quyết định toàn bộ nội dung của Hiến pháp. Những
vấn đề này không chỉ là lý luận mà còn được đúc
kết từ thực tiễn những gì Hồ Chí Minh đã nghiên
cứu, kiểm nghiệm về tính chất của một số Nghị
viện. Theo Hồ Chí Minh, Quốc hội mà không có
thực quyền thì không thể đại diện cho nhân dân.
Trong Bản án chế độ Thực dân Pháp, xuất
bản năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã viết về
thực chất mô hình Hội đồng Liên bang Xyri.
Xyri là một nước ở phía Tây châu Á, từ cuối thế
kỷ XIX đã bị nhiều nước đế quốc như Anh, Pháp,
Thổ xâm chiếm. Pháp còn đặt ra chế độ “ ủy trị”
và chia cắt Xyri thành nhiều nước rồi lập ra “
Liên bang Xyri” để dễ bề cai trị. Nguyễn Ái Quốc
đã trích toàn văn một số bức thư của phái đoàn
Xyri- Palextin, của người Hama vạch trần
thực chất cái gọi là “ Hội đồng Liên bang” ấy vì
nó không phải do quốc dân bầu ra, không có quyền
hành gì cả, bị bắt buộc phải thảo luận những vấn
đề nào mà người ta muốn đưa trước đó nên ngay cả
những vấn đề sống còn của đất nước nó cũng không
thể đề cập. Nguyễn Ái Quốc đã viết về nguyện
vọng của nhân dân Xyri đòi công nhận nền độc lập
thật sự, đòi tổ chức phổ thông đầu phiếu bầu ra
Quốc hội để ban hành Hiến pháp, quyết định chính
thể, thành lập Chính phủ chịu trách nhiệm trước
Quốc hội và Quốc hội phải có toàn quyền lập pháp.
Năm 1943, trong bài viết về Libăng đăng trên Báo
Đồng Minh, Hồ Chí Minh đã nêu rõ thực chất bản
Hiến pháp của Libăng là do được Pháp quẳng cho
tấm áo Cộng hòa có Tổng thống, có Nghị viện.
Nhưng Hiến pháp lại do người Pháp chỉ định ra,
chung quy chỉ lợi cho Pháp, dân tộc Libăng "có
tiếng mà không có miếng ". Đặc biệt là trong
bài Sự thống trị của đế quốc Pháp ở
Đông Dương, in trong Tập san Inprekorr số
104 ngày 15.10.1927, Nguyễn Ái Quốc chế diễu cái
gọi là "Viện dân biểu Trung kỳ " và gọi một cách
châm biếm là “Viện Đu Ma An Nam". Viện này
không phải do đầu phiếu phổ thông mà chỉ do các
kỳ mục, địa chủ và thương nhân bầu ra. Tất cả
các vị “ dân biểu “ này chỉ có tiếng nói tư vấn,
mỗi năm họp một lần và họp lúc nào do Khâm sứ
quyết định. Bài viết nói trên của Nguyễn ái Quốc
viện dẫn lời một dân biểu là chính chúng
tôi cũng không có quyền ăn nói, thử hỏi trong
những điều kiện như vậy, làm thế nào ma lại có
thể giúp đỡ người khác được?.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị viện chỉ có thể
phát huy được vai trò của một thiết chế dân chủ
khi nó có thực quyền và mới đại diện cho lợi ích
cho nhân dân, của một nước có độc lập. Do đó để
có được một Quốc hội là cơ quan đại diện cho
nhân dân, thì trước hết phải đấu tranh giành độc
lập cho dân tộc.
Quốc hội quyết định những công việc quan
trọng nhất
Sự ra đời của Quốc hội Việt Nam trước hết xuất
phát từ yêu cầu của thực tiễn cách mạng. Thời kỳ
đó cần phải có một Chính phủ hợp pháp có đủ tư
cách pháp lý thực hiện các công việc đối nội,
đối ngoại của đất nước. Muốn có một Chính phủ
hợp pháp như vậy chỉ có thể được thành lập từ
một Quốc hội. Đó cũng là lý do vì sao cuộc tổng
tuyển cử đầu tiên của nước ta được diễn ra khẩn
trương như vậy. Trong nhiều tác phẩm của mình Hồ
Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm của
Người về vai trò của Quốc hội.
Theo Người, “Quốc hội là cơ quan quyết định
những công việc quan trọng nhất của nhà nước,
Hội đồng nhân dân quyết định những công việc
quan trọng nhất ở địa phương... Quốc hội là cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất, Hội đồng nhân
dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương”.
Quan niệm Quốc hội quyết định những công việc
quan trọng nhất của nhà nước một mặt đề cao vai
trò của Quốc hội, mặt khác cho thấy nhân dân còn
có thể thực hiện quyền lực của mình thông qua
các thiết chế chính trị khác. Trong rất nhiều
tác phẩm , bài viết khi điểm lại những thành tựu
to lớn mà nhân dân ta đã đạt được trong sự
nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn đề cập
đến vai trò của Đảng - Quốc hội - Chính phủ- Mặt
trận như một thể thống nhất.
Quan điểm “Quốc hội quyết định những vấn đề quan
trọng nhất của đất nước” cho thấy trong tư tưởng
Hồ Chí Minh việc xác định địa vị pháp lý của
Quốc hội có phần nổi trội hơn so với các cơ quan
khác trong bộ máy nhà nước (Chính phủ, TANDTC,
VKSNDTC); Mặt khác, quan niệm này cũng nói lên
rằng: Quyền lực nhà nước muốn được thực hiện tốt
phải có sự phân công. Quốc hội không thể làm tất
cả mà chỉ quyết định những vấn đề quan trọng
nhất. Những vấn đề quan trọng khác của địa
phương thì do cơ quan có thẩm quyền của địa
phương quyết định. Quan niệm Quốc hội là cơ quan
quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất
nước có ý nghĩa to lớn về lý luận và thực tiễn.
Một là, Quốc hội không bị sa đà tranh luận giải
quyết những vấn đề cụ thể; Hai là, Quốc
hội không thể là cơ quan tập trung toàn bộ quyền
lực. Tập trung toàn bộ quyền lực vào một cơ quan
hay một cá nhân là điều hoàn toàn xa lạ với tư
tưởng Hồ Chí Minh. Câu nói của Hồ Chí Minh “Tôi
không muốn làm vua Lu-y thập tứ”
phản ánh đậm nét tư tưởng Người về vấn đề này.
Những vấn đề quan trọng nhất của đất nước thuộc
thẩm quyền quyết định của Quốc hội trong tư
tưởng Hồ Chí Minh là một quan niệm vừa chứa đựng
những nội dung mang tính phổ biến thể hiện những
giá trị mà văn minh nhân loại đã đạt được, vừa
có những nội dung mới phù hợp với đặc điểm tình
hình của Việt Nam. Vấn đề đặt ra là tiêu chí nào
để xác định một vấn đề thuộc tầm quan trọng nhất
của một đất nước.
Khi bàn về mối quan hệ giữa quyền lập pháp và
chế độ nhà nước trong tác phẩm Góp phần phê
phán triệt học pháp quyền của Hêghen, C. Mác
đã giải thích: “Quyền lập pháp là quyền lực
phải tổ chức lại cái phổ biến. Nó là quyền lực
phải thiết lập chế độ nhà nước. Nó cao hơn chế
độ nhà nước.Nhưng mặt khác, quyền lập pháp lại
là quyền lực được xác lập phù hợp với chế độ nhà
nước. Vì thế, nó phải phụ thuộc vào chế độ nhà
nước”.
Có thể thấy rằng: Hoạt động lập pháp là một
trong những công việc quan trọng nhất của mỗi
đất nước. Mỗi bước phát triển trong trong hoạt
động lập pháp là sự thể hiện bước phát triển của
chế độ. Điều đó lý giải vì sao, Hồ Chí Minh luôn
luôn đề cao vai trò của Quốc hội trong việc làm
Hiến pháp và làm luật. Chính Người đã nhận xét
là sau khi thông qua Hiến pháp 1946, “Quốc
hội đã thu được kết quả làm vẻ vang cho đất nước”.
Đánh giá ý nghĩa của Luật Cải cách ruộng đất, Hồ
Chí Minh cho rằng “vì đạo luật cách mạng đó
mà đồng bào nông dân sẽ đời đời ghi nhớ sự
nghiệp to lớn của Quốc hội”. Khi viết bài
Quốc hội ta vĩ đại thật, Hồ Chí Minh đã tổng
kết những việc quan trọng nhất Quốc hội khoá I
đã làm là: Tuyên bố kháng chiến cứu nước, thông
qua Luật cải cách ruộng đất, thông qua Hiến pháp
mới. Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh vấn đề
lập hiến, lập pháp luôn luôn là nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu của Quốc hội.
Bên cạnh chức năng lập pháp, trong nhiều tác
phẩm, bài viết, bài phát biểu, Hồ Chí Minh còn
đề cập tới những công việc Quốc hội đã làm như
thông qua ngân sách, thông qua kế hoạch nhà nước.
Đặc biệt trong những năm kháng chiến chống Mỹ,
Hồ Chí Minh nhiều lần đề nghị Quốc hội ra các
tuyên bố chính trị biểu dương thành tích to lớn
của quân dân hai miền Nam-Bắc. Đối với Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Quốc hội còn là một diễn đàn chính
trị thể hiện ý chí thống nhất quyết tâm giành
độc lập tự do không gì lay chuyển nổi của nhân
dân Việt Nam.
Nguồn:
Báo Người đại biểu nhân dân số 210, ngày
02-11-2005 |