Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 Tư tưởng Hồ Chí Minh và cội nguồn quyền lực của Quốc hội

(Tiếp theo số 209)

Phạm Văn Hùng

Phó vụ trưởng Vụ Pháp luật - VPQH

 Quốc hội  đại diện cho lợi ích của toàn thể nhân dân

Trong Bản báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội Khóa I đọc ngày 18.12.1959, Hồ Chí Minh cho rằng tính chất nhà nước là vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Đó là nội dung giai cấp của chính quyền. Chính quyền về tay ai và phục vụ quyền lợi của ai? Điều đó quyết định toàn bộ nội dung của Hiến pháp. Những vấn đề này không chỉ là lý luận mà còn được đúc kết từ thực tiễn những gì Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, kiểm nghiệm về tính chất của một số Nghị viện. Theo Hồ Chí Minh, Quốc hội mà không có thực quyền thì không thể đại diện cho nhân dân.

Trong Bản án chế độ Thực dân Pháp, xuất bản năm 1925,  Nguyễn Ái Quốc đã viết về thực chất mô hình Hội đồng Liên bang  Xyri. Xyri là một nước ở phía Tây châu Á, từ cuối thế kỷ XIX đã bị nhiều nước đế quốc như Anh, Pháp, Thổ xâm chiếm. Pháp còn đặt ra chế độ “ ủy trị” và chia cắt Xyri thành nhiều nước rồi lập ra “ Liên bang Xyri” để dễ bề cai trị. Nguyễn Ái Quốc đã trích toàn văn một số bức thư của phái đoàn Xyri- Palextin,  của người Hama vạch trần thực chất cái gọi là “ Hội đồng Liên bang” ấy vì  nó không phải do quốc dân bầu ra, không có quyền hành gì cả, bị bắt buộc phải thảo luận những vấn đề nào mà người ta muốn đưa trước đó nên ngay cả những vấn đề sống còn của đất nước nó cũng không thể đề cập. Nguyễn Ái Quốc đã viết về nguyện vọng của nhân dân Xyri đòi công nhận nền độc lập thật sự, đòi tổ chức phổ thông đầu phiếu bầu ra Quốc hội để ban hành Hiến pháp, quyết định chính thể, thành lập Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Quốc hội phải có toàn quyền lập pháp.

Năm 1943, trong bài viết về Libăng đăng trên Báo Đồng Minh, Hồ Chí Minh đã nêu rõ thực chất bản Hiến pháp của Libăng là do được Pháp quẳng cho tấm áo Cộng hòa có Tổng thống, có Nghị viện. Nhưng Hiến pháp lại do người Pháp chỉ định ra, chung quy chỉ lợi cho Pháp, dân tộc Libăng "có tiếng mà không có miếng ". Đặc biệt là trong bài  Sự thống trị của đế quốc Pháp ở Đông Dương, in trong Tập san Inprekorr số 104 ngày 15.10.1927, Nguyễn Ái Quốc chế diễu cái gọi là "Viện dân biểu Trung kỳ " và gọi một cách châm biếm là  “Viện Đu Ma An Nam". Viện này không phải do đầu phiếu phổ thông mà chỉ do các kỳ mục, địa chủ và thương nhân bầu ra. Tất cả các vị “ dân biểu “ này chỉ có tiếng nói tư vấn, mỗi năm họp một lần và họp lúc nào do Khâm sứ quyết định. Bài viết nói trên của Nguyễn ái Quốc viện dẫn lời một dân biểu là  chính chúng tôi cũng không có quyền ăn nói, thử hỏi trong những điều kiện như vậy, làm thế nào ma lại có thể giúp đỡ người khác được?.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị viện chỉ có thể phát huy được vai trò của một thiết chế dân chủ khi nó có thực quyền và mới đại diện cho lợi ích cho nhân dân, của một nước có độc lập. Do đó để có được một Quốc hội là cơ quan đại diện cho nhân dân, thì trước hết phải đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.                   

Quốc hội  quyết định những công việc quan trọng nhất

Sự ra đời của Quốc hội Việt Nam trước hết xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn cách mạng. Thời kỳ đó cần phải có một Chính phủ hợp pháp có đủ tư cách pháp lý thực hiện các công việc đối nội, đối ngoại của đất nước. Muốn có một Chính phủ hợp pháp như vậy chỉ có thể được thành lập từ một Quốc hội. Đó cũng là lý do vì sao cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta được diễn ra khẩn trương như vậy. Trong nhiều tác phẩm của mình Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm của Người về vai trò của Quốc hội.

Theo Người, “Quốc hội là cơ quan quyết định những công việc quan trọng nhất của nhà nước, Hội đồng nhân dân quyết định những công việc quan trọng nhất ở địa phương... Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

Quan niệm Quốc hội quyết định những công việc quan trọng nhất của nhà nước một mặt đề cao vai trò của Quốc hội, mặt khác cho thấy nhân dân còn có thể thực hiện quyền lực của mình thông qua các thiết chế chính trị khác. Trong rất nhiều tác phẩm , bài viết khi điểm lại những thành tựu to lớn mà nhân dân ta đã đạt được trong sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn đề cập đến vai trò của Đảng - Quốc hội - Chính phủ- Mặt trận như một thể thống nhất.

Quan điểm “Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước” cho thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh việc xác định địa vị pháp lý của Quốc hội có phần nổi trội hơn so với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước (Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC); Mặt khác, quan niệm này cũng nói lên rằng: Quyền lực nhà nước muốn được thực hiện tốt phải có sự phân công. Quốc hội không thể làm tất cả mà chỉ quyết định những vấn đề quan trọng nhất. Những vấn đề quan trọng khác của địa phương thì do cơ quan có thẩm quyền của địa phương quyết định. Quan niệm Quốc hội là cơ quan quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước có ý nghĩa to lớn về lý luận và thực tiễn. Một là, Quốc hội không bị sa đà tranh luận giải quyết những vấn đề cụ thể;  Hai là, Quốc hội không thể là cơ quan tập trung toàn bộ quyền lực. Tập trung toàn bộ quyền lực vào một cơ quan hay một cá nhân là điều hoàn toàn xa lạ với tư tưởng Hồ Chí Minh. Câu nói của Hồ Chí Minh “Tôi không muốn làm vua Lu-y thập tứ  phản ánh đậm nét tư tưởng Người về vấn đề này.

Những vấn đề quan trọng nhất của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một quan niệm vừa chứa đựng những nội dung mang tính phổ biến thể hiện những giá trị mà văn minh nhân loại đã đạt được, vừa có những nội dung mới phù hợp với đặc điểm tình hình của Việt Nam. Vấn đề đặt ra là tiêu chí nào để xác định một vấn đề thuộc tầm quan trọng nhất của một đất nước.

Khi bàn về mối quan hệ giữa quyền lập pháp và chế độ nhà nước trong tác phẩm Góp phần phê phán triệt học pháp quyền của Hêghen, C. Mác đã giải thích: “Quyền lập pháp là quyền lực phải tổ chức lại cái phổ biến. Nó là quyền lực phải thiết lập chế độ nhà nước. Nó cao hơn chế độ nhà nước.Nhưng mặt khác, quyền lập pháp lại là quyền lực được xác lập phù hợp với chế độ nhà nước. Vì thế, nó phải phụ thuộc vào chế độ nhà nước”.

Có thể thấy rằng: Hoạt động lập pháp là một trong những công việc quan trọng nhất của mỗi đất nước. Mỗi bước phát triển trong trong hoạt động lập pháp là sự thể hiện bước phát triển của chế độ. Điều đó lý giải vì sao, Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao vai trò của Quốc hội trong việc làm Hiến pháp và làm luật. Chính Người đã nhận xét là sau khi thông qua Hiến pháp 1946, “Quốc hội đã thu được kết quả làm vẻ vang cho đất nước”. Đánh giá ý nghĩa của Luật Cải cách ruộng đất, Hồ Chí Minh cho rằng “vì đạo luật cách mạng đó mà đồng bào nông dân sẽ đời đời ghi nhớ sự nghiệp to lớn của Quốc hội”. Khi viết bài Quốc hội ta vĩ đại thật, Hồ Chí Minh đã tổng kết những việc quan trọng nhất Quốc hội khoá I đã làm là: Tuyên bố kháng chiến cứu nước, thông qua Luật cải cách ruộng đất, thông qua Hiến pháp mới. Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh vấn đề lập hiến, lập pháp luôn luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Quốc hội.

Bên cạnh chức năng lập pháp, trong nhiều tác phẩm, bài viết, bài phát biểu, Hồ Chí Minh còn đề cập tới những công việc Quốc hội đã làm như thông qua ngân sách, thông qua kế hoạch nhà nước. Đặc biệt trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chí Minh nhiều lần đề nghị Quốc hội ra các tuyên bố chính trị biểu dương thành tích to lớn của quân dân hai miền Nam-Bắc. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc hội còn là một diễn đàn chính trị thể hiện ý chí thống nhất quyết tâm giành độc lập tự do không gì lay chuyển nổi của nhân dân Việt Nam.

 Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân số 210, ngày 02-11-2005 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện