Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 Tư tưởng Hồ Chí Minh và cội nguồn quyền lực của Quốc hội

Phạm Văn Hùng

(Tiếp theo số 210 và hết)

Trong mối quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, theo Hồ Chí Minh, Chính phủ, người đứng đầu nhà nước cũng phải do Quốc hội bầu ra. Đó là lý do vì sao Người rất sốt sắng trong việc chỉ đạo khẩn trương tổ chức cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên để bầu ra Chính phủ chính thức thay cho Chính phủ lâm thời. Và chính Người đã khước từ lời đề nghị của nhân dân về việc để Hồ Chí Minh làm Chủ tịch vĩnh viễn không qua bầu cử. Nghiên cứu một số hoạt động khác của Hồ Chí Minh còn thấy rằng: Trong tư tưởng của Người, Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền kiểm soát đối với Chính phủ và người đứng đầu nhà nước. Trong đêm lịch sử trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội Khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh gần như đã thức trắng đêm để duyệt lại lần cuối cùng toàn bộ chương trình kỳ họp, sửa chữa lại câu chữ trong các văn kiện.

Toàn bộ nội dung, chương trình phiên họp Quốc hội ngày 2.3.1946 có mấy điểm đáng chú ý. Một là, Quốc hội nhận xét Chính phủ lâm thời đã làm được nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc và tuyên bố Hồ Chí Minh xứng đáng với Tổ quốc; Hai là, Quốc hội bầu Chính phủ mới, Cố vấn đoàn, Kháng chiến uỷ viên hội;  Ba là, Quốc hội chứng kiến việc Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ, Tối cao cố vấn đoàn và uỷ viên kháng chiến hội đọc lời thề trước Quốc hội; Bốn là, Quốc hội ra bản Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam.

Qua các hoạt động này có thể thấy rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, người đứng đầu nhà nước, Chính phủ và những cá nhân khác giữ trọng trách trong bộ máy nhà nước luôn luôn phải có sự tín nhiệm từ phía Quốc hội và chịu sự kiểm soát của Quốc hội. Sau này, nhiều lần Quốc hội ra Nghị quyết về tín nhiệm của Chính phủ, biểu dương các ĐBQH đã hy sinh vì sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, truất quyền ĐBQH của những người rời bỏ nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc cũng xuất phát từ quan điểm về việc thực hiện quyền kiểm sát của Quốc hội.

Quan điểm “Quốc hội quyết định những công việc quan trọng nhất của nhà nước” còn có thể được xem xét thông qua các chế định của Hiến pháp năm 1946 là Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo việc soạn thảo. Theo Bản văn của Hiến pháp này thì tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam (Điều 1). Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (Điều 22). Nghị viện có quyền làm luật (Điều 23) nhưng Chủ tịch Nước có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại. Nếu Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch Nước phải ban bố (Điều 31). Trong cơ cấu của Nghị viện nhân dân có Ban Thường vụ. Khi Nghị viện nhân dân không họp thì Ban Thường vụ có quyền biểu quyết sắc luật của Chính phủ (Điều 36). Nghị viện có quyền bầu ra Chủ tịch Nước (Điều 45), bầu Thủ tướng, phê chuẩn danh sách Bộ trưởng do Thủ tướng trình, bỏ phiếu tín nhiệm đối với Nội các ( Điều 47, Điều 54 ), Nghị viện có quyền sửa đổi Hiến pháp nhưng phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70). Như vậy, theo Hiến pháp năm 1946, Nghị viện là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, quyết định những công việc quan trọng nhất của nhà nước nhưng Nghị viện không phải là tập trung toàn bộ quyền lực. Quyền lực nhà nước của Nghị viện khi thực hiện cũng bị kiểm tra lại bởi các thiết chế nhà nước và của chính nhân dân chủ thể của quyền lực. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp mẫu mực về cách quy định  ngắn gọn, súc tích, văn phong trong sáng và tổ chức khoa học về phân công quyền lực trong bộ máy nhà nước. 

Đại biểu Quốc hội phải là người có đức, có tài

Hồ Chí Minh đã dày công nghiên cứu các cuộc cách mạng điển hình của thế giới từ cách mạng tư sản châu Âu, châu Mỹ đến Cách mạng Tháng Mười Nga. Vì vậy, Người rất hiểu vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng nói chung và vai trò của ĐBQH nói riêng. ĐBQH là chủ thể giữ vai trò then chốt nếu không muốn nói là quan trọng nhất trong việc thực hiện quyền lực nhà nước của Quốc hội - cũng tức là thực hiện quyền lực do nhân dân uỷ quyền bằng một cuộc bầu cử trực tiếp. Về tiêu chuẩn của người ĐBQH Việt Nam, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Người nêu rất cô đọng mà đầy đủ các đặc điểm cần và đủ của người cán bộ cách mạng: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà”, những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu cầu hạnh phúc của đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: vì lợi nước, quên lợi nhà, vì lợi ích chung, quên lợi riêng; "Phải làm sao cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc”. Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội,  ĐBQH còn phải là người “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”. Sau này, trong bài nói chuyện với đồng bào thủ đô nhân dịp mừng kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá II, Hồ Chí Minh nên rõ hơn về phẩm chất của người ĐBQH: “Tất cả ĐBQH hứa với đồng bào là được cử vào Quốc hội để làm ĐBQH không phải là để làm quan, không phải là để ngồi trên ăn trốc mà là người đầy tớ tuyệt đối trung thành của đồng bào.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Quốc hội thể hiện sự vận dụng sáng tạo các quan điểm của nhà dân chủ kinh điển các nhà mác xít kinh điển vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Những luận điểm của Người là ngọn đuốc soi sáng con đường đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân số 211, ngày 03-11-2005 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện