|
Tư tưởng Hồ Chí Minh và cội nguồn quyền lực của
Quốc hội
Phạm Văn Hùng
(Tiếp theo số 210 và hết)
Trong mối quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan
khác trong bộ máy nhà nước, theo Hồ Chí Minh,
Chính phủ, người đứng đầu nhà nước cũng phải do
Quốc hội bầu ra. Đó là lý do vì sao Người rất
sốt sắng trong việc chỉ đạo khẩn trương tổ chức
cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên để bầu ra Chính phủ
chính thức thay cho Chính phủ lâm thời. Và chính
Người đã khước từ lời đề nghị của nhân dân về
việc để Hồ Chí Minh làm Chủ tịch vĩnh viễn không
qua bầu cử. Nghiên cứu một số hoạt động khác của
Hồ Chí Minh còn thấy rằng: Trong tư tưởng của
Người, Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền kiểm
soát đối với Chính phủ và người đứng đầu nhà
nước. Trong đêm lịch sử trước ngày khai mạc kỳ
họp Quốc hội Khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh gần
như đã thức trắng đêm để duyệt lại lần cuối cùng
toàn bộ chương trình kỳ họp, sửa chữa lại câu
chữ trong các văn kiện.
Toàn bộ nội dung, chương trình phiên họp Quốc
hội ngày 2.3.1946 có mấy điểm đáng chú ý. Một
là, Quốc hội nhận xét Chính phủ lâm thời đã
làm được nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc và
tuyên bố Hồ Chí Minh xứng đáng với Tổ quốc;
Hai là, Quốc hội bầu Chính phủ mới, Cố vấn
đoàn, Kháng chiến uỷ viên hội; Ba là,
Quốc hội chứng kiến việc Chủ tịch Hồ Chí
Minh thay mặt Chính phủ, Tối cao cố vấn đoàn và
uỷ viên kháng chiến hội đọc lời thề trước Quốc
hội; Bốn là, Quốc hội ra bản Tuyên ngôn
của Quốc hội Việt Nam.
Qua các hoạt động này có thể thấy rằng, trong tư
tưởng Hồ Chí Minh, người đứng đầu nhà nước,
Chính phủ và những cá nhân khác giữ trọng trách
trong bộ máy nhà nước luôn luôn phải có sự tín
nhiệm từ phía Quốc hội và chịu sự kiểm soát của
Quốc hội. Sau này, nhiều lần Quốc hội ra Nghị
quyết về tín nhiệm của Chính phủ, biểu dương các
ĐBQH đã hy sinh vì sự nghiệp kháng chiến kiến
quốc, truất quyền ĐBQH của những người rời bỏ
nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc cũng xuất phát từ
quan điểm về việc thực hiện quyền kiểm sát của
Quốc hội.
Quan điểm “Quốc hội quyết định những công việc
quan trọng nhất của nhà nước” còn có thể được
xem xét thông qua các chế định của Hiến pháp năm
1946 là Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Hồ
Chí Minh trực tiếp chỉ đạo việc soạn thảo. Theo
Bản văn của Hiến pháp này thì tất cả quyền bính
trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam (Điều
1). Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao
nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (Điều
22). Nghị viện có quyền làm luật (Điều 23) nhưng
Chủ tịch Nước có quyền yêu cầu Nghị viện thảo
luận lại. Nếu Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc
Chủ tịch Nước phải ban bố (Điều 31). Trong cơ
cấu của Nghị viện nhân dân có Ban Thường vụ. Khi
Nghị viện nhân dân không họp thì Ban Thường vụ
có quyền biểu quyết sắc luật của Chính phủ (Điều
36). Nghị viện có quyền bầu ra Chủ tịch Nước (Điều
45), bầu Thủ tướng, phê chuẩn danh sách Bộ
trưởng do Thủ tướng trình, bỏ phiếu tín nhiệm
đối với Nội các ( Điều 47, Điều 54 ), Nghị viện
có quyền sửa đổi Hiến pháp nhưng phải đưa ra
toàn dân phúc quyết (Điều 70). Như vậy, theo
Hiến pháp năm 1946, Nghị viện là cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất, quyết định những công
việc quan trọng nhất của nhà nước nhưng Nghị
viện không phải là tập trung toàn bộ quyền lực.
Quyền lực nhà nước của Nghị viện khi thực hiện
cũng bị kiểm tra lại bởi các thiết chế nhà nước
và của chính nhân dân chủ thể của quyền lực.
Theo nhiều nhà nghiên cứu thì Hiến pháp năm 1946
là Hiến pháp mẫu mực về cách quy định ngắn gọn,
súc tích, văn phong trong sáng và tổ chức khoa
học về phân công quyền lực trong bộ máy nhà nước.
Đại biểu Quốc hội phải là người có đức, có tài
Hồ
Chí Minh đã dày công nghiên cứu các cuộc cách
mạng điển hình của thế giới từ cách mạng tư sản
châu Âu, châu Mỹ đến Cách mạng Tháng Mười Nga.
Vì vậy, Người rất hiểu vai trò của cán bộ trong
sự nghiệp cách mạng nói chung và vai trò của
ĐBQH nói riêng. ĐBQH là chủ thể giữ vai trò then
chốt nếu không muốn nói là quan trọng nhất trong
việc thực hiện quyền lực nhà nước của Quốc hội -
cũng tức là thực hiện quyền lực do nhân dân uỷ
quyền bằng một cuộc bầu cử trực tiếp. Về tiêu
chuẩn của người ĐBQH Việt Nam, trong thời kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp, Người nêu rất
cô đọng mà đầy đủ các đặc điểm cần và đủ của
người cán bộ cách mạng: “Tổng tuyển cử là một
dịp cho toàn thể quốc dân lựa chọn những người
có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà”,
những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền
độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu cầu hạnh phúc
của đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành
câu: vì lợi nước, quên lợi nhà, vì lợi ích chung,
quên lợi riêng; "Phải làm sao cho xứng đáng
với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc”.
Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội,
ĐBQH còn phải là người “cần kiệm liêm chính,
chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc,
phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”.
Sau này, trong bài nói chuyện với đồng bào
thủ đô nhân dịp mừng kỳ họp thứ nhất Quốc hội
khoá II, Hồ Chí Minh nên rõ hơn về phẩm chất của
người ĐBQH: “Tất cả ĐBQH hứa với đồng bào là
được cử vào Quốc hội để làm ĐBQH không phải là
để làm quan, không phải là để ngồi trên ăn trốc
mà là người đầy tớ tuyệt đối trung thành của
đồng bào”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Quốc hội thể hiện sự vận
dụng sáng tạo các quan điểm của nhà dân chủ kinh
điển các nhà mác xít kinh điển vào điều kiện
thực tiễn của Việt Nam. Những luận điểm của
Người là ngọn đuốc soi sáng con đường đổi mới tổ
chức và hoạt động của Quốc hội nhằm đáp ứng yêu
cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng.
Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân số 211, ngày
03-11-2005 |