|
Tư tưởng quyền con người trong Tuyên ngôn độc
lập năm 1945
của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Quyền con người là giá trị chung của các dân
tộc, là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử
nhân loại. Mỗi dân tộc, bằng hình thức này hay
hình thức khác, trong thời kỳ lịch sử này hay
thời kỳ lịch sử khác, đều có những đóng góp vào
giá trị đó. Dân tộc ta trong thế kỷ XX đã có
những đóng góp lớn lao, mang tính đột phá về tư
tưởng nhân quyền, thể hiện tập trung, nổi bật
trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Chủ tịch
Hồ Chí Minh.
Sự ra đời của khái niệm quyền con người gắn liền
với các cuộc cách mạng dân chủ tư sản lật đổ chế
độ phong kiến, xã hội thần dân thế kỷ XVII,
XVIII. Ở Anh, khái niệm đó nằm trong Luật về các
quyền (1689); ở Mỹ, nằm trong Tuyên ngôn độc lập
(1776) và Hiến pháp (bổ sung, 1789); ở Pháp, nằm
trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (1789).
Thế nhưng, các thế lực cầm quyền ở đó đã không
hề chia sẻ những thành quả nhân quyền với các
dân tộc bị áp bức. Trái lại, họ tiến hành các
cuộc chiến tranh xâm lược dã man và duy trì chế
độ nô lệ, phong kiến thối nát ở các lãnh thổ mà
mình cai trị. Ở Việt Nam, hơn 80 năm áp đặt chế
độ thống trị của mình, thực dân Pháp vẫn duy trì
chế độ phong kiến; dân tộc Việt Nam không có
Hiến pháp, không có quyền công dân, quyền con
người. Người dân Việt Nam chỉ biết đến khái niệm
quyền con người qua sách báo từ "chính quốc".
"Thành tựu" nhân quyền mà chủ nghĩa đế quốc,
phát-xít đã đem lại cho dân tộc Việt Nam là sự
kiện hơn 2 triệu người ở Bắc Bộ đã chết đói vào
năm 1945 (chiếm gần 1/10 dân số lúc đó). Đây là
một bằng chứng lịch sử không ai có thể phủ nhận
được.
Thế là, trên 150 năm, kể từ khi có Tuyên ngôn
độc lập của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền của Pháp, ở các nước thuộc địa người dân
vẫn phải sống kiếp nô lệ. Không phải ngẫu nhiên
người ta nghĩ rằng, khái niệm nhân quyền không
phải bao giờ cũng được sử dụng với nguyên nghĩa
tốt đẹp của nó, mà đằng sau đó còn chứa đựng
những ý đồ chính trị đen tối của một số thế lực
đế quốc, cường quyền. Bởi vì, trong lịch sử,
khái niệm này đã từng đến với các thuộc địa cùng
với lưỡi lê và báng súng của các đội quân xâm
lược.
Quyền con người ở Việt Nam chỉ ra đời từ khi
nhân dân ta giành được độc lập dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Các quyền con
người và quyền tự do cơ bản của nhân dân Việt
Nam đã được trân trọng ghi trong Tuyên ngôn độc
lập năm 1945 và Hiến pháp đầu tiên của nước Việt
Nam mới năm 1946. Trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ
Chí Minh viết: "Tất cả mọi người đều sinh ra
có quyền bình đẳng..." Lời bất hủ ấy ở trong
bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước
Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: "tất cả
các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng,
dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng
và quyền tự do" (1).
Một trong những tư tưởng đặc sắc, mang tầm vóc
thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên
ngôn độc lập là đã nêu lên một quan niệm hoàn
toàn mới về quyền con người: Quyền con người
không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền
tự quyết của mỗi dân tộc. Hai loại quyền này
thống nhất và làm tiền đề cho nhau.
Quan niệm nhân quyền trên không phải là một sự
suy luận lô-gíc thuần túy mà là kết quả khảo
sát, kiểm nghiệm và nghiên cứu lý luận - lịch sử
đầy khó khăn, gian khổ kéo dài hơn 30 năm của
Người, kể từ khi ra đi tìm đường cứu nước
(1911).
Còn nhớ, vào năm 1919, sau khi chiến tranh thế
giới lần thứ nhất kết thúc (1914 - 1918), khi
còn ở tuổi thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
gửi bản "Yêu sách của nhân dân An Nam" đến Hội
nghị nguyên thủ các nước thắng trận họp ở
Véc-xây (Pháp). Văn kiện này đưa ra những yêu
sách nhân quyền khiêm tốn, trong khuôn khổ chế
độ thuộc địa, nhưng rút cuộc những yêu sách đó
bị từ chối. Sau sự kiện này, Người rút ra kết
luận: những hứa hẹn về tự do, bình đẳng, bác ái
và nhân quyền của chủ nghĩa đế quốc đối với các
dân tộc bị áp bức chỉ là một thứ bánh vẽ, không
hơn không kém. Muốn có độc lập dân tộc, tự do và
hạnh phúc cho nhân dân, phải "đem sức ta mà giải
phóng cho ta", phải lật đổ chế độ thực dân,
phong kiến và xây dựng một xã hội mới - xã hội
do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản, đi theo con đường của chủ nghĩa Mác -
Lê-nin.
Vào giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh thế
giới lần thứ hai, các dân tộc sống dưới ách
thống trị của chủ nghĩa phát-xít có ba phương án
lịch sử: Một là, chờ quân Đồng minh đến
giải phóng, trao lại độc lập cho mình. Hai là,
mong chiến tranh kết thúc, chấp nhận quy chế
"quản thác", "ủy trị" của Liên hợp quốc (về thực
chất, các dân tộc này vẫn nằm trong sự thống trị
của chủ nghĩa đế quốc dưới một danh nghĩa khác).
Ba là, chớp thời cơ, đứng lên giành lấy
độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Dân tộc ta,
dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã dũng cảm lựa chọn phương án thứ ba, tiến
hành cuộc cách mạng bạo lực (chính trị), lật đổ
ách thống trị của thực dân, phát-xít và phong
kiến, giành lại độc lập dân tộc, không để cho
bất cứ một thế lực nào kịp can thiệp vào công
việc của mình, kể cả lực lượng Đồng minh. Sự
kiện đó đã đặt Liên hợp quốc và cả cộng đồng
quốc tế trước một sự thật hiển nhiên: nền độc
lập của dân tộc Việt Nam đã ra đời. Trong
Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh viết: "Sự thật
là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật,
chứ không phải từ tay Pháp... Dân ta đã đánh đổ
các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây
dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh
đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên
chế độ Dân chủ Cộng hòa"(2). Không
phải ngẫu nhiên Người khẳng định mạnh mẽ: "Nước
Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự
thật đã thành một nước tự do độc lập"(3).
Với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc, xét về mặt
pháp lý và đạo lý, là quyền tự nhiên của các dân
tộc mà cộng đồng quốc tế phải thừa nhận. Tuy
nhiên, trong thực tế, không một đế quốc nào lại
tự nguyện trao lại độc lập cho các dân tộc thuộc
địa. Muốn có độc lập thật sự, các dân tộc bị áp
bức phải đứng lên giành lấy quyền đó bằng con
đường đấu tranh cách mạng. Tương tự như vậy,
quyền con người có cơ sở từ nhân phẩm vốn có của
con người. Nhưng muốn có các quyền và tự do thật
sự thì phải đấu tranh, trước hết là đấu tranh
giành lấy những điều kiện cơ bản bảo đảm cho các
quyền đó. Đối với các dân tộc bị áp bức, điều
kiện tiên quyết là độc lập dân tộc, chủ quyền
quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Nói cách
khác, quyền con người không thể không gắn liền
với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Tất
nhiên, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc
không phải là tất cả những gì Người mong muốn.
Theo Người, độc lập dân tộc phải đi đôi với tự
do cho nhân dân. Người từng nói: cái mà tôi cần
trên đời là đồng bào được tự do, dân tộc được
độc lập. Muốn vậy, phải xây dựng xã hội xã hội
chủ nghĩa, tức là xây dựng một xã hội "trước hết
nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần
cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm,
được ấm no và sống một đời hạnh phúc".
Lần đầu tiên cộng đồng quốc tế biết đến tư tưởng
nhân quyền hiện đại từ Hiến chương của Liên hợp
quốc năm 1945; tiếp đó từ văn kiện Tuyên ngôn
thế giới về quyền con người năm 1948.
Những văn kiện này, xét về nhiều phương diện, là
thành tựu chính trị vĩ đại của nhân loại. Những
tư tưởng cơ bản của chúng đang là cơ sở chính
trị và đạo lý chung điều chỉnh quan hệ quốc tế
của các dân tộc. Thế nhưng, những văn kiện này
đã không tránh khỏi những khiếm khuyết, đó là:
khái niệm nhân quyền chỉ là quyền của cá
nhân. Những quyền này không tính đến các điều
kiện chính trị, xã hội, truyền thống, lịch sử,
văn hóa của mỗi dân tộc - trong đó có quyền dân
tộc tự quyết.
Những khiếm khuyết trên đã được phát hiện và
điều chỉnh trong các văn kiện cơ bản về quyền
con người của Liên hợp quốc, từ thập kỷ 60 của
thế kỷ XX trở đi. Đó là Công ước quốc tế về các
quyền dân sự, chính trị (1966) và Công ước quốc
tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
(1966); Tuyên bố Viên và Chương trình hành động
(1993). Những văn kiện này xác định: quyền
dân tộc tự quyết là một quyền con người - quyền
tập thể của quyền con người. Điều 1 của hai
công ước trên ghi: "Tất cả các dân tộc đều có
quyền dân tộc tự quyết..."(4). Tuyên
bố Viên và Chương trình hành động ghi: "Việc
khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm
nhân quyền"(5).
Tư tưởng về quyền dân tộc tự quyết với ý nghĩa
là quyền tập thể của quyền con người đã được Chủ
tịch Hồ Chí Minh đề cập tới trong Tuyên ngôn độc
lập. Đây có thể được xem như là phác thảo
Điều 1 của hai công ước quốc tế về nhân quyền
(1966). Như vậy, tư tưởng về quyền dân tộc tự
quyết trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã đi trước nhận thức chung của cộng
đồng quốc tế hơn 20 năm. Đó là đóng góp lớn
lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt
Nam trong việc phát triển sáng tạo tư tưởng nhân
quyền của nhân loại ở thế kỷ XX.
Tư tưởng nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh
không chỉ nằm trong Tuyên ngôn độc lập mà còn
được thể hiện sâu sắc, phong phú trong suốt cuộc
đời hoạt động cách mạng của Người, cả trên lĩnh
vực lý luận và thực tiễn. Những nét đặc sắc
trong tư tưởng nhân quyền của Hồ Chí Minh là:
- Quyền con người là thành quả sự phát triển
liên tục của lịch sử. Các dân tộc có thể kế
thừa, chia sẻ những giá trị nhân quyền của nhau;
- Quyền và phẩm giá của cá nhân gắn liền với
quyền và phẩm giá của dân tộc;
- Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn
lãnh thổ, thống nhất đất nước là tiền đề, là
điều kiện tiên quyết của quyền cá nhân;
- Quyền con người là lý tưởng của Đảng Cộng sản
Việt Nam, là bản chất của Nhà nước ta và của xã
hội xã hội chủ nghĩa. Không có chế độ xã hội nào
có nhiều khả năng, điều kiện bảo đảm quyền con
người bằng xã hội xã hội chủ nghĩa.
- Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân là nhân tố cơ bản bảo đảm các
quyền con người;
- Trách nhiệm bảo đảm quyền con người không chỉ
là của Nhà nước mà còn của tất cả các tổ chức
hợp thành hệ thống chính trị;
- Bảo vệ độc lập dân tộc và quyền con người của
dân tộc ta, đồng thời phải tôn trọng độc lập,
chủ quyền và quyền con người của các dân tộc
khác.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là kết
tinh những tư tưởng nhân quyền tiến bộ nhất của
các dân tộc trên thế giới; là tài sản vô giá của
Đảng và nhân dân ta; là nền tảng vững chắc trong
việc hoạch định đường lối, chính sách, xây dựng
pháp luật, hoạt động thực tiễn và trong công tác
nghiên cứu lý luận của chúng ta về quyền con
người.
* TS, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quyền con
người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1995, t 4, tr 1
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 3
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 4
(4), (5) Dẫn theo Trung tâm Nghiên cứu Quyền
con người: Các văn kiện cơ bản về quyền con
người, Hà Nội, 2002, tr 250, 43
Nguồn: Tạp chí Cộng sản số 17 (tháng 9-2005) |