Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Tư tưởng quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945

của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Cao Đức Thái *

Quyền con người là giá trị chung của các dân tộc, là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại. Mỗi dân tộc, bằng hình thức này hay hình thức khác, trong thời kỳ lịch sử này hay thời kỳ lịch sử khác, đều có những đóng góp vào giá trị đó. Dân tộc ta trong thế kỷ XX đã có những đóng góp lớn lao, mang tính đột phá về tư tưởng nhân quyền, thể hiện tập trung, nổi bật trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sự ra đời của khái niệm quyền con người gắn liền với các cuộc cách mạng dân chủ tư sản lật đổ chế độ phong kiến, xã hội thần dân thế kỷ XVII, XVIII. Ở Anh, khái niệm đó nằm trong Luật về các quyền (1689); ở Mỹ, nằm trong Tuyên ngôn độc lập (1776) và Hiến pháp (bổ sung, 1789); ở Pháp, nằm trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (1789). Thế nhưng, các thế lực cầm quyền ở đó đã không hề chia sẻ những thành quả nhân quyền với các dân tộc bị áp bức. Trái lại, họ tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược dã man và duy trì chế độ nô lệ, phong kiến thối nát ở các lãnh thổ mà mình cai trị. Ở Việt Nam, hơn 80 năm áp đặt chế độ thống trị của mình, thực dân Pháp vẫn duy trì chế độ phong kiến; dân tộc Việt Nam không có Hiến pháp, không có quyền công dân, quyền con người. Người dân Việt Nam chỉ biết đến khái niệm quyền con người qua sách báo từ "chính quốc". "Thành tựu" nhân quyền mà chủ nghĩa đế quốc, phát-xít đã đem lại cho dân tộc Việt Nam là sự kiện hơn 2 triệu người ở Bắc Bộ đã chết đói vào năm 1945 (chiếm gần 1/10 dân số lúc đó). Đây là một bằng chứng lịch sử không ai có thể phủ nhận được.

Thế là, trên 150 năm, kể từ khi có Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, ở các nước thuộc địa người dân vẫn phải sống kiếp nô lệ. Không phải ngẫu nhiên người ta nghĩ rằng, khái niệm nhân quyền không phải bao giờ cũng được sử dụng với nguyên nghĩa tốt đẹp của nó, mà đằng sau đó còn chứa đựng những ý đồ chính trị đen tối của một số thế lực đế quốc, cường quyền. Bởi vì, trong lịch sử, khái niệm này đã từng đến với các thuộc địa cùng với lưỡi lê và báng súng của các đội quân xâm lược.

Quyền con người ở Việt Nam chỉ ra đời từ khi nhân dân ta giành được độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Các quyền con người và quyền tự do cơ bản của nhân dân Việt Nam đã được trân trọng ghi trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới năm 1946. Trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh viết: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng..." Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: "tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do" (1).

Một trong những tư tưởng đặc sắc, mang tầm vóc thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập là đã nêu lên một quan niệm hoàn toàn mới về quyền con người: Quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền tự quyết của mỗi dân tộc. Hai loại quyền này thống nhất và làm tiền đề cho nhau.

Quan niệm nhân quyền trên không phải là một sự suy luận lô-gíc thuần túy mà là kết quả khảo sát, kiểm nghiệm và nghiên cứu lý luận - lịch sử đầy khó khăn, gian khổ kéo dài hơn 30 năm của Người, kể từ khi ra đi tìm đường cứu nước (1911).

Còn nhớ, vào năm 1919, sau khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc (1914 - 1918), khi còn ở tuổi thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi bản "Yêu sách của nhân dân An Nam" đến Hội nghị nguyên thủ các nước thắng trận họp ở Véc-xây (Pháp). Văn kiện này đưa ra những yêu sách nhân quyền khiêm tốn, trong khuôn khổ chế độ thuộc địa, nhưng rút cuộc những yêu sách đó bị từ chối. Sau sự kiện này, Người rút ra kết luận: những hứa hẹn về tự do, bình đẳng, bác ái và nhân quyền của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc bị áp bức chỉ là một thứ bánh vẽ, không hơn không kém. Muốn có độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, phải "đem sức ta mà giải phóng cho ta", phải lật đổ chế độ thực dân, phong kiến và xây dựng một xã hội mới - xã hội do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đi theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Vào giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, các dân tộc sống dưới ách thống trị của chủ nghĩa phát-xít có ba phương án lịch sử: Một là, chờ quân Đồng minh đến giải phóng, trao lại độc lập cho mình. Hai là, mong chiến tranh kết thúc, chấp nhận quy chế "quản thác", "ủy trị" của Liên hợp quốc (về thực chất, các dân tộc này vẫn nằm trong sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc dưới một danh nghĩa khác). Ba là, chớp thời cơ, đứng lên giành lấy độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dũng cảm lựa chọn phương án thứ ba, tiến hành cuộc cách mạng bạo lực (chính trị), lật đổ ách thống trị của thực dân, phát-xít và phong kiến, giành lại độc lập dân tộc, không để cho bất cứ một thế lực nào kịp can thiệp vào công việc của mình, kể cả lực lượng Đồng minh. Sự kiện đó đã đặt Liên hợp quốc và cả cộng đồng quốc tế trước một sự thật hiển nhiên: nền độc lập của dân tộc Việt Nam đã ra đời. Trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh viết: "Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp... Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa"(2). Không phải ngẫu nhiên Người khẳng định mạnh mẽ: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập"(3).

Với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc, xét về mặt pháp lý và đạo lý, là quyền tự nhiên của các dân tộc mà cộng đồng quốc tế phải thừa nhận. Tuy nhiên, trong thực tế, không một đế quốc nào lại tự nguyện trao lại độc lập cho các dân tộc thuộc địa. Muốn có độc lập thật sự, các dân tộc bị áp bức phải đứng lên giành lấy quyền đó bằng con đường đấu tranh cách mạng. Tương tự như vậy, quyền con người có cơ sở từ nhân phẩm vốn có của con người. Nhưng muốn có các quyền và tự do thật sự thì phải đấu tranh, trước hết là đấu tranh giành lấy những điều kiện cơ bản bảo đảm cho các quyền đó. Đối với các dân tộc bị áp bức, điều kiện tiên quyết là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Nói cách khác, quyền con người không thể không gắn liền với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Tất nhiên, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc không phải là tất cả những gì Người mong muốn. Theo Người, độc lập dân tộc phải đi đôi với tự do cho nhân dân. Người từng nói: cái mà tôi cần trên đời là đồng bào được tự do, dân tộc được độc lập. Muốn vậy, phải xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, tức là xây dựng một xã hội "trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc".

Lần đầu tiên cộng đồng quốc tế biết đến tư tưởng nhân quyền hiện đại từ Hiến chương của Liên hợp quốc năm 1945; tiếp đó từ văn kiện Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948.

Những văn kiện này, xét về nhiều phương diện, là thành tựu chính trị vĩ đại của nhân loại. Những tư tưởng cơ bản của chúng đang là cơ sở chính trị và đạo lý chung điều chỉnh quan hệ quốc tế của các dân tộc. Thế nhưng, những văn kiện này đã không tránh khỏi những khiếm khuyết, đó là: khái niệm nhân quyền chỉ là quyền của cá nhân. Những quyền này không tính đến các điều kiện chính trị, xã hội, truyền thống, lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc - trong đó có quyền dân tộc tự quyết.

Những khiếm khuyết trên đã được phát hiện và điều chỉnh trong các văn kiện cơ bản về quyền con người của Liên hợp quốc, từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX trở đi. Đó là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966); Tuyên bố Viên và Chương trình hành động (1993). Những văn kiện này xác định: quyền dân tộc tự quyết là một quyền con người - quyền tập thể của quyền con người. Điều 1 của hai công ước trên ghi: "Tất cả các dân tộc đều có quyền dân tộc tự quyết..."(4). Tuyên bố Viên và Chương trình hành động ghi: "Việc khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm nhân quyền"(5).

Tư tưởng về quyền dân tộc tự quyết với ý nghĩa là quyền tập thể của quyền con người đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập tới trong Tuyên ngôn độc lập. Đây có thể được xem như là phác thảo Điều 1 của hai công ước quốc tế về nhân quyền (1966). Như vậy, tư tưởng về quyền dân tộc tự quyết trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi trước nhận thức chung của cộng đồng quốc tế hơn 20 năm. Đó là đóng góp lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam trong việc phát triển sáng tạo tư tưởng nhân quyền của nhân loại ở thế kỷ XX.

Tư tưởng nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nằm trong Tuyên ngôn độc lập mà còn được thể hiện sâu sắc, phong phú trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, cả trên lĩnh vực lý luận và thực tiễn. Những nét đặc sắc trong tư tưởng nhân quyền của Hồ Chí Minh là:

- Quyền con người là thành quả sự phát triển liên tục của lịch sử. Các dân tộc có thể kế thừa, chia sẻ những giá trị nhân quyền của nhau;

- Quyền và phẩm giá của cá nhân gắn liền với quyền và phẩm giá của dân tộc;

- Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước là tiền đề, là điều kiện tiên quyết của quyền cá nhân;

- Quyền con người là lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, là bản chất của Nhà nước ta và của xã hội xã hội chủ nghĩa. Không có chế độ xã hội nào có nhiều khả năng, điều kiện bảo đảm quyền con người bằng xã hội xã hội chủ nghĩa.

- Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là nhân tố cơ bản bảo đảm các quyền con người;

- Trách nhiệm bảo đảm quyền con người không chỉ là của Nhà nước mà còn của tất cả các tổ chức hợp thành hệ thống chính trị;

- Bảo vệ độc lập dân tộc và quyền con người của dân tộc ta, đồng thời phải tôn trọng độc lập, chủ quyền và quyền con người của các dân tộc khác.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là kết tinh những tư tưởng nhân quyền tiến bộ nhất của các dân tộc trên thế giới; là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta; là nền tảng vững chắc trong việc hoạch định đường lối, chính sách, xây dựng pháp luật, hoạt động thực tiễn và trong công tác nghiên cứu lý luận của chúng ta về quyền con người.

 

* TS, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 4, tr 1
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 3
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 4
(4), (5) Dẫn theo Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người: Các văn kiện cơ bản về quyền con người, Hà Nội, 2002, tr 250, 43

 

Nguồn: Tạp chí Cộng sản số 17 (tháng 9-2005)

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện