Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Tuyên ngôn độc lập, văn kiện chính trị lớn, áng văn chính luận bất hủ

Hà Minh Đức

Trong quá trình phát triển lịch sử, dân tộc nào cũng có những văn kiện về dựng nước, khẳng định quyền độc lập dân tộc và được công bố trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Tuy nhiên cái hay, tầm vóc và sức hấp dẫn của các bản tuyên ngôn còn phụ thuộc vào lịch sử của dân tộc, giàu truyền thống văn hiến, nhiều chiến tích, nhiều giá trị tinh thần trong quá khứ và hiện tại. Và một điều quan trọng chính là tài năng của người chấp bút. Cả hai điều kiện ấy đều hội tụ đầy đủ trong những tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam. Lịch sử dân tộc Việt Nam có ba lần ghi lại qua những văn bản khẳng định quyền độc lập. Hai văn bản đầu có tính Tuyên ngôn độc lập và và Tuyên ngôn độc lập 1945 là văn kiện chính thống của Tuyên ngôn.

Trước hết là bài thơ Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam): Sông núi nước Nam vua Nam ở. Vua Nam ở đây ngoài nghĩa trực tiếp còn hàm nghĩa cho dân tộc, cho nhân dân. Chân lý ấy đã được sách trời khẳng định. Kẻ nào dám chống lại, sẽ thất bại thảm hại. Bốn câu thơ là lời cứu nước thiêng liên, là chân lý muôn đời.

Thứ hai là bài Bình Ngô đại cáo (Đại cáo dẹp yên giặc Ngô). Bình Ngô đại cáo là áng thiên cổ hùng văn viết năm 1428 khi nhân dân ta đánh thắng giặc Minh. Bài cáo tố cáo tội ác không thể dung tha của kẻ thù, dày xéo sông núi, hành hạ bao kiếp người nghèo khổ và tác giả làm nổi bật truyền thống văn hiến, văn hóa của dân tộc như sức mạnh bền vững, cái gốc của một dân tộc. Tác phẩm chứa chan tình cảm dân tộc và tinh thần trọng dân, vì dâ. Nguyễn Trãi với tài năng kiệt xuất đã đưa những ý tưởng lên tầm cao tư tưởng và vào chiều sâu cảm xúc. Những áng văn trên đều có tính chất như tuyên ngôn độc lập nên có người gọi Tuyên ngôn độc lập năm 1945 là bản tuyên ngôn độc lập thứ 3.

Tuyên ngôn độc lập là văn kiện chính trị lớn của dân tộc, tác phẩm văn chính luận có giá trị. Về phía khách quan nói như Trần Dân Tiến là “kết quả của bao nhiêu hy vọng gắng sức và tin trưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam”. Về phía chủ quan, tác giả, người chiến sỹ cách mạng sau nhiều năm vượt qua bao thử thách gian lao lần đầu tiên được cầm bút thảo tuyên ngôn độc lập cho dân tộc nên người xúc động và cảm thấy hứng thú.

Tuyên ngôn độc lập khẳng định quyền độc lập dân tộc dựa trên công lý về quyền con người, quyền độc lập dân tộc. Tuyên ngôn đã viện dẫn ý kiến hai bản Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp 1791. Sự viện dẫn tuyên ngôn của Mỹ và Pháp hai nước lớn có truyền thống dân chủ, bình đẳng và hôm nay họ đang đi ngược lại những nguyên tắc ấy của cha ông ở các dân tộc khác là rất có ý nghĩa. Những dẫn chứng trên cũng biểu thị sự am hiểu sâu sắc những giá trị văn hóa của nhân loại mà không dễ một chính khách nào cũng có được.

Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776 viết: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ có những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền không ấy có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Thực ra, để tạo nên quyền lực thiêng liêng cho bản Tuyên ngôn họ cũng phải viện dẫn đến quyền lực thiêng liêng là tạo hóa. Có nét tương đồng với bài Sông núi nước Nam khi nói đến sách trời đã định. Tuyên ngôn của Pháp cũng nhấn mạnh: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và luôn tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Những lời có ý nghĩa thiêng liêng trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 là của Jefferson và tôi đã có dịp thấy những dòng chữ này khắc trên biển đồng bên cạnh tượng Jefferson trong lâu đài tưởng niệm các nhân vật anh hùng ở Washington.

Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 đã nêu bật lên những ý tưởng và tình cảm lớn:

Trước hết là tư tưởng cao đẹp nhất của dân tộc là độc lập dân tộc và đối với mỗi thành viên là tình yêu tổ quốc độc lập tự do.

Hai là tư tưởng nhân bản về quyền con người, con người phải được sống tự do, hạnh phúc. Giáo sư Singô Sibata cho rằng: “Cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ đã phát triển quyền con người thành quyền của dân tộc”.

Ở đây cũng cần nhấn mạnh sáng tạo của tuyên ngôn. Quyền con người và quyền dân tộc không thể tách rời nhau. Quyền con người không phải là một giá trị ở ngoài một đất nước, mỗi dân tộc mà thực chất có dân tộc độc lập mới có quyền con người.

Nội dung Tuyên ngôn độc lập đã đề cập những vấn đề cơ bản:

Trước hết là vạch trần kẻ thù đã gây tội ác suốt hàng trăm năm xâm lược đất nước ta. Sự kết tội mang tính chất như bản án, đanh thép, căm thù với tinh thần phê phán tiếp tục từ Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925. Tội ác lại chồng chất thêm tội ác mới.

Thứ hai là tố cáo tính chất hèn nhát của Pháp quỳ gối đầu hàng và dâng Đông Dương cho Nhật. Như thế là “dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp” và rồi “Mọi cam kết của bọn Pháp đã bị xóa bỏ”.

Ý tưởng trên thật tinh tường và thuyết phục vừa để tố cáo tính hèn nhác của Pháp và cắt đứt mọi quan hệ với thực dân Pháp.

- Tuyên ngôn độc lập ca ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam suốt chặng đường lịch sử với tinh thần kiên cường, gan góc từ các phong trào văn thân như Phan Đình Phùng, phong trào yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đến thời kỳ cách mạng vô sản.

- Nhân dân Việt Nam đã đứng về phe đồng minh trong nhiều năm kiên quyết chiến đấu chống phát xít phù hợp với hướng đi của thời đại.

Tất cả chính xác, chặt chẽ, hợp lý.

Bản Tuyên ngôn độc lập có giá trị về nhiều mặt, chính trị, xã hội, pháp luật, văn học. Viết Tuyên ngôn độc lập Người không nhằm sáng tác văn chương. Công việc rộng lớn hơn, bao trùm lên nhiều lĩnh vực, ý tưởng cảm xúc vượt lên khỏi cảm hứng riêng của cá nhân nhưng Tuyên ngôn có giá trị văn học.

Tuyên ngôn độc lập cũng là áng văn chính luận có giá trị văn chương. Áng văn giàu chất trí tuệ, chứa đựng những tư tưởng cao đẹp, giàu giá trị nhân bản. Không khô khan, lý trí mà giàu cảm hứng, không bi lụy, cảm thương, mà có giọng điệu hùng tráng quyết đoán, uyển chuyển, thuyết phục.

Về ngôn ngữ. Người ta thường nhắc đến ngôn từ của những văn bản đặc biệt, ngôn ngữ của thánh kinh, của thơ trữ tình, của tuyên ngôn. Văn bản đã đạt chuẩn mực của ngôn ngữ tuyên ngôn, chắt lọc chuẩn mực, trong sáng, ngân vang, nhiều màu vẻ. Đó là ngôn ngữ chính luận đẹp có giá trị văn chương.

60 năm đã qua từ ngày bản Tuyên ngôn độc lập được công bố 2.9.1945 với giọng đọc trang trọng, ấm áp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản tuyên ngôn đã đi vào lòng người như sự thức tỉnh, niềm tin và sức mạnh của dân tộc và tương lai tươi đẹp.

Đó là áng văn bất hủ góp phần làm nên cốt cách và tâm hồn của dân tộc. 

Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân, số 158 ngày  2-9-2005 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện