|
Tuyên
ngôn độc lập, văn kiện chính trị lớn, áng văn
chính luận bất hủ
Hà Minh Đức
Trong quá trình phát triển lịch sử, dân tộc nào
cũng có những văn kiện về dựng nước, khẳng định
quyền độc lập dân tộc và được công bố trong hoàn
cảnh lịch sử đặc biệt. Tuy nhiên cái hay, tầm
vóc và sức hấp dẫn của các bản tuyên ngôn còn
phụ thuộc vào lịch sử của dân tộc, giàu truyền
thống văn hiến, nhiều chiến tích, nhiều giá trị
tinh thần trong quá khứ và hiện tại. Và một điều
quan trọng chính là tài năng của người chấp bút.
Cả hai điều kiện ấy đều hội tụ đầy đủ trong
những tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam.
Lịch sử dân tộc Việt Nam có ba lần ghi lại qua
những văn bản khẳng định quyền độc lập. Hai văn
bản đầu có tính Tuyên ngôn độc lập và và
Tuyên ngôn độc lập 1945 là văn kiện chính
thống của Tuyên ngôn.
Trước hết là bài thơ Nam quốc sơn hà (Sông
núi nước Nam): Sông núi nước Nam vua Nam ở. Vua
Nam ở đây ngoài nghĩa trực tiếp còn hàm nghĩa
cho dân tộc, cho nhân dân. Chân lý ấy đã được
sách trời khẳng định. Kẻ nào dám chống lại, sẽ
thất bại thảm hại. Bốn câu thơ là lời cứu nước
thiêng liên, là chân lý muôn đời.
Thứ hai là bài Bình Ngô đại cáo (Đại cáo
dẹp yên giặc Ngô). Bình Ngô đại cáo là
áng thiên cổ hùng văn viết năm 1428 khi
nhân dân ta đánh thắng giặc Minh. Bài cáo tố cáo
tội ác không thể dung tha của kẻ thù, dày xéo
sông núi, hành hạ bao kiếp người nghèo khổ và
tác giả làm nổi bật truyền thống văn hiến, văn
hóa của dân tộc như sức mạnh bền vững, cái gốc
của một dân tộc. Tác phẩm chứa chan tình cảm dân
tộc và tinh thần trọng dân, vì dâ. Nguyễn Trãi
với tài năng kiệt xuất đã đưa những ý tưởng lên
tầm cao tư tưởng và vào chiều sâu cảm xúc. Những
áng văn trên đều có tính chất như tuyên ngôn độc
lập nên có người gọi Tuyên ngôn độc lập
năm 1945 là bản tuyên ngôn độc lập thứ 3.
Tuyên ngôn độc lập
là văn kiện chính trị lớn của dân tộc, tác phẩm
văn chính luận có giá trị. Về phía khách quan
nói như Trần Dân Tiến là “kết quả của bao
nhiêu hy vọng gắng sức và tin trưởng của hơn hai
mươi triệu nhân dân Việt Nam”. Về phía chủ
quan, tác giả, người chiến sỹ cách mạng sau
nhiều năm vượt qua bao thử thách gian lao lần
đầu tiên được cầm bút thảo tuyên ngôn độc lập
cho dân tộc nên người xúc động và cảm thấy hứng
thú.
Tuyên ngôn độc lập
khẳng định quyền độc lập dân tộc dựa trên
công lý về quyền con người, quyền độc lập
dân tộc. Tuyên ngôn đã viện dẫn ý kiến hai
bản Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ và Tuyên
ngôn nhân quyền của Pháp 1791. Sự viện dẫn
tuyên ngôn của Mỹ và Pháp hai nước lớn có truyền
thống dân chủ, bình đẳng và hôm nay họ đang đi
ngược lại những nguyên tắc ấy của cha ông ở các
dân tộc khác là rất có ý nghĩa. Những dẫn chứng
trên cũng biểu thị sự am hiểu sâu sắc những giá
trị văn hóa của nhân loại mà không dễ một chính
khách nào cũng có được.
Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776
viết: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng.
Tạo hóa cho họ có những quyền không ai có thể
xâm phạm được, trong những quyền không ấy có
quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh
phúc”. Thực ra, để tạo nên quyền lực thiêng
liêng cho bản Tuyên ngôn họ cũng phải viện dẫn
đến quyền lực thiêng liêng là tạo hóa. Có nét
tương đồng với bài Sông núi nước Nam khi
nói đến sách trời đã định. Tuyên ngôn của Pháp
cũng nhấn mạnh: “Người ta sinh ra tự do và bình
đẳng về quyền lợi và luôn tự do và bình đẳng về
quyền lợi”. Những lời có ý nghĩa thiêng liêng
trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 là của
Jefferson và tôi đã có dịp thấy những dòng chữ
này khắc trên biển đồng bên cạnh tượng Jefferson
trong lâu đài tưởng niệm các nhân vật anh hùng ở
Washington.
Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 đã nêu
bật lên những ý tưởng và tình cảm lớn:
Trước hết là tư tưởng cao đẹp nhất của dân
tộc là độc lập dân tộc và đối với mỗi thành
viên là tình yêu tổ quốc độc lập tự do.
Hai là tư tưởng nhân bản về quyền con người,
con người phải được sống tự do, hạnh phúc. Giáo
sư Singô Sibata cho rằng: “Cống hiến nổi tiếng
của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ đã phát triển quyền
con người thành quyền của dân tộc”.
Ở đây cũng cần nhấn mạnh sáng tạo của tuyên ngôn.
Quyền con người và quyền dân tộc không thể tách
rời nhau. Quyền con người không phải là một giá
trị ở ngoài một đất nước, mỗi dân tộc mà thực
chất có dân tộc độc lập mới có quyền con người.
Nội dung Tuyên ngôn độc lập đã đề cập
những vấn đề cơ bản:
Trước hết là vạch trần kẻ thù đã gây tội
ác suốt hàng trăm năm xâm lược đất nước ta. Sự
kết tội mang tính chất như bản án, đanh thép,
căm thù với tinh thần phê phán tiếp tục từ
Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925. Tội ác
lại chồng chất thêm tội ác mới.
Thứ hai là tố cáo tính chất hèn nhát của Pháp
quỳ gối đầu hàng và dâng Đông Dương cho Nhật.
Như thế là “dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ
tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp” và rồi “Mọi
cam kết của bọn Pháp đã bị xóa bỏ”.
Ý tưởng trên thật tinh tường và thuyết phục vừa
để tố cáo tính hèn nhác của Pháp và cắt đứt mọi
quan hệ với thực dân Pháp.
- Tuyên ngôn độc lập ca ngợi tinh thần
đấu tranh của nhân dân Việt Nam suốt chặng đường
lịch sử với tinh thần kiên cường, gan góc từ các
phong trào văn thân như Phan Đình Phùng, phong
trào yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh
đến thời kỳ cách mạng vô sản.
- Nhân dân Việt Nam đã đứng về phe đồng minh
trong nhiều năm kiên quyết chiến đấu chống phát
xít phù hợp với hướng đi của thời đại.
Tất cả chính xác, chặt chẽ, hợp lý.
Bản Tuyên ngôn độc lập có giá trị về
nhiều mặt, chính trị, xã hội, pháp luật, văn học.
Viết Tuyên ngôn độc lập Người không nhằm
sáng tác văn chương. Công việc rộng lớn hơn, bao
trùm lên nhiều lĩnh vực, ý tưởng cảm xúc vượt
lên khỏi cảm hứng riêng của cá nhân nhưng
Tuyên ngôn có giá trị văn học.
Tuyên ngôn độc lập
cũng là áng văn chính luận có giá trị văn chương.
Áng văn giàu chất trí tuệ, chứa đựng những tư
tưởng cao đẹp, giàu giá trị nhân bản. Không khô
khan, lý trí mà giàu cảm hứng, không bi lụy, cảm
thương, mà có giọng điệu hùng tráng quyết đoán,
uyển chuyển, thuyết phục.
Về ngôn ngữ.
Người ta thường nhắc đến ngôn từ của những văn
bản đặc biệt, ngôn ngữ của thánh kinh, của
thơ trữ tình, của tuyên ngôn. Văn bản đã đạt
chuẩn mực của ngôn ngữ tuyên ngôn, chắt lọc
chuẩn mực, trong sáng, ngân vang, nhiều màu
vẻ. Đó là ngôn ngữ chính luận đẹp có giá trị văn
chương.
60 năm đã qua từ ngày bản Tuyên ngôn độc lập
được công bố 2.9.1945 với giọng đọc trang trọng,
ấm áp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản tuyên ngôn
đã đi vào lòng người như sự thức tỉnh, niềm tin
và sức mạnh của dân tộc và tương lai tươi đẹp.
Đó là áng văn bất hủ góp phần làm nên cốt cách
và tâm hồn của dân tộc.
Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân, số 158 ngày
2-9-2005 |