|
Ước mơ nhỏ của
một Anh hùng
Ghi chép của
Quang Vũ
Khi còn đi học, tôi đã từng được biết về
người Anh hùng Hồ Giáo – Nhân vật chính
trong tác phẩm Cỏ non của nhà văn Hồ Phương.
Tình cờ tôi được biết Anh hùng Hồ Giáo, vị
ĐBQH ba khóa liền từ khóa IV đến khóa VI nay
đã về nghỉ hưu tại một vùng ngoại ô thành
phố Quảng Ngãi và tuy đã lên “lão” nhưng ông
vẫn tiếp tục chăn trâu. Nhân dịp vào công
tác ở Quảng Ngãi, tôi quyết tìm gặp bằng
được người Anh hùng năm xưa.
Cái nghiệp vận vào thân
Quảng Ngãi những ngày cuối năm trời se lạnh và
mưa nhiều. Ngày chủ nhật, tôi quyết định đi tìm
gặp ông Hồ Giáo. Ra khỏi nhà khách tôi vẫy một
cuốc xe ôm và thật may anh xe ôm tên là Tường
lại là người cùng quê với ông Hồ Giáo, làng
Phước Lộc, xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh. Đúng là
“hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”. Anh Tường
biết nhà ông Hồ Giáo nên chỉ khoảng nửa giờ vòng
vèo qua mấy con phố ngoại ô ngập nước, chúng tôi
đã đến được nhà ông Hồ Giáo. Căn nhà cấp 4 của
ông khiêm tốn nằm giữa khu phố ngoại ô nghèo.
Chúng tôi bước vào nhà, căn nhà trống trơn,
không đồ đạc đắt tiền nhưng rất sạch sẽ. Trong
phòng khách, bộ bàn ghế gỗ cũ kỹ được xếp chồng
một góc, còn trên tường có mấy cuốn sách dạy
chăn nuôi đã vàng ố. Có lẽ đó là thứ duy nhất để
tôi khẳng định là mình không bị nhầm nhà. Bởi
tôi cứ nghĩ nhà của người được phong hai lần Anh
hùng Lao động chắc phải có cái gì đó khác người.
Căn nhà trống vắng. Tôi gọi mãi mới có một bà
già quần xắn móng lợn, tay còn lấm bùn nước từ
vườn sau nhà chạy ra chào. Bà tự giới thiệu bà
tên Thành, vợ của ông Hồ Giáo. Qua câu chuyện
của bà Thành kể thì muốn gặp ông Hồ Giáo phải
lên trại trâu của tỉnh ở xã Hành Thuận, huyện
Nghĩa Hành cách đây gần chục cây số.
Tạm biệt bà Thành, chúng tôi tìm đường đến trại
nuôi trâu nơi ông Hồ Giáo đang làm việc. Trong
cơn mưa, từ xa, anh xe ôm chỉ cho tôi thấy một
người khoác ni lông, đội nón lá đang khom lưng
cắt cỏ trên ruộng bảo “ông Hồ Giáo đấy, nhìn là
tôi nhận ra ngay”. Ông Hồ Giáo không biết chúng
tôi đến. Anh xe ôm bảo “ông ấy ấy bị nặng tai,
năm nay chắc cũng ngần 80 tuổi rồi chứ đâu ít”.
Tôi lặng yên một lúc ngắm nhìn ông. Ông vẫn cần
mẫn cắt cỏ dưới trời mưa.
Anh xe ôm gọi lớn, “Ông Hồ Giáo! có người đến
thăm ông”. Ông ngước nhìn chúng tôi rồi cười
thật hiền. Qua màn chào hỏi giới thiệu. Ông nói:
“hình như chú mới Hà Nội vô”. Ông lặng đi trong
giây lát, rồi nói: “Hơn 20 năm tui ở ngoài ấy,
vô trong này lại nhớ miền Bắc”. Lại nhận ra anh
xe ôm là người cùng làng nên ông càng thoải mái
chuyện trò. Ông kể cho chúng tôi nghe về cuộc
đời ông. Ông sinh năm 1929, là con cả một gia
đình đông con. Từ nhỏ ông phải đi ở, làm mướn,
15 tuổi theo Việt Minh làm du kích rồi vào bộ
đội Liên khu 5 chống Pháp. Sau Hiệp định
Gieneve, ông tập kết ra miền Bắc. Đến năm 1960,
ông được chuyển ngành về chăn nuôi bò sữa ở Nông
trường Ba Vì. Từ công việc mới này ông Hồ Giáo
đã nổi tiếng là người cần cù, có nhiều sáng
kiến và được Nhà nước phong tặng Anh hùng Lao
động. Sau ngày đất nước thống nhất, Chính phủ ấn
Độ viện trợ cho nước ta 500 con trâu sữa giống
Mura. Anh hùng Hồ Giáo được cử vào Sông Bé gánh
vác nhiệm vụ nuôi trâu. 15 năm nuôi giống trâu
ấn Độ, ông đã cùng Nông trường Sông Bé nhân đàn
trâu Mura lên hơn 2 ngàn con, vừa nuôi lấy sữa
vừa thuần hóa được chúng để cày, kéo. Với chiến
công mới ông tiếp tục được Nhà nước phong tặng
Anh hùng Lao động lần thứ hai.
Có lẽ vì nhiệt huyết dành cả cho công việc chăn
nuôi nên mãi đến tuổi ngoại ngũ tuần ông mới
lấy vợ. Chuyện lấy vợ của ông cũng bất ngờ. Nhân
dịp về phép quê người cháu của ông giới thiệu
cho ông làm quen với cô Huỳnh Thị Thành cũng là
bộ đội chống Mỹ chuyển ngành. Năm ấy cô Thành đã
46 tuổi, đám cưới của hai người tổ chức ở quê
thật giản dị. Cưới xong, vợ chồng ông lại mỗi
người một ngả. Ông Hồ Giáo vào lại sông Bé chăn
trâu, còn cô Thành lo chuyển về cơ quan mới ổn
định công tác, mỗi năm đôi bận vợ chồng mới được
gần gũi bên nhau. Năm 1990, ông được nghỉ hưu.
Hơn nửa đời người chinh chiến, chăn bò, nuôi
trâu từ Bắc chí Nam nay ông Hồ Giáo muốn được về
sống ở miền quê núi ấn, Sông Trà thân thương,
nơi đó có người vợ và cô con gái nhỏ đang đợi
ông. Được tin Hồ Giáo nghỉ hưu, bác Phạm Văn
Đồng, nguyên Thủ tướng Chính phủ mời đến nhà
chơi rồi giao nhiệm vụ cho ông về quê tiếp tục
nuôi trâu Mura nhân rộng phong trào chăn nuôi ở
Quảng Ngãi. Và suốt từ đó đến nay, như là một
cái nghiệp vận vào thân, Anh hùng Hồ Giáo tiếp
tục công việc tại trại nuôi trâu của tỉnh.
Ước mơ nhỏ của một Anh hùng
Cái cơ ngơi trại chăn nuôi nơi ông Hồ Giáo làm
việc trông thật tiêu điều và vắng vẻ. Trại chỉ
có 2 người làm việc, ngoài ông có thêm một thanh
niên mới về làm được mấy tháng. Một già, một trẻ
và ba con trâu. Gọi là trại chăn nuôi của tỉnh
đặt cho sang chứ cả khu đất khoảng 2 ha chỉ có
bốn ngôi nhà hai dãy chuồng trâu. Hai cái nhà
kho nay đã xuống cấp mái bị sập nhiều chỗ.
Câu chuyện ông Hồ Giáo tiếp tục kể với chúng tôi
trong cơn mưa về hoàn cảnh hiện tại về đàn trâu
và cả ước mơ nhỏ của ông sắp tới thật chạnh
lòng. Ngày ông mang theo một tấm lòng nhiệt
huyết và 15 con trâu giống Mura của bác Phạm Văn
Đồng tặng nhân dân Quảng Ngãi. Để ông yên tâm
nuôi trâu cho tỉnh, khi ấy lãnh đạo địa phương
đã hứa giúp ông 20 triệu đồng để mua nhà nhưng
đến nay lời hứa vẫn chưa được ai thực hiện. Căn
nhà cấp bốn hiện gia đình ông đang ở là tiền 15
năm tiết kiệm từ khoản lương hưu ít ỏi của hai
ông bà, tiền nuôi heo, trông trẻ thuê của vợ ông
và một phần tiền hảo tâm tình nghĩa của các cơ
quan, đơn vị nơi ông từng công tác. Xuân này ông
Hồ Giáo rất vui vì hết năm con Gà này vợ chồng
ông đã trả xong món nợ mua nhà.
Ở cái tuổi “cổ lai hy”, nhưng gia đình ông Hồ
Giáo vẫn ít khi được sum vầy ấm cúng. Ngày ngày
ông phải dậy từ sáng tinh mơ đi bộ gần chục cây
số đến trại trâu làm việc đến xẩm tối tối mới
về. Còn con gái duy nhất của ông từ ngày học
xong Cao đẳng Sư phạm tỉnh được ngành điều lên
dạy tít trên xã rẻo cao huyện miền núi Sơn Hà,
cách thành phố Quảng Ngãi cả trăm cây số chẳng
mấy khi về. Đã có lúc ông đến Sở Nội vụ, Sở
GD-ĐT xin cho cô con gái được về dạy gần nhà để
thay ông chăm sóc sức khỏe bà nhà nhưng không
được. Ông Hồ Giáo cười buồn nói: Tôi lên sở
trình bày nguyện vọng được lãnh đạo động viên
nhiệt tình lắm “bác là người có công, bác là bộ
đội chống Pháp, là Anh hùng, cô cũng là bộ đội
chống Mỹ, hai bác chỉ có một người con, Đảng,
Nhà nước và chúng tôi phải lo, giúp bác chứ”,
rồi thôi, đến nay cháu vẫn dạy trên đó. Nhưng
điều tôi buồn hơn là sau đó có người đến bảo tôi
“phải chạy 50 triệu thì cháu mới được về thành
phố còn 25 triệu thì phải về các huyện đồng
bằng”. Không biết thực hư thế nào nhưng tôi
không đi xin cho cháu nữa vì có trẻ lại một đời
tôi cũng không kiếm đâu ra tiền để chạy.
Câu chuyện lại phải tạm ngừng, đã đến giờ cho
trâu ăn trưa. Ông Hồ Giáo vội đi lấy cỏ cho trâu
ăn, đôi tay của ông xới cỏ rơm vẫn nhanh nhẹn và
thành thục lắm. Chỉ vài phút ông đã xong việc
ông tiếp tục câu chuyện dang dở.
Một điều buồn nhất của ông là đàn trâu của bác
Phạm Văn Đồng cho tỉnh giao ông nuôi cứ ngày một
teo tóp dần, bây giờ chỉ còn có ba con. Ông bấm
đốt tay nhẩm tính đã có hơn trăm con trâu do ông
nhân đàn đã được tỉnh đưa đi cấp phát cho các
huyện, làm quà biếu các tỉnh bây giờ ông cũng
không biết chúng có được nuôi nấng tốt hay
không. Ông Hồ Giáo buồn rầu nói: “Đã lâu không
có lãnh đạo nào đến thăm trại trâu để tôi bày tỏ
tâm tư. Chuồng trại sập đến nơi rồi, con trâu
cái cũng già lắm, có lẽ nay mai trại không còn
nuôi trâu nữa”. “Chú ở ngoải vô tôi muốn nhờ chú
một việc. Nếu chú gặp được ông Cao Đức Phát, ông
Bộ trưởng Bộ NN và PTNT, tốt nhất là gặp được
Chủ tịch Nước Trần Đức Lương nói hộ giùm tôi là
mình nên giữ và phát triển giống trâu sữa Mura.
Có lợi lắm. Nó vừa cho sữa, cho sức kéo, thịt
lại ngon như thịt bò. Nhiều năm nuôi chúng tôi
biết giống trâu này dễ nuôi, rất hợp với khí hậu
nước mình”.
Tôi nói với ông rằng tôi có thể viết báo về mong
ước của ông chứ khó có thể chuyển lời của bác
được. Ông nhìn tôi ngập ngừng một lúc rồi nói
“Thôi chú ạ có nói người ta chưa chắc đã nghe.
Bây giờ người ta làm nhiều thứ ra tiền nhiều
hơn, những kinh nghiệm chăn nuôi truyền thống
chắc chẳng ai cần thiết nữa”. Tôi động viên ông
nên viết sách về kinh nghiệm nuôi trâu, bò của
ông cho lớp người sau nhưng ông lắc đầu nói ngày
xưa ông mù chữ cho đến khi về nông trường Ba Vì
mới được học chữ vốn chữ nghĩa chăng được bao
lăm, nói chuyện cắt cỏ, vắt sữa, hiểu được tình
cảm của con trâu, con bò thì dễ chứ động đến
chuyện viết lách còn khó hơn lên trời. Ông nói
thêm “Mong ước lớn nhất của tôi là được tiếp tục
chăm sóc những con trâu, con bò chúng hiền lành
và dễ thương lắm. Tôi dự định sang Xuân xin nghỉ
việc ở đây về quê giúp dân làng nuôi trâu, bò
chứ ở đây chắc chẳng còn gì để nuôi buồn lắm”.
Cái ước mong thật khác lạ với người bình thường
chứ không lạ đối ông Hồ Giáo một người yêu
thương trâu, bò như con. Chỉ có vậy mới hiểu
được việc làm phi thường của ông, ở cái tuổi gần
tám mươi ông vẫn đi bộ hơn chục cây số mỗi ngày
để đến chăm sóc cho đàn trâu, cho chúng ăn, tắm
rửa cho chúng đúng giờ giấc. Có lẽ với ông Hồ
Giáo bây giờ niềm mong ước to lớn nhất đối của
ông đó là vẫn được làm công việc ông đã làm gần
như trọn cuộc đời.
Trời đã xế chiều. Từ chối lời mời cơm của ông Hồ
Giáo. Chúng tôi ra về. Trên đường đi, trong đầu
tôi cứ đồng hiện hình ảnh Anh hùng chăn bò Hồ
Giáo hồn nhiên thời trai trẻ qua những câu thơ
tôi được học trong sách “... Hỏi anh có thú
gì/ Anh cười vui thú đời đi chăn bò/ Cách mạng
cần việc nhỏ việc to/ Đánh Mỹ nuôi bò việc gì
cũng tốt...” và hình ảnh một ông già gần tám
mươi tuổi vẫn còng lưng cắt cỏ trong mưa, thật
là hiếm có trên đời.
Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân |