|
Vai trò của Hồ Chí Minh đối với Cách mạng Tháng
Tám (1945)
Thế chiến thứ hai bùng nổ (1-9-1939), ở nước
này nước khác, nơi này nơi khác, đảng này
đảng khác bị bất ngờ về thời gian, quy mô,
chiều hướng phát triển của chiến tranh.
Nhưng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam
không hề như vậy.
Ngay
từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã cảnh báo: Tương lai
có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế
giới... Những hành động đế quốc chủ nghĩa ấy
không những chỉ nguy cho riêng vận mệnh của giai
cấp vô sản Đông Dương và Thái Bình Dương, mà nó
còn nguy cho cả giai cấp vô sản quốc tế nữa. Nhờ
vậy, Đảng ta đã có một số chủ trương biện pháp
chuẩn bị đề phòng khi chiến tranh bùng nổ."
Thông cáo cho các đồng chí các cấp bộ" ngay sau
khi xảy ra chiến tranh, nhất là các HNTW 6
(11-1939), 7 (11- 1940) đã phân tích tình hình
trong và ngoài nước, các mâu thuẫn cơ bản và chủ
yếu trước mắt, quyết định điều chỉnh về đường
lối và phương pháp cách mạng, nêu cao nhiệm vụ
giải phóng dân tộc, tập trung mũi nhọn vào chống
bọn đế quốc và tay sai.
Đặc biệt, đến HNTW 8 (5-1941), với sự chủ trì
của Hồ Chí Minh, đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng
chỉ đạo chiến lược , vạch ra những chính sách cụ
thể, sát hợp nhằm giải quyết mục tiêu số 1 của
cách mạng là độc lập dân tộc, giải quyết đúng
đắn mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, giữa
độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Từ sự điều chỉnh đến sự hoàn chỉnh đường lối là
cả một quá trình : hơn một thập kỷ đấu tranh
cách mạng đầy cam go và phức tạp từ nhiều phía,
Hồ Chí Minh đã kiên trì, nhẫn nại và biết chờ
đợi, chịu đựng mọi thử thách, phê phán, thậm chí
sự hiểu lầm từ một số đồng chí, đồng sự... để
đạt được sự nhất trí cao giữa lãnh tụ với Ban
Chấp hành Trung ương và với toàn Đảng.
Tư tưởng về giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh
trở thành đường lối chung của toàn Đảng chứng tỏ
sự trưởng thành vượt bậc về tư tưởng chính trị,
về lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng. Sự trưởng thành đó bảo đảm cho Đảng
vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng, kể cả
những khi lãnh tụ tạm thời vắng mặt. Có thể
khẳng định rằng, việc khởi xướng, phát triển,
và hoàn chỉnh quá trình điều chỉnh đường lối
cách mạng giải phóng dân tộc - nguyên nhân
hàng đầu bảo đảm đoàn kết, nhất trí trong toàn
Đảng, toàn dân dẫn đến thắng lợi của Cách mạng
Tháng Tám (1945) - công lao trước hết thuộc về
Hồ Chí Minh.
Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc
của Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chi phối chủ
trương xây dựng lực lượng, phương thức đấu
tranh, phương thức khởi nghĩa giành chính quyền
trong Cách mạng Tháng Tám. Ở lĩnh vực này, Hồ
Chí Minh có những cống hiến nổi bật.
Về xây dựng lực lượng cách mạng: Hồ Chí
Minh coi trọng vai trò của giai cấp công nhân,
nông dân và liên minh công nông, nhưng Người
không xem nhẹ vai trò cách mạng của các giai
cấp, tầng lớp khác. Người từng nói, công nông là
gốc cách mạng. Học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ
nhỏ đều là bầu bạn cách mạng của công nông. Đảng
phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức,
trung nông và phú nông, trung tiểu địa chủ, tư
sản chưa rõ mặt phản cách mạng, chí ít làm cho
họ trung lập... Người lại nói:"Việc cứu nước là
việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai
gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp
tiền, người có của góp của, người có sức góp
sức, có tài năng góp tài năng".
Đoàn kết toàn dân là một tư tưởng lớn của Hồ Chí
Minh. Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, nhất
thiết phải mở rộng đoàn kết dân tộc, nhất thiết
phải thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất. Và
đây chính là tư tưởng, sáng kiến của Người: Việt
Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt
Minh đã được thành lập và đã đáp ứng đúng yêu
cầu lịch sử, phù hợp với nguyện vọng của toàn
dân, trong một thời gian ngắn, Việt Minh đã phát
triển thành một tổ chức rộng lớn, mạnh mẽ. Đồng
chí Võ Nguyên Giáp đã nhận xét rằng: "Cái vĩ đại
của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã tìm ra những hình
thức tốt nhất để tổ chức nhân dân"
Điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh và Đảng ta trong
chuẩn bị khởi nghĩa là chú trọng xây dựng cả hai
lực lượng: lực lượng chính trị và lực lượng vũ
trang. Trên cơ sở xây dựng và phát triển lực
lượng chính trị, xây dựng và phát triển lực
lượng vũ trang; cơ sở chính trị mở rộng đến đâu,
xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang đến
đó. Ngay khi vừa về Pác bó, cùng với việc trực
tiếp chỉ đạo xây dựng phong trào Việt Minh ở Cao
Bằng, Hồ Chí Minh đã lựa chọn một số hội viên
cứu quốc gửi ra nước ngoài đào tạo về quân sự.
Cũng thời gian này, Người biên soạn và biên dịch
một loạt tài liệu để huấn luyện quân sự như:
Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Tàu, Kinh
nghiệm du kích Pháp, Kinh nghiệm du kích Nga,
Phép dùng binh của Tôn Tử, Mười điều kỷ luật,
Cách huấn luyện cán bộ quân sự... Và đặc biệt,
Người đã Chỉ thị thành lập đội vũ trang chính
quy mang tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân. Bản chỉ thị nêu rõ lý do phải tập
trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên,
phải vũ trang toàn dân; nêu rõ phương châm tác
chiến, phối hợp tác chiến, chiến thuật, mối quan
hệ giữa đội chủ lực với vũ trang địa phương...
Chỉ với những tài liệu và chỉ thị, với cách thức
tổ chức, huấn luyện và sự quan tâm thiết thực
của Hồ Chí Minh đối với cán bộ, chiến sĩ trong
thời gian này cũng đủ nói lên rằng, Hồ Chí Minh
là người đầu tiên nêu rõ những quan điểm quân sự
của Đảng ta một cách có hệ thống, là người đặt
cơ sở cho lý luận quân sự hiện đại Việt Nam.
Hồ Chí Minh là người sáng lập lực lượng vũ trang
cách mạng, là người cha thân yêu của quân
đội nhân dân Việt Nam.
Đề cao tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường, phát
huy nội lực nhưng Hồ Chí Minh lại tìm mọi khả
năng tranh thủ ngoại lực, tranh thủ Đồng
minh. Những hoạt động thực tiễn của Người
(từ trung tuần tháng 8-1942 đến cuối tháng 9 -
1944) trong điều kiện đầy cạm bẫy và phức tạp
trên đường đi liên lạc với các lực lượng người
Việt Nam ở ngoài nước và lực lượng Đồng minh. Hồ
Chí Minh đã biến cái rủi thành cái may, cái
không thể thành cái có thể với chính quyền Quốc
dân đảng Trung Hoa và Mỹ. Ở đây, Người đã thực
hiện sáng tạo lời chỉ dẫn của Lê-nin và góp một
cống hiến quý giá về chủ trương thêm bạn, bớt
thù trong Cách mạng Tháng Tám. Đó là: Chỉ có thể
thắng được kẻ địch mạnh hơn bằng một sự nỗ lực
hết sức lớn và với điều kiện bắt buộc là
phải lợi dụng một cách tỉ mỉ, hết sức chăm chú,
hết sức cẩn thận, hết sức khôn khéo, bất cứ một
"rạn nứt" bé nhỏ nhất nào giữa các kẻ thù...
Cũng như phải lợi dụng mọi khả năng dù bé nhỏ
nhất để nắm cho được một bạn đồng minh mạnh về
số lượng; dù đó là một bạn đồng minh tạm thời,
bấp bênh, có điều kiện, ít vững chắc và ít đáng
tin cậy.
Do vậy, Hồ Chí Minh đã "tranh thủ" được sự giúp
đỡ của Đồng minh . Cho nên đến những ngày đầu
tháng 5 - 1945 , quân và dân ta vẫn còn nhận
được một số thuốc men, vũ khí để đánh Phát xít
Nhật.
Thời cơ của cuộc Cách mạng Tháng Tám (1945) xuất
hiện vào lúc cao trào chống Nhật cứu nước lên
đến đỉnh cao, khi Chiến tranh Thế giới thứ hai
sắp kết thúc, bọn Phát xít Nhật đã bị bại trận,
chính quyền bù nhìn tay sai tan rã, quân Anh, Mỹ
và chư hầu chưa kịp đến. Chính lúc đó, Lời kêu
gọi Tổng khởi nghĩa của lãnh tụ Hồ Chí Minh -
kết tinh quyết tâm Hội nghị toàn quốc của Đảng
(14-15/8) và Quốc dân Đại hội ở Tân Trào
(16-17/8) đã phát động "Toàn quốc đồng bào hãy
đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta ".
Cách mạng Tháng Tám nổ ra đúng lúc, đúng nơi, và
thành công nhanh chóng. Đó là cả một nghệ thuật
phân tích và dự báo chính xác, nắm bắt thời cơ
tài giỏi của Đảng ta, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí
Minh. Với bản "Tuyên ngôn độc lập" bất hủ, Người
đã khai sinh ra chế độ mới, khai sinh ra chính
quyền mới - chính quyền của dân, do dân, vì dân.
*
*
*
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám (1945) là
thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng
dân tộc mà ý nghĩa của những tư tưởng đó vẫn còn
giá trị lâu dài . Nhiều bài học kinh nghiệm
trong Cách mạng Tháng Tám (1945) của Đảng ta và
Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể vận dụng vào sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay:
- Bài học về sự kiên quyết điều chỉnh đường lối
cách mạng khi cần, trên cơ sở phương hướng chiến
lược cách mạng đúng đắn, mục tiêu cách mạng nhất
quán. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, Đảng
không ngừng bổ sung, phát triển, cụ thể hóa
đường lối cho phù hợp với tình hình trong nước
và quốc tế.
- Bài học về tập hợp, đoàn kết, lôi cuốn toàn
dân tham gia sự nghiệp cách mạng, tham gia sự
nghiệp xây dựng đất nước. Nâng cao ý thức tự lực
tự cường, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của
dân tộc, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế; thực
hiện có hiệu quả chủ trương Việt Nam muốn là
bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng
đồng quốc tế vì hòa bình, độc lập và phát triển.
- Bài học về xây dựng và củng cố nền quốc phòng
toàn dân và an ninh nhân dân; giữ vững ổn định
chính trị, xã hội, giữ vững môi trường hòa bình
- ổn định, tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng
đất nước Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ ,văn minh./.
Triệu Quang Tiến - Hoàng Mạc Thủy, Tạp chí Cộng
sản số 64
Nguồn: http://www.cpv.org.vn/chuyende |