|
Quốc hội Việt Nam
với sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
và vai trò của nữ
đại biểu Quốc hội trong Quốc hội
(Hà Nội, ngày 04
tháng 01 năm 2006)
Kính
thưa Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An
Kính
thưa các đồng chí lão thành cách mạng,
Thưa toàn thể các đồng chí!
Hôm nay trong niềm vui, phấn
khởi kỷ niệm 60 năm Quốc hội Việt Nam, tôi xin
trân trọng cảm ơn Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã
cho phép tôi được dự và phát biểu trong cuộc gặp
mặt đầy ý nghĩa này về Quốc hội Việt nam với sự
tiến bộ của phụ nữ Việt nam và vai trò của nữ
đại biểu Quốc hội.
Kính thưa các quý vị đại
biểu,
Thưa toàn thể các đồng
chí!
Từ tư tưởng giải phóng phụ nữ
của Chủ tịch Hồ Chí Minh vàCương lĩnh chính trị
đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng
10/1930 đã xác định “Nam nữ bình quyền”
là một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của Cách mạng
Việt Nam. Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
ra đời, phụ nữ đã được Đảng và Nhà nước ta quan
tâm về nhiều mặt, phụ nữ không chỉ là người được
hưởng lợi từ những thành quả của đất nước mà còn
là nhân tố quan trọng tham gia vào các lĩnh vực
của đời sống xã hội và quản lý đất nước có hiệu
quả.
Vai trò của Quốc hội đối với sự
tiến bộ của phụ nữ Việt Namđược thể hiện rất rõ
thông qua việc thực hiện quyền lập pháp tối cao
của mình. Trải qua 60 năm phát triển của Quốc
hội Việt Nam, Hiến pháp năm 1946 đã được sửa đổi
vào năm 1959, 1980 và 1992 cho phù hợp với tình
hình mới của đất nước nhưng đều khẳng định bình
đẳng nam nữ là nguyên tắc hiến định, mọi hành vi
phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm
phụ nữ đều bị cấm và Nhà nước tạo mọi điều kiện
để phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng ... Trên cơ
sở các quy định của Hiến pháp, các đạo luật và
pháp lệnh do Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội ban hành đã có những quy định bảo đảm về mặt
pháp lý việc thực hiện và được hưởng các quyền
con người của phụ nữ trên cơ sở bình đẳng với
nam giới, với tư cách là một công dân và là một
công dân có đặc thù riêng, thể hiện trên một số
điểm như sau:
Thứ nhất,
với quy định “Đàn bà ngang quyền với đàn
ông về mọi phương diện” tại điều 9 Hiến
pháp 1946, Quốc hội đã chính thức công nhận và
bảo đảm về mặt pháp lý quyền bình đẳng nam nữ,
đặt nền móng xoá bỏ tư tưởng trọng nam hơn nữ
mấy ngàn năm ăn sâu trong đầu óc của người dân
Việt Nam, nhằm bảo đảm cho phụ nữ phát huy khả
năng, tiềm năng, sức sáng tạo và phát triển toàn
diện về mọi mặt.
Năm 1959, Quốc hội ban hành Hiến
pháp sửa đổi 1959 kế thừa và phát triển hơn các
quy định về quyền của phụ nữ trong hiến pháp
1946 và bổ sung thêm những quy định cụ thể, đặt
phụ nữ bên cạnh nam giới “cùng làm việc
như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam
giới. Nhà nước đảm bảo cho nữ công nhân và phụ
nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ vẫn
hưởng nguyên lương. Nhà nước bảo hộ quyền lợi
của người mẹ và trẻ em, đảm bảo phát triển các
nhà hộ sinh, nhà giữ trẻ và vườn trẻ. Nhà nước
bảo hộ hôn nhân và gia đình.”
Năm 1980, Quốc hội ban hành Hiến
pháp sửa đổi 1980 không những chỉ kế thừa và
phát triển các quy định của Hiến pháp 1946 và
1959 mà còn nâng cao lên một bước, đó là “
Nhà nước có chính sách lao động phù hợp với điều
kiện của phụ nữ...”, “Nhà nước và
xã hội chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, nhà
trẻ, lớp mẫu giáo, nhà ăn công cộng và những cơ
sở phúc lợi
xã hội khác, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ
sản xuất, công tác, học tập và nghỉ ngơi”.
Năm 1992, Quốc hội ban hành Hiến
pháp năm 1992 trên cơ sở kế thừa sửa đổi, bổ
sung Hiến pháp 1980 cho phù hợp với tình hình
mới, tiếp tục khẳng định công dân nam nữ có
quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội và gia đình. Đồng thời quy định
bổ sung các quyền của phụ nữ “ Nhà nước và
xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ
về mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của
mình trong trong xã hội và làm trong bổn phận
của người mẹ”.
Thứ hai,
các đạo luật và pháp lệnh được
Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
đã thể chế hoá các quy định của Hiến pháp, bảo
đảm các quyền con người của phụ nữ theo hướng
quyền phụ nữ được đặt trong mối quan hệ với các
quyền công dân, quyền con người nhưng có chú ý
tới các quyền mang tính đặc thù bởi chức năng
sinh sản cuả phụ nữ.
Với vai trò là người lao
động, người vợ, người mẹ trong gia đình và là
người công dân trước pháp luật,
phụ nữ được tạo điều kiện để thực hiện tốt chức
năng của người mẹ, không bị hạn chế trong việc
xin ly hôn khi đang có thai hoặc đang nuôi con
nhỏ dưới 12 tháng tuổi; nuôi con còn bú, con
dưới 3 tuổi khi ly hôn; được bảo đảm các chế độ
làm việc và điều kiện lao động, đào tạo nghề khi
có thai, sinh con và nuôi con nhỏ, kể cả khi
phạm tội ...
Với vai trò là tác nhân của
sự phát triển,
phụ nữ được tham gia quản lý, lãnh đạo trong các
cơ quan Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân, cơ
quan hành chính Nhà nước các cấp và các cơ quan,
tổ chức khác.
Với vai trò là thành viên xã
hội,
phụ nữ được bảo vệ thông qua việc
ngăn ngừa và phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm
và phòng chống nhiễm HIV/AIDS; phụ nữ sống độc
thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản theo chỉ định của bác sỹ chuyên khoa; phụ nữ
cô đơn không nơi nương tựa, không có nguồn thu
nhập, từ đủ 55 tuổi trở lên được hưởng trợ cấp
cứu trợ xã hội ...
Với
những quy định về quyền phụ nữ và bình đẳng nam
nữ trong các bản Hiến pháp, Quốc hội Việt Nam đã
tạo dựng cho phụ nữ Việt Nam địa vị pháp lý rõ
ràng là người chủ đất nước, có đầy đủ mọi quyền
như nam giới, nhưng được quan tâm hơn vì phụ nữ
là người mẹ, người thầy đầu tiên của con người.
Đồng thời các quy định của pháp
luật do Quốc hội ban hành vừa tạo điều kiện
thuận lợi để phụ nữ phấn đấu vươn lên, vừa đặt
ra yêu cầu đối với phụ nữ phải không ngừng nâng
cao trình độ chuyên môn, tay nghề và kỹ năng,
năng động sáng tạo để tham gia ngày càng nhiều
hơn vào các hoạt động và có đóng góp ngày càng
tăng cho sự phát triển chung của đất nước và mỗi
gia đình.
Thông qua việc thực hiện chức
năng giám sát toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà
nước và quyết định những vấn đề quan trọng của
đất nước, Quốc hội đã tác động mạnh mẽ đến sự
tiến bộ của phụ nữ, làm cho những quy định của
pháp luật nói chung, đặc biệt là những quy định
riêng đối với phụ nữ có tính khả thi cao, phát
huy tác dụng trong thực tế cuộc sống và cải
thiện điều kiện về mọi mặt cho phụ nữ vươn lên.
Từ những quy định của Hiến pháp,
pháp luật và những quyết sách lớn do Quốc hội
ban hành, phụ nữ Việt Nam ngày càng có vai trò
lớn hơn với tư cách là những người đóng góp và
tham gia vào phát triển và địa vị pháp lý;
vai trò, đóng góp của các tầng lớp phụ nữ được
nâng lên rõ nét so với giai đoạn đầu sau Cách
mạng tháng 8/1945 trên tất cả các lĩnh vực của
xã hội và gia đình. Phụ nữ đã tham gia và trở
thành một lực lượng quan trọng trong đời sống
kinh tế và xã hội ở Việt Nam. Vượt ra ngoài lĩnh
vực truyền thống tập trung đông nữ như nông,
lâm, ngư nghiệp, công nghiệp nhẹ, thương nghiệp,
dịch vụ, giáo dục, y tế ... (tỷ lệ nữ từ
60-70%), trong cơ chế mới phụ nữ đã tham gia vào
tất cả các hoạt động mà trước đây chủ yếu do nam
giới đảm nhiệm như công nghiệp, giao thông vận
tải, thương mại, dịch vụ, ngoại giao, du lịch,
tư pháp, công nghệ thông tin ... Phụ nữ không
chỉ là lực lượng lao động mà còn tham gia lãnh
đạo, quản lý các cơ quan Nhà nước, các cơ sở
kinh tế, doanh nghiệp đã và đang hoạt động tương
đối ổn định và tạo được thương hiệu có uy tín
trong nước và ngoài nước.
Có thể khẳng định rằng trong 60
năm qua, Quốc hội Việt Nam đã tạo dựng cho phụ
nữ Việt Nam địa vị pháp lý, cơ hội và điều kiện
bình đẳng để tham gia, đóng góp và hưởng lợi từ
sự phát triển chung của đất nước. Mặc dù tỷ lệ
tham gia Quốc hội của phụ nữ còn khá khiêm tốn,
có sự tăng giảm trong 11 nhiệm kỳ và đại biểu
Quốc hội nữ chủ yếu tập trung trong các Uỷ ban
có liên quan nhiều đến các vấn đề xã hội, ở các
Uỷ ban khác đều chiếm chưa đến 20%; nhưng sự
tham gia của phụ nữ trong Quốc hội, nhất là sự
gia tăng trở lại tỷ lệ đại biểu nữ từ 17,8% của
khóa VIII (nhiệm kỳ 1987-1992) lên 27,31% của
khóa XI (nhiệm kỳ 2002-2007) đã đưa nước ta đứng
thứ nhất ở Châu Á và đứng thứ hai ở khu vực Châu
Á Thái Bình Dương về tỷ lệ nữ trong Quốc hội.
Từ sự quan tâm của Quốc hội, nữ
đại biểu Quốc hội đã thể hiện rất rõ vai trò,
trách nhiệm của mình trong từng nhiệm kỳ. Là một
bộ phận của đại biểu Quốc hội nên khó có thể
tách riêng những đóng góp của nữ đại biểu trong
đóng góp chung của Quốc hội đối với sự phát
triển và tiến bộ của đất nước, nhưng đại biểu nữ
đã cùng với đại biểu nam đóng góp trí tuệ trong
việc ban hành Hiến pháp, các đạo luật và pháp
lệnh, quyết định những chính sách trọng đại của
đất nước. Đóng góp vào việc thực thi chính sách,
pháp luật trên các cương vị là những người đứng
đầu hoặc có vai trò quan trọng trong các hoạt
động bảo đảm quyền con người, quyền công dân có
chú ý đến bình đẳng giới của cơ quan, tổ chức và
từng địa phương. Đóng góp trực tiếp vào công
cuộc xoá đói giảm nghèo, thực hiện các mục tiêu
xã hội thông qua việc tự nâng cao trình độ, năng
lực, tham gia tích cực và có hiệu quả vào các
phong trào quần chúng, các hoạt động quản lý nhà
nước trên tất cả các lĩnh vực. Đóng góp vào các
hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh bảo vệ Tổ
quốc và đối ngoại của quốc gia, góp phần nâng
cao vị thế quốc gia trong khu vực và thế giới...
Cùng với sự phát triển không
ngừng của Quốc hội trong xu thế hội nhập khu vực
và thế giới, sự tiến bộ và phát triển toàn diện
của phụ nữ Việt Nam tiếp tục được củng cố và
nâng cao hơn trong những năm tới, đặc biệt khi
Quốc hội xem xét và thông qua Luật Bình đẳng
giới trong năm 2006 là cơ sở pháp lý quan trọng
và có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển và
tiến bộ của phụ nữ Việt Nam trên thực tế, tạo
điều kiện cho phụ nữ Việt Nam nối tiếp truyền
thống “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm
đang” trước đây và “năng động,
sáng tạo, trung hậu, đảm đang” trong
thời kỳ đổi mới đất nước để đóng góp trí tuệ và
công sức vào sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ văn minh; vì
sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ Việt Nam
trong thế kỷ XXI.
Nhân dịp năm mới tôi xin gửi tới
các đồng chí, các quý vị đại biểu lời chúc mừng
năm mới dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc, an khang,
thịnh vượng.
Xin trân trọng cám ơn!
Nguồn: Báo Phụ nữ Việt Nam, số ra ngày 9.1.2006 |