|
“Nước
ta do dân làm chủ”
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đại biểu Quốc hội Khóa I, II, III, IV, V, VI,
VII
Trước hết, nói về quá trình đi đến quyết định
cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên.
Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo để thực hiện cho
được quyết định đó trong tình hình cực kỳ khó
khăn, tiến hành Tổng tuyển cử để bầu cho được
Quốc hội Khóa I, lập Chính phủ chính thức và xây
dựng bản Hiến pháp đầu tiên, đặt nền móng cho
chính quyền, cho Nhà nước pháp quyền.
Như chúng ta đã biết, vào tháng 8 năm 1945, theo
Nghị quyết của Đảng và của Bác, chúng ta đã
triệu tập Quốc dân Đại hội về họp tại Tân Trào,
đã lập ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng, được coi
như Chính phủ lâm thời. Lúc bấy giờ, thời cơ đã
đến nhưng tình hình trong nước cũng như ngoài
nước cực kỳ phức tạp.
Sỡ dĩ có Quốc dân Đại hội Tân Trào, lập ra Ủy
ban Dân tộc Giải phóng là nhờ có đường lối đúng
đắn của Đảng, được hình thành từ lúc Bác Hồ
thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam và xác định
cụ thể trong Hội nghị Trung ương năm 1941, đề ra
kế hoạch chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Tiếp đó
là chỉ thị Nhật – Pháp đánh nhau và hành động
của chúng ta của Thường vụ Trung ương Đảng,
chỉ rõ lúc nào thời cơ xuất hiện, lúc nào đứng
lên tổng khởi nghĩa. Trong những ngày tháng Tám,
nhất là vào trung tuần, Bác rất yếu, nhưng Bác
chỉ đạo nhất định phải sớm triệu tập Quốc dân
Đại hội, làm thế nào có đủ đại biểu ba kỳ.
Chúng ta nhất định phải họp cho kịp thời cơ. Có
khi Bác mê sảng nằm thiếp đi, lúc tỉnh dậy Bác
nói: Thời cơ lớn đã đến, dù đốt cháy cả dãy
Trường Sơn cũng giành cho được độc lập. Lúc
đó tôi rất lo, vì anh Trường Chinh, anh Nguyễn
Lương Bằng chưa lên, một mình tôi ở đó. Dần dần
các anh lên đủ, Hội nghị cán bộ Trung ương họp
đã quyết định tổng khởi nghĩa. Thời cơ đã đến,
Nhật đầu hàng. Tối ngày 12, thành lập Ủy ban
khởi nghĩa toàn quốc. Quốc dân Đại hội họp vào
ngày 16, thông qua chủ trương tổng khởi nghĩa,
lập Ủy ban Giải phóng dân tộc và thông qua 10
chính sách Việt minh. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên
diễn ra trong khu giải phóng ngày 13. Trước đó,
ở nhiều tỉnh như Cao–Bắc–Lạng, Hà–Tuyên–Thái đã
có chính quyền ở cơ sở, ở xã và huyện. Lúc đó,
tôi được phân công dẫn Đoàn quân giải phóng về
đánh Nhật ở Thái Nguyên. Nhưng đang đánh Thái
Nguyên thì được tin ngày 19.8 Hà Nội đã khởi
nghĩa thắng lợi. Khi đó cả nước do đường lối
đúng đắn của Trung ương và chỉ thị cụ thể về
thời cơ khởi nghĩa, nên nhiều nơi đã chủ động
đứng lên khởi nghĩa. Tôi nhấn mạnh, nghị lực, sự
sáng tạo ghê gớm của dân tộc ta, của nhân dân Hà
Nội đã vùng lên khởi nghĩa khi chưa nhận được
lệnh của Ủy ban khởi nghĩa. Sau đó, đón Bác Hồ
về Hà Nội. Ủy ban Dân tộc Giải phóng coi như
Chính phủ lâm thời đã được mở rộng.
Vấn đề đặt ra là phải tuyên bố cho đồng bào
trong nước và nhân dân cả thế giới biết. Vì vậy,
ý kiến của Bác là cần phải tổ chức một cuộc mít
tinh lớn, đông đảo quốc dân tham gia. Cuộc mít
tinh đó như chúng ta đã biết, được tổ chức tại
vườn hoa Ba Đình vào ngày 2.9.1945, Bác đọc bản
Tuyên ngôn độc lập do Người khởi thảo.
Vì sao lại chọn ngày 2.9? Bởi vì lúc Nhật đầu
hàng thì quân đồng minh, trong đó có 20 vạn quân
Tưởng tràn vào miền Bắc. Ở miền Nam thì quân Anh
đã vào và theo sau là quân Pháp trở lại xâm lược
nước ta. Bác đặt vấn đề là: Các chú phải chọn
ngày tiến hành lễ độc lập vào lúc quân đội Tưởng
chưa tiến vào Hà Nội. Lúc đó, quân Tưởng đã vượt
biên giới vào tới Bắc Giang, kéo theo là Đảng
Việt Quốc, Việt Cách. Chúng nêu khẩu hiệu
diệt cộng cầm Hồ – diệt Cộng sản, bắt Hồ Chí
Minh. Tôi với anh Trường Chinh bàn, chọn ngày
mùng 2 tháng 9, nhưng cân nhắc mãi vì ngày ấy là
ngày lễ thánh, có nên làm lễ độc lập vào ngày đó
không? Nhưng Bác nói: Vấn đề là làm sao cho
kịp thời cơ và quyết định làm vào ngày 2.9.
Lúc Bác đứng giữa Quảng trường Ba Đình tuyên bố
độc lập, có người hỏi Hồ Chí Minh là ai? Cũng đã
có nhiều người biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn
Ái Quốc. Khi đó cả nước rất phấn khởi đứng lên,
đoàn kết, thề một lòng bảo vệ và xây dựng đất
nước. Cuộc kháng chiến đã nổ ra ở Nam Bộ chỉ hơn
vài tuần lễ sau đó.
Bác Hồ đã chú ý nghiên cứu, tìm tòi, từ thời ra
đi tìm đường cứu nước, kinh nghiệm các nước về
một chính quyền dân chủ. Cho nên, khi về nước,
tại Hội nghị Trung ương 1941 ở Cao Bằng, Bác đã
đề xuất lập Chính phủ dân chủ cộng hòa. Chính
phủ lâm thời được thành lập, cả nước đã công
nhận và thế giới đã biết đến. Nhưng, phải tiến
đến có một Chính phủ chính thức, Chính phủ do
nhân dân Việt Nam bầu ra, có đầy đủ quyền lực và
uy tín quốc tế, có đủ tư cách đại diện cho đất
nước Việt Nam theo luật pháp quốc tế. Vì vậy,
trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, ngày 3.9
Bác đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm
vụ thứ 3 là: Tiến hành Tổng tuyển cử tự do theo
phổ thông đầu phiếu trong cả nước để bầu ra Quốc
hội đầu tiên.
(Còn nữa)
Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân số 212, ngày
04-11-2005 |