|
“Nước
ta do dân làm chủ”
(Tiếp theo số 212)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đại biểu Quốc hội các Khóa I,II,III,IV,V,VI,VII
Tôi nhớ, chỉ một tuần sau, vào ngày 8.9, Bác ra
Sắc lệnh về Tổng tuyển cử trong cả nước. Đến
ngày 6.1, tất cả nhân dân từ già, trẻ, gái, trai
như đã được quy định trong Sắc lệnh bầu cử, từ
18 tuổi trở lên, không phân biệt tầng lớp, giai
cấp, dân tộc, tôn giáo... đều có quyền bầu cử.
Cuộc bầu cử đã được tiến hành dưới áp lực của
quân Tưởng ở phía Bắc, dưới tiếng súng của quân
Pháp ở Nam Bộ, đã có đồng bào hy sinh trong khi
đi bầu cử. Như vậy cho thấy nhân dân ta tha
thiết như thế nào với quyền làm chủ đất nước,
quyền của người dân một nước độc lập, có chủ
quyền.
Quốc hội đầu tiên họp vào ngày 2.3.1946. Trong
thời gian bầu cử cho đến họp Quốc hội, tình hình
rối ren vô cùng. Nhưng, vấn đề đặt ra là phải
làm sao củng cố bằng được hệ thống chính quyền
trong cả nước và làm sao họp cho được Quốc hội
để bầu ra Chính phủ chính thức. Chính quyền ta
mới thành lập, tôi còn nhớ, lúc ấy khối lượng
công tác rất bề bộn, Bác làm việc suốt ngày, chỉ
ngả lưng nghỉ một lúc vào buổi trưa.
Công việc trước hết là phải diệt giặc đói. Thời
điểm đó, hai triệu đồng bào đang chết đói, nên
phải cứu đói. Mỗi người một tháng nhịn ăn 3 bữa
để giúp dân đói. Mùa vụ nơi nào mất nhiều thì
miễn thuế, mất ít phải giảm thuế. Phát động
phong trào tăng gia sản xuất, “tấc đất tấc
vàng”.
Rồi lo diệt giặc dốt. Bác nói: một dân tộc dốt
là một dân tộc yếu, dân tộc ta trải qua quá
trình đấu tranh dựng nước và giữ nước tỏ ra rất
dũng cảm và rất sáng tạo; nay phải trở nên một
dân tộc thông thái. Trong thời gian ngắn, đã
phát động phong trào bình dân học vụ, tất cả
nhân dân đều sôi nổi tham gia.
Về văn hóa, ngay lúc đó cũng là có Sắc lệnh cấm
không được động đến chùa chiền, miếu mạo, nhà
thờ; phải bảo vệ các di tích, bảo vệ văn hóa của
dân tộc.
Đồng thời triển khai diệt giặc ngoại xâm. Chuẩn
bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, Bộ Chính trị đã
chọn những đơn vị mạnh nhất trong Quân Giải
phóng để thành lập các đội quân Nam tiến, lập ra
các chiến khu ở phía Bắc, các chiến khu ở Nam
Bộ, tăng cường lực lượng quốc phòng, tổ chức đội
tự vệ chiến đầu để bảo vệ Thủ đô. Trong lúc đó,
lại lập ra Ủy ban kiến thiết để nghiên cứu kế
hoạch xây dựng đất nước.
Trước sự phá hoạt của bọn Việt Quốc, Việt Cách,
của quân Pháp, quân Tưởng như vậy, làm sao họp
Quốc hội được? Ý kiến của Bác là nhất định phải
bằng mọi cách họp cho được Quốc hội. Nếu không
họp được ở Hà Nội thì chuẩn bị họp ở Đình Bảng
Bắc Ninh. Trong thời gian này, Bác đã thương
lượng với Việt Quốc, Việt Cách, giành cho họ 70
ghế Quốc hội không qua bầu cử, với điều kiện họ
thống nhất tiến hành kháng chiến, lập ra Chính
phủ liên hiệp kháng chiến. Nhiều đồng chí ta
không đồng tình, nhưng cuối cùng đã đi đến nhất
trí.
Ngày 2.3, Quốc hội đã họp phiên đầu tiên, Bác Hồ
báo cáo với Quốc hội và đề nghị Quốc hội chấp
nhận 70 ghế của Việt Quốc, Việt Cách. Chính phủ
lâm thời từ chức, Bác Hồ được Quốc hội tín nhiệm
trao nhiệm vụ thành lập Chính phủ chính thức –
Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Quốc hội cũng
lập ra Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Bác Hồ làm
Trưởng ban.
Trong tình hình khó khăn như vậy, chúng ta đã
họp được Quốc hội và họp ngay ở Hà Nội là một
thắng lợi lớn. Tiếp đó, cuối tháng 11, Quốc hội
đã họp phiên thứ hai để thông qua Hiến pháp đầu
tiên.
Bác đã nói: “Hơn 10 ngày nay, các đại biểu đã
khó nhọc làm việc, Quốc hội đã thu được một kết
quả làm vẻ vang cho đất nước là đã thảo luận
xong bản Hiến pháp sau khi Nhà nước được tự do
14 tháng, đã làm thành được bản Hiến pháp đầu
tiên trong lịch sử nước nhà, bản Hiến pháp đó
còn là một vết tích lịch sử – Hiến pháp đầu tiên
trong cõi Á Đông này nữa”. Bản Hiến pháp đó
chưa hoàn thiện, nhưng nó đã được làm nên theo
hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đã tuyên bố với thế
giới rằng nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó
tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được
ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung tự do
của một công dân. Hiến pháp đã nêu một tinh thần
đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và
một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai
cấp. Chính phủ cố gắng làm theo ba chính sách:
dân sinh, dân quyền và dân tộc.
Trong lịch sử thế giới, có thể chưa có một nước
nào, cách mạng mới thành công mà dám tiến hành
Tổng tuyển cử theo chế độ phổ thông đầu phiếu;
Có nhiều nước giành được độc lập mấy chục năm
nay nhưng vẫn chưa tiến hành được bầu cử theo
chế độ phổ thông đầu phiếu như vậy.
Điều này nói lên: Bác Hồ và Đảng ta đã có niềm
tin mãnh liệt vào nhân dân; Đồng thời cũng nói
lên lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần khát
khao được làm người dân một nước tự do, độc lập
của nhân dân Việt Nam ta, niềm tin lớn của nhân
dân đối với Đảng.
Tôi đã trình bày khái quát về quá trình lịch sử
nước ta từ nô lệ của thực dân trở thành một nước
tự do độc lập; từ khi có Chính phủ lâm thời đến
khi có một Chính phủ chính thức.
Sau khi có bản Hiến pháp đầu tiên, Bác đã nói:
Nước ta do dân làm chủ, tinh thần dân chủ
ấy chúng ta quán triệt đến tận bây giờ. Theo
Bác, mọi quyền lợi đều ở người dân, mọi sức mạnh
đều ở dân, dân phải làm chủ. Chính phủ phải coi
trọng dân sinh, lo cho dân mọi mặt; phải nâng
cao dân trí, mở các lớp bình dân học vụ, lập các
trường tiểu học, trung học, một số trường đại
học; Tôn trọng nhân tài, những người nào có tài,
có đức được mời ra phục vụ đất nước. Khi mở rộng
Chính phủ lâm thời, một số đảng viên Đảng cộng
sản đã nhường cho các nhân sĩ trí thức, với tinh
thần đoàn kết dân tộc, vì lợi ích của nước, của
dân.
Chính phủ là chính quyền của nhân dân, nên cán
bộ chính quyền phải là người đầy tớ của dân. Bác
đã viết thư cho các cán bộ chính quyền các cấp
phê phán tệ cậy chức, cậy quyền, làm quan cách
mạng và nhắc nhở cán bộ viên chức chính quyền
đều phải là công bộc của nhân dân. Dân chủ rộng
rãi, đồng thời pháp luật phải nghiêm minh. Chính
phủ đã lập ra Tòa án đặc biệt xét xử những kẻ
phạm tội, xâm phạm đến lợi ích của dân. Tòa án
đặc biệt do Chủ tịch làm Chánh án, thành viên có
Bộ trưởng Nội vụ, Bộ trưởng Tư pháp, có quyền
kết án tử hình và bản án được thi hành trong 48
tiếng. Cuối cùng, tất cả những việc làm lúc đó
của Quốc hội, của Chính phủ đều đã thể hiện tinh
thần đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Ta
đoàn kết những người dân yêu nước; kể cả những
người dân làm việc cho chế độ cũ nhưng bây giờ
có tinh thần yêu nước, ta cũng đoàn kết. Bởi vì,
không có đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
thì cũng không có thành công, thành công, đại
thành công và cũng khó lòng bầu ra được Quốc
hội, lập ra được Chính phủ hợp hiến trong một
tình thế hiểm nghèo như lúc bấy giờ.
Quốc hội đầu tiên, Hiến pháp đầu tiên, Chính phủ
hợp hiến là cơ sở, nền móng cho một Nhà nước của
dân, do dân và vì dân, một Nhà nước pháp quyền
theo chế độ dân chủ. Từ khi còn đi tìm đường cứu
nước, trong yêu sách gửi Hội nghị Verseille năm
1919, Bác đã nêu lên yêu cầu: Muôn điều đều phải
có thần linh pháp quyền. Tư tưởng về một
Nhà nước pháp quyền đã được thực hiện.
(Còn nữa)
(Theo Kỷ yếu hội thảo 55 năm Quốc hội Việt Nam -
Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của
Quốc hội trong sự nghiệp đổi mới - VPQH, 12.2000.)
Báo Người đại biểu nhân dân số 214, ngày
07-11-2005 |