|
QUỐC HỘI CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN
Cách đây 60 năm, ngày 6-1-1946, cuộc Tổng
tuyển cử đầu tiên theo nguyên tắc dân chủ,
trực tiếp và bỏ phiếu kín đã thành công rực
rỡ, bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam mới.
Sự kiện này đánh dấu việc khai sinh Quốc hội
của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là
Quốc hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Lịch sử phát triển của Quốc hội gắn liền với
lịch sử cách mạng Việt Nam. Qua 11 khóa hoạt
động, Quốc hội ngày càng khẳng định vai trò
quan trọng là cơ quan đại diện dân cử cao nhất,
cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tính đại diện cao nhất của Quốc hội nước ta thể
hiện ở chỗ: 1 - Quốc hội có cơ cấu thành phần
đại biểu đại diện rộng rãi cho các tầng lớp nhân
dân; 2 - Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền
hạn của mình trên cơ sở sự tín nhiệm của nhân
dân, do nhân dân ủy quyền; 3 - Quốc hội do toàn
dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Đại biểu Quốc hội có cơ cấu, thành phần phản ánh
sự đoàn kết rộng rãi các giai cấp, tầng lớp nhân
dân và các dân tộc. Vì vậy, Quốc hội là đại biểu
cho toàn thể quốc dân Việt Nam. "Quốc hội là
tiêu biểu ý chí thống nhất của dân tộc ta, một ý
chí sắt đá không gì lay chuyển nổi"(1).
Quốc hội và các đại biểu của Quốc hội chịu sự
giám sát của nhân dân, thông qua việc bảo đảm
cho nhân dân theo dõi quá trình làm việc của
mình như tham dự các phiên họp, nghe chất vấn,
trả lời chất vấn, và thông qua việc đại biểu
Quốc hội phải báo cáo hoạt động tại đơn vị đã
bầu cử mình.
Tính quyền lực nhà nước của Quốc hội thể hiện ở
thẩm quyền của Quốc hội đã được cụ thể hóa thành
ba chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể. Đó là
lập hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước và giám sát tối cao.
Về chức năng lập hiến và lập pháp, Quốc hội là
cơ quan duy nhất có quyền thông qua, sửa đổi
Hiến pháp và luật. Hiến pháp và luật có vị trí
vô cùng quan trọng, bởi vì nó thể hiện những
đường lối cơ bản, những chủ trương lớn của Đảng
đã được Nhà nước thể chế hóa và có hiệu lực thi
hành trên toàn lãnh thổ nước ta. Các quy phạm
pháp luật khác do các cơ quan nhà nước ban hành
phải căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội.
Về chức năng quyết định những vấn đề quan trọng
của đất nước, Quốc hội quyết định những chính
sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước;
quy định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội
và hoạt động của công dân.
Về chức năng giám sát tối cao, Quốc hội giám sát
toàn bộ hoạt động của Nhà nước, nhằm bảo đảm cho
mọi hoạt động của Nhà nước đúng pháp luật. Quốc
hội giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật và
nghị quyết của Quốc hội, của các cơ quan nhà
nước ở trung ương, của Chủ tịch nước, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân
tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Những
cơ quan chịu sự giám sát của Quốc hội, có trách
nhiệm báo cáo công tác của mình trước Quốc hội.
Những cá nhân do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn nếu
phạm sai lầm sẽ bị Quốc hội xem xét để miễn,
hoặc bãi nhiệm.
Trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước, Quốc
hội có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm những
người đứng đầu các cơ quan nhà nước khác. Nhiệm
kỳ hoạt động của các cơ quan nhà nước do Quốc
hội quy định theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Các cơ
quan nhà nước ở trung ương do được Quốc hội bầu,
hoặc có thể bị bãi miễn, nên rất phụ thuộc vào
sự tín nhiệm của Quốc hội.
Quốc hội nước ta hoạt động theo chế độ hội nghị
và quyết định theo đa số. Các vấn đề được Quốc
hội quyết định phải được tập thể các đại biểu
Quốc hội xem xét và chỉ được thông qua khi có
quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán
thành. Riêng trường hợp sửa đổi Hiến pháp phải
có hai phần ba tổng số đại biểu tán thành.
*
* *
Sáu mươi năm qua, Quốc hội nước ta luôn luôn bám
sát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thể
hiện ngày càng tốt hơn vai trò quyền lực, ý chí
và nguyện vọng cao nhất của nhân dân. Quốc
hội đã thông qua 4 văn bản Hiến pháp, 197 văn
bản luật và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban
hành 195 văn bản pháp lệnh. Những văn bản đó
đã đi vào cuộc sống của nhân dân và giữ vai trò
trọng yếu trong quản lý đất nước.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, Quốc hội đang phát huy
vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất,
đẩy mạnh và từng bước hoàn thiện việc xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
tăng cường pháp chế và hiệu lực quản lý của bộ
máy nhà nước. Truyền thống và những kinh nghiệm
hoạt động của 11 khóa Quốc hội đang được nhân
lên. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và sự
lãnh đạo tài tình của Đảng, Quốc hội nước ta
đang tiếp tục đổi mới, vươn lên tầm cao mới.
Trong thời gian tới, yêu cầu chung đặt ra đối
với Quốc hội là phấn đấu thực thi đầy đủ nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, xứng đáng với vị trí,
vai trò là cơ quan đại biểu và cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Yêu cầu cụ thể là: 1 - Khắc phục những khuyết
điểm, hạn chế hiện nay trong tổ chức, hoạt động
của Quốc hội; 2 - Phát huy vai trò của Quốc hội
trong việc tạo lập môi trường thể chế và điều
kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy và phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; 3 - Góp phần mở rộng và hoàn thiện nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa; 4 - Định hướng xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam; 5 - Phát triển đất nước phù hợp với xu
hướng vận động của thời đại; 6 - Thúc đẩy quá
trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của nước
ta.
Để thực hiện tốt các yêu cầu trên, chúng ta cần
tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức một cách đầy
đủ và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội
nhằm phát huy vị trí, vai trò của Quốc hội trong
sự nghiệp đổi mới đất nước.
Đổi mới, nâng cao chức năng lập pháp và quyết
định các vấn đề quan trọng của Quốc hội theo
hướng tập trung quyền lập pháp vào Quốc hội,
giảm dần và tiến tới không ban hành pháp lệnh;
luật hóa tối đa các quyết định của Quốc hội, để
luật của Quốc hội giữ vai trò chủ đạo trong việc
điều chỉnh các quan hệ trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội.
Đổi mới, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động
giám sát của Quốc hội; phân biệt rõ ràng bản
chất giám sát của Quốc hội là giám sát mang tính
quyền lực nhà nước, khác với các hình thức giám
sát khác. Phát huy có hiệu quả, đồng bộ các hình
thức giám sát của Quốc hội: giám sát của tập thể
Quốc hội, giám sát của Hội đồng Dân tộc, của các
ủy ban và của đoàn đại biểu Quốc hội; nâng cao
vai trò giám sát thi hành pháp luật tại địa
phương của các đại biểu Quốc hội.
Nâng cao chất lượng của đại biểu Quốc hội; tăng
cường hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên
trách ở các cơ quan của Quốc hội và ở các đoàn
đại biểu Quốc hội; tăng cường mối quan hệ giữa
đại biểu Quốc hội với cử tri thông qua cơ chế
ràng buộc trách nhiệm. Phát huy tính chủ động,
tự lập, trách nhiệm cá nhân của đại biểu Quốc
hội và chịu trách nhiệm trước cử tri.
Tiếp tục đổi mới cách thức làm việc của Quốc
hội, phát huy dân chủ trong hoạt động của Quốc
hội, bảo đảm Quốc hội có thể ban hành được nhiều
quyết định có chất lượng tốt...
Kỷ niệm 60 năm thành lập Quốc hội nước ta đúng
vào dịp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang
phấn khởi đón chào mùa xuân mới 2006, thi đua
lập thành tích thiết thực chào mừng Đại hội X
của Đảng. Tự hào với những thành tích to lớn đã
đạt được trong 60 năm qua, chúng ta tin tưởng
chắc chắn, trong thời gian tới Quốc hội sẽ tiếp
tục phát huy mạnh mẽ tinh thần trách nhiệm, chủ
động, sáng tạo, góp phần đưa dân tộc ta vững
bước trên con đường đổi mới, thực hiện mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2002, t7, tr 497
Nguồn: http://www.tapchicongsan.org.vn |