|
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước
Trong các văn kiện
của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội IX của
Đảng đã khẳng định nhiệm vụ "xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng". Đó chính là sự tiếp tục phát triển tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền trong
điều kiện mới. Ngay từ buổi đầu được thành lập
và trong suốt quá trình xây dựng, phát triển,
Nhà nước ta đã mang những yếu tố của Nhà nước
pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân
dân, của dân tộc. Nhà nước đã từng bước thực
hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, không
ngừng phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa. Thực tiễn đổi mới trong những năm
qua đã khẳng định yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo
của Đảng như một xu thế khách quan, mang tính
quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội
trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng giao
lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới
trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn
vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công
việc nội bộ của nhau.
Xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là
xây dựng một nhà nước thực sự của nhân dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng với lý tưởng dân chủ, nhân
đạo, công bằng, tất cả vì hạnh phúc của nhân
dân; nhà nước được tổ chức và vận hành một cách
khoa học, phù hợp với thực tiễn đất nước, tổ
chức, hoạt động của nhà nước phải đặt trên cơ sở
pháp luật, chịu sự điều chỉnh của pháp luật; nhà
nước quản lý xã hội bằng một hệ thống pháp luật
vì con người; quyền lực nhà nước được tổ chức
theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, có sự phân
công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp, có cơ chế an toàn và hiệu
quả ngăn chặn mọi sự lạm quyền, vi phạm lợi ích
của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân.
1 - Quá trình nhận
thức của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền
Trong suốt quá
trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc cũng
như xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng
ta luôn quan tâm lãnh đạo việc củng cố, từng
bước hoàn thiện bộ máy nhà nước và tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa. Từ khi tiến hành công
cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, Đảng ta hết sức coi trọng việc
cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện mới.
Đặc biệt, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa
nhiệm kỳ khóa VII (1994), Đảng ta đã khẳng định
phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Phương hướng đó được cụ thể hóa một bước tại Hội
nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám, khóa
VII đầu năm 1995. Tại Hội nghị này, 5 quan điểm
cơ bản để tiến hành cải cách bộ máy nhà nước
theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền
được xác định. Tiếp đến, tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta một lần nữa
khẳng định 5 quan điểm cơ bản nêu trên. Đó là:
- Xây dựng Nhà nước
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; lấy
liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng
Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền làm
chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội,
chuyên chính với mọi hoạt động xâm phạm lợi ích
của Tổ quốc và nhân dân.
- Quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Thực hiện nguyên
tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động
của Nhà nước.
- Tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật,
đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức.
- Tăng cường vai
trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001)
tiếp tục khẳng định nhiệm vụ "xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của
Đảng" và chỉ rõ "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu
để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà
nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân".
Như thế, từ khi ra
đời cho đến nay, trong đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam luôn luôn quán triệt tư tưởng xây
dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân ở Việt
Nam, coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật - phương tiện quan trọng trong
quản lý nhà nước.
2 - Các nội dung
đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân
Trong quá trình xây
dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước cách mạng
Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, cho đến nay Nhà nước ta đã ban hành 4 bản
Hiến pháp dân chủ, tiến bộ. Đó là Hiến pháp năm
1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và
Hiến pháp năm 1992, trong đó quy định về chế độ
chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội, an
ninh, quốc phòng; quy định về quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân; quy định về tổ chức bộ máy
nhà nước phù hợp với thực tiễn các giai đoạn
phát triển của cách mạng nước ta.
Từ thực tiễn này,
các nội dung đặc trưng của Nhà nước pháp quyền
Việt Nam của dân, do dân và vì dân ngày càng
được định hình:
Một là:
Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân.
Hai là:
Xác định quyền lực nhà nước là thống nhất có sự
phân công rành mạch và sự phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp. Đây vừa là nguyên tắc
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, vừa
là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực
hiện việc cải cách bộ máy nhà nước.
Ba là:
Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng
trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội.
Bốn là:
Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người,
quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý
giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ,
đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
Năm là:
Nhà nước tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên.
Sáu là:
Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, sự
giám sát của nhân dân và sự phản biện xã hội của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên của Mặt trận.
Như vậy, xuất phát
từ bản chất của chế độ, điều kiện, hoàn cảnh
lịch sử cụ thể, ngoài việc đáp ứng các yêu cầu,
đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền nói
chung thì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam còn có những đặc trưng riêng thể hiện
rõ nét bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa. Đó là:
- Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước mà ở
đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công rành mạch và phối hợp giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp; không tam quyền phân lập;
mọi cách thức tổ chức và hoạt động của Nhà nước
đều có mục đích chung là vì lợi ích xã hội, lợi
ích quốc gia, dân tộc và lấy việc phục vụ nhân
dân làm mục đích duy nhất và tối cao.
- Việc xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được thực hiện trong điều kiện một đảng
cầm quyền duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam.
3 - Xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc tiếp tục
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam cần tập trung vào một số việc sau đây:
1 - Xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà
nước phải luôn luôn chú trọng kết hợp thực hiện
tốt chức năng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoạch
định chính sách, xây dựng pháp luật, tổ chức
thực hiện pháp luật và chính sách đó; phải luôn
luôn gắn bó chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế
với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
2 - Xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải
dựa vào lực lượng nhân dân, phát huy dân chủ xã
hội chủ nghĩa; phải xuất phát từ nguyện vọng và
lợi ích của nhân dân và dựa trên nguyên tắc tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
3 - Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và
phân công quyền lực nhà nước thực sự khoa học,
phát huy mạnh mẽ hiệu lực, hiệu quả quản lý nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước thực hiện ba quyền thống nhất có sự
phân công rành mạch, trong đó, đề cao trách
nhiệm, tính chủ động và sự phối hợp hoạt động
của các cơ quan trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp; thực hiện sự phân
cấp hợp lý quyền lực nhà nước giữa chính quyền
trung ương và chính quyền địa phương; xây dựng
hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, bảo đảm
thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối,
nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước. Để xây dựng Nhà nước vững mạnh, cần
tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc
hội, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư
pháp; xác định rõ tính chất, vị trí, vai trò,
chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức của Hội
đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp; tiếp
tục nghiên cứu làm rõ mô hình tổ chức các cơ
quan tư pháp (tòa án, viện kiểm sát, cơ quan
điều tra) cho phù hợp với yêu cầu mới; tăng
cường vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Các cơ
quan nhà nước thực hiện quản lý nhà nước đối với
các hoạt động kinh tế, bảo đảm sự bình đẳng giữa
các thành phần kinh tế. Theo đó:
- Quốc hội
phải thật sự là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất;
thực hiện chức năng lập hiến, lập pháp, quyết
định những vấn đề quan trọng của đất nước và
thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ
hoạt động của Nhà nước. Tổ chức và hoạt động của
Quốc hội cần được đổi mới mạnh hơn nữa theo
hướng tăng cường chất lượng và vị thế của đại
biểu Quốc hội, nâng cao chất lượng hoạt động của
Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
tăng cường số đại biểu Quốc hội chuyên trách đến
tỷ lệ hợp lý (khoảng 40% hoặc 50% tổng số đại
biểu Quốc hội); tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa
quy trình xây dựng luật, pháp lệnh, đổi mới
phương thức giám sát và cách thức quyết định
ngân sách nhà nước.
- Chính phủ
phải nâng cao hiệu lực hoạt động của mình, thực
sự là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan
hành chính nhà nước cao nhất của Nước cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tổ chức thực hiện có
hiệu quả các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của
đất nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực
hiện mọi chính sách, biện pháp hữu hiệu nhằm
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và đời
sống văn hóa, tinh thần của nhân dân; xác định
rõ hơn trách nhiệm của Chính phủ và từng Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong việc
quản lý ngành, lĩnh vực phụ trách; cải tiến việc
phân định, phân cấp trách nhiệm, thẩm quyền giữa
các cấp chính quyền theo hướng phân cấp mạnh hơn
nữa cho địa phương kết hợp với quản lý theo
ngành và theo lãnh thổ. Chính phủ khẩn trương
hoàn thiện hợp lý cơ cấu tổ chức bộ máy của mình
theo hướng quản lý vĩ mô và mô hình quản lý đa
ngành, đa lĩnh vực; từng bước sắp xếp, tổ chức
lại các bộ, ngành ở trung ương, bảo đảm tinh
gọn, hợp lý và được hiện đại hóa.
Tiếp tục quán triệt
chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước
một cách sâu rộng, toàn diện, đồng bộ từ trung
ương đến địa phương, cơ sở. Tập trung cải cách
thể chế hành chính; cải cách thủ tục hành chính
theo hướng đơn giản hóa các thủ tục trong các
lĩnh vực có tác động trực tiếp tới đời sống và
sản xuất kinh doanh của nhân dân; loại bỏ những
khâu xin phép, xét duyệt không cần thiết; công
khai các quy định, thủ tục hành chính; triển
khai trong các cấp hành chính của cả nước thực
hiện cơ chế "một cửa"; chấn chỉnh việc ban hành
các thủ tục hành chính và quy định lệ phí, bảo
đảm chặt chẽ; nâng cao chất lượng giải quyết các
khiếu kiện của nhân dân; chấn chỉnh bộ máy và
quy chế hoạt động của hệ thống hành chính; cơ
cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo,
bồi dưỡng theo yêu cầu chuyên nghiệp hóa, nâng
cao chất lượng cả về phẩm chất và năng lực, kiên
quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, tham
nhũng, thoái hóa, biến chất và các tiêu cực khác
trong hệ thống hành chính; loại bỏ cán bộ, công
chức kém phẩm chất và năng lực ra khỏi bộ máy
hành chính nhà nước. Thực hiện cơ chế bãi miễn
những người không xứng đáng. Có những giải pháp
đồng bộ để khắc phục cho được thái độ vô trách
nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công
chức trong bộ máy nhà nước. Đó là thái độ làm
việc thụ động, né tránh khó khăn, sợ va chạm,
cốt sao giữ yên được vị trí trong cơ quan nhà
nước. Kiên quyết xóa bỏ mọi rào cản đối với công
cuộc cải cách hành chính.
- Xác định Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân trong một thể thống
nhất của chính quyền địa phương. Hội đồng nhân
dân là cơ quan đại biểu đại diện cho nhân dân
địa phương, hoạt động mang tính tự quản, thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp
luật. Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng
cấp bầu là cơ quan thường trực của Hội đồng nhân
dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương.
- Đổi mới tổ chức
và hoạt động tư pháp để xây dựng một nền tư pháp
Việt Nam vững mạnh, minh bạch, bảo đảm công lý,
công bằng, dân chủ, tận tụy phục vụ nhân dân.
Phải xuất phát từ mục tiêu lấy tổ chức và hoạt
động của tòa án làm trung tâm của cải cách tư
pháp.
Thực hiện việc tổ
chức tòa án theo cấp xét xử (sơ thẩm và phúc
thẩm); không tổ chức tòa án gắn với đơn vị hành
chính; xây dựng hệ thống tòa án theo hướng: Tòa
án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một
số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án cấp tỉnh
chủ yếu xét xử phúc thẩm, Tòa thượng thẩm được
tổ chức theo khu vực để xét xử phúc thẩm các vụ
án mà Tòa án cấp tỉnh đã xét xử sơ thẩm mà có
kháng cáo, kháng nghị, Tòa án Nhân dân tối cao
có nhiệm vụ xét xử các vụ án theo thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm và làm nhiệm vụ tổng kết kinh
nghiệm xét xử, hướng dẫn các tòa án áp dụng
thống nhất pháp luật, ban hành án lệ.
Viện Kiểm sát thực
hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư
pháp cần được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ
chức của tòa án. Nghiên cứu thành lập Viện Công
tố thuộc Chính phủ và tiến tới thực hiện cơ chế:
cơ quan công tố chỉ đạo, chỉ huy điều tra.
Chính quy hóa lực
lượng điều tra, nghiên cứu tổ chức lại cơ quan
điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, có thể
thành hệ thống cơ quan độc lập thuộc Chính phủ
hoặc thuộc hệ thống cơ quan công tố. Đổi mới
công tác thi hành án theo hướng tập trung thống
nhất quản lý vào một đầu mối (Bộ Tư pháp).
Nghiên cứu thành
lập Tòa án Hiến pháp (hoặc Ủy ban bảo hiến) với
chức năng bảo vệ Hiến pháp bằng thẩm quyền xét
xử để ra phán quyết về sự vi phạm Hiến pháp của
các văn bản quy phạm pháp luật, xét xử các quyết
định, hành vi vi phạm Hiến pháp của cơ quan và
cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước và
làm nhiệm vụ giải thích Hiến pháp, luật pháp
(trong điều kiện còn ban hành pháp lệnh thì giải
thích cả pháp lệnh).
4 - Tiếp tục đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong quá
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam bằng việc định hướng về tổ chức
bộ máy nhà nước, lựa chọn, giới thiệu cán bộ để
giữ các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước,
lãnh đạo cơ quan nhà nước thể chế hóa chủ
trương, nghị quyết của Đảng thành pháp luật;
tăng cường quản lý và kiểm tra tổ chức đảng, cán
bộ, đảng viên hoạt động trong bộ máy nhà nước,
vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy
được tính chủ động, năng động và tự chịu trách
nhiệm của những người đứng đầu của các cơ quan
lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Như vậy, xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước ta theo hướng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một quá trình
tương đối lâu dài với những bước đi vững chắc
gắn liền với quá trình đổi mới kinh tế - xã hội,
củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa và tiếp tục đổi mới hệ
thống chính trị. Chúng ta tin tưởng rằng, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, với sự nỗ lực phấn đấu bền
bỉ của Nhà nước và nhân dân ta, Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân sẽ được tiếp tục xây dựng và
trở thành hiện thực ở Việt Nam.
* Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc
hội
Nguồn: Tạp chí Cộng sản, số 743 (tháng 10-2005) |