|
Pháp
luật là công cụ của người dân
Diệp Linh
Xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân đồng nghĩa với việc xây dựng và hoàn
chỉnh hệ thống pháp luật phụng sự nhân dân.
Ở
đó, luật pháp không chỉ là công cụ quản lý của
Nhà nước mà nó trở thành công cụ để người dân sử
dụng bảo vệ quyền tự do, lợi ích của cá nhân, là
công cụ cân bằng và thúc đẩy sự phát triển.
Người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng
cho hệ thống pháp luật dân chủ của nước Việt Nam
mới là Hồ Chí Minh. Không phải ngẫu nhiên mà
ngay sau khi giành độc lập, trong hàng loạt
những nhiệm vụ cấp bách của cách mạng, Hồ Chủ
tịch đã coi soạn thảo Hiến pháp và tổng tuyển cử
tự do là những việc phải gấp rút hoàn thành. Hơn
ai hết, là một nhà cách mạng từng trải, Người
hiểu rõ giá trị của pháp quyền đối với dân chủ
và phát triển. Vì vậy, khi bắt tay vào soạn thảo
Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam mới, Hồ
Chủ tịch đã nhấn mạnh nguyên tắc Hiến pháp
này phải là một Hiến pháp dân chủ, nghĩa là
một Hiến pháp đề cao quyền làm chủ của nhân dân
và là công cụ giúp người dân dùng để bảo vệ
quyền dân chủ của mình. Nguyên tắc
Hiến pháp này phải là một Hiến pháp dân chủ,
cùng với câu đầu tiên trong Tuyên ngôn độc lập “Tất
cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng”
là minh chứng của tư tưởng vì dân trong tư duy
lập pháp Hồ Chí Minh. Hiến pháp 1946, được soạn
thảo bởi tư duy lập pháp Hồ Chí Minh, chứa đựng
trong nó những tinh hoa của nhân loại, trở thành
nền tảng và sức mạnh của chế độ mới.
Hồ Chủ tịch từng nói, dân ta đã phải sống trong
chế độ quân chủ chuyên chế hàng ngàn năm, rồi
sống trong ách cai trị của thực dân Pháp cũng
không kém phần chuyên chế. Vậy nên dân ta đã
không được hưởng quyền tự do trong các chế độ đó.
Và, Hồ Chủ tịch coi quyền được hưởng thụ Hiến
pháp của nhân dân cũng quan trọng và linh thiêng
như quyền có cơm ăn, áo mặc, học hành... Tiếc
thay, đất nước vừa độc lập lại phải bước ngay
vào hai cuộc kháng chiến trường kỳ, mọi nguồn
lực đều phải tập trung phục vụ chiến tranh,
chúng ta đã không có thời gian để xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật như mong muốn. Nói
như thế để thấy rằng việc xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật cần có nhiều thời gian và
công sức, cần những thử nghiệm và đánh giá. Các
nước có nền dân chủ trước ta phải mất quãng thời
gian ba, bốn trăm năm để xây dựng hệ thống pháp
luật của họ và còn phải tiếp tục hoàn thiện hệ
thống pháp luật đã có. Hơn nữa, người dân trong
xã hội dân chủ cũng cần có thời gian để tạo ra
thói quen sống và làm việc theo hiến pháp và
pháp luật. Thế nên, không quá khiêm tốn khi nói
rằng chúng ta đang trong quá trình tập bài học
dân chủ.
Thực tế cho thấy rằng tập bài học dân chủ là
không dễ. Loài người đã mất hàng ngàn năm đấu
tranh mới xây dựng được nền dân chủ, lại phải
mất hàng mấy trăm năm để xây dựng hệ thống pháp
luật bảo vệ dân chủ. Vậy mà dân chủ và nhân
quyền vẫn còn là vấn đề nóng bỏng của thế giới
ngày nay. Nói như thế để thấy 60 năm vẫn là một
quãng thời gian ngắn của con đường lập pháp,
cũng là quãng thời gian chưa dài để người dân
tập thói quen sống và làm việc theo pháp luật.
Một xã hội dân chủ tiến bộ chỉ có được khi có
một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và mọi người
dân có đủ năng lực để sử dụng nó trong cuộc sống.
Đây là một vấn đề rất biện chứng. Trong triết lý
lập pháp hiện đại, người ta thấy sử dụng mệnh đề
pháp luật là công cụ của người dân sẽ có ý nghĩa
nhiều hơn mệnh đề pháp luật là công cụ của Nhà
nước. Cho dù Nhà nước nào cũng phải quản lý xã
hội bằng pháp luật và pháp luật bao giờ cũng là
công cụ quản lý hữu hiệu nhất. Nhưng trong một
xã hội mà mọi người dân đều nhận thức được việc
nắm vững và tuân thủ pháp luật là đạo đức tối
thiểu con người cần có, đem lại lợi ích thiết
thân cho cuộc sống và sự phát triển của bản thân
mình, thì họ sẽ chủ động tìm đến các đạo luật,
nắm bắt và sử dụng nó như một công cụ của riêng
mình. Điều đặt ra ở đây là làm thế nào để có
những điều luật, đạo luật để người dân tự động
tìm đến nó? Thực ra, vấn đề không phải là tuyên
truyền thế nào để người dân nhận thức được lợi
ích của hiểu biết pháp luật mà là phải làm thế
nào để có những điều luật hữu ích? Tất nhiên,
một xã hội pháp quyền cũng chỉ có được khi trình
độ dân trí của xã hội ấy rất cao và mặt bằng dân
trí ít gồ ghề, cộng thêm một điều kiện là mỗi
người dân xác định được địa vị của cá nhân mình
trong chế độ dân chủ cộng hòa.
Nhìn vào hệ thống pháp luật của một quốc gia,
người ta biết được bản chất của chế độ và trình
độ văn minh của quốc gia đó. Trong thời đại ngày
nay, một quốc gia thiếu pháp luật là một quốc
gia yếu. Chưa bao giờ chúng ta thấy pháp luật
cần cho sự phát triển như bây giờ. Năm 2005 đáng
nhớ đối với công tác lập pháp. Trong lịch sử 60
năm của chế độ mới, chưa năm nào Quốc hội thông
qua số lượng các đạo luật nhiều như thế. Sự thúc
bách của tiến trình hội nhập đòi hỏi chúng ta
phải tạo ra các công cụ để bảo vệ mình. Thành
tựu quan trọng nằm ở chỗ chưa bao giờ người dân
thấy luật gần gũi và thiết thân với mình như thế.
Nhu cầu được cung cấp cấp luật của xã hội là rất
lớn. Điều đó đòi hỏi các nhà lập pháp phải tăng
khả năng đáp ứng. Tuy nhiên, số lượng và chất
lượng luật vẫn là vấn đề các nhà làm luật rất
quan tâm, và cuối cùng là làm thế nào để xã hội
tiêu thụ có hiệu quả số lượng luật được ban hành
là những câu hỏi không dễ trả lời. Ai cũng biết
rằng hiệu quả của một đạo luật phụ thuộc vào
cách thức nó đi vào cuộc sống và tác động vào
cuộc sống như thế nào, nhưng không phải ai cũng
biết cách phải làm thế nào để có được nó. Với
tốc độ làm luật như hiện nay, thì khoảng thời
gian 15-20 năm tới có thể đủ để hoàn thiện tương
đối hệ thống pháp luật tương thích với nhu cầu.
Nhưng liệu mọi người dân có nắm vững và sử dụng
thành thạo hệ thống pháp luật ấy hay không? Hoặc
là người dân có chủ động nắm bắt và sử dụng công
cụ pháp luật như một nhu cầu thiết yếu hay không?
Trong điều kiện kinh tế- xã hội và trình độ dân
trí của nước ta hiện nay, có lẽ đang là thách
thức. |