|
Về việc tổ chức giám sát của Đoàn ĐBQH
Phạm Minh Tuấn
Chánh văn phòng Đoàn ĐBQH Bắc
Giang
Giám sát của Quốc hội, các cơ
quan của Quốc hội, của đoàn ĐBQH, của HĐND
các cấp luôn là một nội dung quan trọng
trong hoạt động dân cử. Làm thế nào để nâng
cao hiệu quả công tác giám sát nói chung và
công tác giám sát của đoàn ĐBQH đã được đặt
ra từ lâu và ngày càng bức xúc nhất là khi
nước ta đang bước vào giai đoạn hội nhập
kinh tế, những mặt trái của cơ chế thị
trường, tệ tham nhũng, lãng phí đang len lỏi
và hiện hữu ở nhiều lĩnh vực trong đời sống
xã hội.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An
đã từng phát biểu về hoạt động giám sát của Quốc
hội vẫn là một khâu yếu và còn hạn chế nhất
định. Nhận thức về chức năng giám sát của Quốc
hội trong điều kiện một Đảng lãnh đạo vẫn chưa
thực sự đầy đủ, vẫn còn tâm lý nể nang, ngại va
chạm. Khi tiến hành giám sát thời gian, công sức
trí tuệ dành cho công tác giám sát chưa tương
xứng với yêu cầu.
Nhiều cơ quan hữu quan chưa tích
cực trong việc nghiên cứu, giải quyết kiến nghị,
công tác tổ chức phục vụ hoạt động giám sát gặp
nhiều khó khăn bất cập về cán bộ và các điều
kiện đảm bảo khác. Tổ chức thực hiện giám sát
theo quy định của luật, nhất là về phương thức
hoạt động của Đoàn giám sát, tổ chức giám sát
của Đoàn ĐBQH và các ĐBQH còn lúng túng.
Vậy những yếu kém, hạn chế nêu
trên xuất phát từ những nguyên nhân nào, những
khó khăn vướng mắc trong hoạt động giám sát là
gì, cần có những giải pháp nào để tháo gỡ những
khó khăn đó? Có phải là từ những quy định trong
luật của chúng ta về công tác giám sát này còn
quá gò bó, thiếu tính khả thi hay từ những quy
định về trách nhiệm hoạt động của đại biểu chưa
rõ ràng, hay từ ý thức chủ quan của những người
thực hiện.
Về cơ sở pháp lý trong hoạt động
giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH đã được quy
định trong Luật Hoạt động giám sát năm 2003.
Những quy định trong luật đã thể hiện rất rõ
những nhiệm vụ, thẩm quyền của các ĐBQH đối với
hoạt động giám sát hoàn toàn không gò bó. Các
đại biểu có thể căn cứ vào các quy định của luật
để thực hiện cách tốt nhất nhiệm vụ của mình.
Nhưng trong thực tế cũng có thể có nhiều đại
biểu còn chưa phát huy được trách nhiệm của
mình, chưa dành nhiều thời gian cho việc giám
sát. Nhưng nguyên nhân chủ yếu có lẽ do công tác
hướng dẫn và tổ chức để các đại biểu thực hiện
quyền giám sát của mình chưa tốt.
Cho đến nay Luật Hoạt động giám
sát của Quốc hội đã có hiệu lực được 2 năm và
Luật Tổ chức HĐND,UBND cũng đã ban hành được gần
2 năm. Nhưng đều chưa có những hướng dẫn cụ thể
về công tác giám sát của những cơ quan có thẩm
quyền. Rất nhiều câu hỏi những vướng mắc trong
quá trình thực hiện công tác giám sát được đặt
ra nhưng chưa có sự trả lời.
Ví dụ:
Thứ nhất về công tác tổ chức giám sát, tại Khoản
2, điểm c, Điều 42, có quy định về nhiệm vụ,
quyền hạn của Đoàn giám sát, Đoàn ĐBQH như sau:
"Xem xét, xác minh những vấn đề mà đoàn giám
sát ĐBQH thấy cần thiết". Như vậy, hiểu nội
hàm về phạm vi xem xét, xác minh thế nào cho
đúng. Trong thực tế nhiều đại biểu dân cử cho
rằng hoạt động xem xét, xác minh là hoạt động
của các cơ quan thanh tra hoặc các cơ quan bảo
vệ pháp luật. Nếu hoạt động giám sát của đoàn
ĐBQH, HĐND đi sâu vào việc xem xét, xác minh thì
sẽ lấn sang hoạt động thanh tra của các cơ quan
Nhà nước.
Ngược lại, nếu hoạt động giám sát
không có sự xem xét xác minh, chỉ dựa trên báo
cáo thì rõ ràng tính đúng đắn, tính chính xác,
hiệu quả của hoạt động giám sát không cao và
trong nhiều trường hợp có thể mất đi tác dụng
của hoạt động giám sát. Một thực tế đặt ra khi
hoạt động giám sát tổ chức xác minh sẽ mất nhiều
thời gian, điều ấy đối với đại biểu kiêm nhiệm
kể cả các ĐBQH chuyên trách là khó khăn, vì các
đại biểu cũng cần hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn
của mình và tham gia các cuộc họp do các cơ quan
của Quốc hội, các Ban, ngành địa phương tổ chức.
Vậy giải thích vấn đề này như thế nào đang là
câu hỏi của các ĐBQH và đoàn ĐBQH.
Thứ hai, vấn đề kiến nghị của
đoàn ĐBQH, ĐBQH. Tại Điểm đ Khoản 2, Khoản 3,
Điều 42 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội nêu
thẩm quyền kiến nghị yêu cầu của đoàn giám sát
và đoàn ĐBQH, nhưng lại không phân định rõ khi
nào thì đoàn giám sát kiến nghị, yêu cầu, khi
nào thì đoàn ĐBQH kiến nghị, yêu cầu. Điểm đ,
Khoản 2, Điều 42 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn
của đoàn giám sát khi phát hiện có hành vi vi
phạm pháp luật thì kiến nghị các cơ quan, tổ
chức yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền xem xét trách nhiệm.
Về trình tự, Luật hoạt động giám
sát của Quốc hội quy định đoàn giám sát sau 10
ngày kể từ ngày kết thúc hoạt động giám sát phải
gửi báo cáo kết quả giám sát đến đoàn ĐBQH để
thảo luận có kiến nghị và yêu cầu gửi đến cơ
quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Như vậy
trong trường hợp đoàn giám sát đã có kiến nghị
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có vi phạm thì
trình tự báo cáo với đoàn ĐBQH được thực hiện
như thế nào. Những kiến nghị yêu cầu của đoàn
giám sát có còn giá trị không khi mà sau đó đoàn
ĐBQH lại có ý kiến khác.
Tương tự như vậy tại Điều 44 cũng
quy định về thẩm quyền của ĐBQH và đoàn ĐBQH
trong việc xem xét kết quả giám sát đối với việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong đó quy định
ĐBQH, đoàn ĐBQH có quyền kiến nghị yêu cầu, tuy
nhiên luật không quy định rõ trường hợp nào
thuộc thẩm quyền của ĐBQH và trường hợp nào
thuộc thẩm quyền của đoàn ĐBQH. Trong thời gian
qua công tác giám sát việc thi hành pháp luật ở
địa phương của các cơ quan dân cử chủ yếu vẫn
dựa trên các báo cáo và đi khảo sát thực tế.
Việc xem xét xác minh để đảm bảo tính chính xác
của các số liệu nhận định trong báo cáo còn ít
được quan tâm, chính vì vậy đã hạn chế hiệu quả
của công tác giám sát rất nhiều.
Thông thường một số kế hoạch giám
sát hiện nay thực hiện theo quy trình là đoàn
giám sát gửi bản kế hoạch giám sát cho cơ quan
bị giám sát trước ít nhất 7 ngày. Đây là quy
định theo luật, đoàn giám sát đến nghe cơ quan
đó báo cáo khoảng 1/2 ngày, sau đó đoàn đi xem
xét khảo sát tại cơ sở từ khoảng 1 đến 2 ngày và
kết thúc được cuộc giám sát, viết báo cáo kết
luận. Với thời gian như vậy thì khó có thể đảm
bảo được một cuộc giám sát, đảm bảo được chất
lượng, đánh giá được chính xác kết quả đạt được
cũng như những tồn tại, thiếu sót của những đơn
vị bị giám sát. Vì phần lớn các thành viên đoàn
giám sát đều không chuyên sâu, trong khi đó tâm
lý chung của các đơn vị bị giám sát chủ yếu lại
chỉ muốn nêu các thành tích và dấu đi các khuyết
điểm.
Các thành viên của đoàn giám sát
lại không có thời gian để xem xét, xác minh, đối
chiếu và tất yếu là kết luận chủ yếu vẫn dựa vào
báo cáo của các đơn vị là chính. Từ các kết quả
giám sát không sâu, cho nên chất lượng các kiến
nghị cũng chung chung, hạn chế và ít có tính khả
thi. Do không có tính khả thi nên việc thực hiện
kiến nghị của các cơ quan bị giám sát cũng mang
tính hình thức và không tích cực. Kiến nghị của
các cơ quan bị giám sát qua đó cho thấy việc đổi
mới nhận thức cũng như cách thức tổ chức thực
hiện trong hoạt động giám sát là việc làm hết
sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Vậy cần
phải tổ chức, phải nhận thức thế nào cho đúng
việc giám sát và chấp hành pháp luật ở địa
phương của ĐBQH và đoàn ĐBQH.
Theo tôi trong khái niệm về giám
sát đã được Luật hoạt động giám sát năm 2003
giải thích rất rõ như sau, "là việc Quốc hội,
UBTVQH, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc
hội, ĐBQH và đoàn ĐBQH theo dõi, xem xét, đánh
giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân". Và
trong từ điển tiếng Việt năm 2001 cũng đã định
nghĩa về công tác giám sát này như sau là theo
dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những quy
định của pháp luật có đúng hay không. Như vậy
hoạt động giám sát lúc nào cũng cần đến hai giai
đoạn, giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra và
giai đoạn đánh giá. Giai đoạn theo dõi, xem xét,
kiểm tra là cơ sở thực hiện của giai đoạn đánh
giá, theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì
việc đánh giá sẽ đúng đắn và chính xác, cuộc
giám sát sẽ có kết quả tích cực và ngược lại.
Từ những phân tích nêu trên trong
hoạt động giám sát, việc chấp hành pháp luật tại
địa phương không thể thiếu việc xem xét xác
minh, nhưng việc xem xét xác minh đòi hỏi mất
rất nhiều thời gian và phải có kinh nghiệm về
những lĩnh vực giám sát. Thực tế hiện nay Đoàn
ĐBQH, chủ yếu là các ĐBQH hoạt động kiêm nhiệm,
do vậy việc tổ chức xem xét thế nào để đáp ứng
được yêu cầu là bài toán khó đối với các Đoàn
ĐBQH hiện nay.
Theo tôi, thực hiện tốt hoạt động
giám sát việc chấp hành pháp luật tại địa
phương, đoàn ĐBQH nên vận dụng một cách có hiệu
quả các quy định của luật vào việc tổ chức giám
sát theo hướng như sau:
Thứ nhất là
thành lập Đoàn giám sát để căn cứ vào chương
trình kế hoạch hàng năm của đại biểu và Đoàn
ĐBQH đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông
qua, Đoàn ĐBQH chủ động thành lập các Đoàn giám
sát. Thành viên của các Đoàn giám sát gồm một
hoặc nhiều ĐBQH trong Đoàn và một số các chuyên
gia, chuyên viên của Văn phòng Đoàn ĐBQH, các cơ
quan khác do ĐBQH trưng tập theo yêu cầu của
nhiệm vụ.
Việc thành lập Đoàn giám sát như
vậy sẽ giải quyết được vấn đề thời gian dành cho
công tác giám sát, vì Đoàn giám sát có thể phân
công các thành viên trong Đoàn từng phần công
việc theo yêu cầu cụ thể cho phù hợp với chuyên
môn và thời gian của các thành viên. Như vậy
thời gian dành cho cuộc giám sát không quá phụ
thuộc vào thời gian của các ĐBQH.
Thứ hai là
xây dựng kế hoạch giám sát và tổ chức giám sát
căn cứ vào quyết định của Đoàn ĐBQH, Đoàn giám
sát xây dựng kế hoạch cụ thể, kế hoạch giám sát
cần nêu rõ mục đích, yêu cầu, những nội dung
giám sát và phương pháp tiến hành, dự kiến lịch
tiến hành giám sát cụ thể.
Thứ ba là
phương pháp cách thức tiến hành giám sát, để mỗi
Đoàn giám sát của đại biểu và của Đoàn ĐBQH có
cách thức tổ chức riêng. Theo tôi, khi tổ chức
giám sát, Đoàn giám sát vẫn cần gửi sớm kế hoạch
và yêu cầu đơn vị bị giám sát gửi báo cáo trước
cho thành viên trong Đoàn ít nhất là 2 ngày
trước khi đơn vị bị giám sát giải trình những
việc chưa rõ, những thắc mắc của thành viên Đoàn
giám sát.
Sau khi nghe giải trình, Đoàn
giám sát cần tổ chức kiểm tra, xác minh những
vấn đề nêu trong báo cáo hoặc chưa nêu trong báo
cáo. Việc tổ chức xác minh xem xét kiểm tra là
hết sức quan trọng và phức tạp, nên cần có một
khoảng thời gian nhất định do Trưởng đoàn giám
sát thống nhất cụ thể với đơn vị giám sát. Việc
xác minh phải được lập thành văn bản để lưu
trong hồ sơ, sau khi xem xét, xác minh đoàn giám
sát thống nhất họp đánh giá báo cáo với đoàn
ĐBQH để có kiến nghị yêu cầu với đơn bị bị giám
sát.
Với quy trình như vậy, việc giám
sát sẽ khắc phục được phần nào tính hình thức,
nâng cao chất lượng hiệu quả của báo cáo giám
sát và từ đó nâng cao chất lượng kiến nghị của
ĐBQH và đoàn ĐBQH.
Tóm lại, hiệu quả hoạt động của
giám sát việc thi hành pháp luật của địa phương
của ĐBQH và đoàn ĐBQH phụ thuộc nhiều yếu tố,
nhưng quan trọng nhất vẫn là khâu tổ chức thực
hiện, nếu làm tốt chắc chắn họat động của ĐBQH
và đoàn ĐBQH sẽ đạt hiệu quả cao.
Từ những cơ sở lý luận và thực
tiễn hoạt động này đòi hỏi cần tiếp tục nghiên
cứu, sửa đổi, cải tiến để phù hợp với yêu cầu
đổi mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Nguồn: Báo
Người đại biểu nhân dân |