Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Về việc tổ chức giám sát của Đoàn ĐBQH

Phạm Minh Tuấn

Chánh văn phòng Đoàn ĐBQH Bắc Giang

 

Giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, của đoàn  ĐBQH, của HĐND các cấp luôn là một nội dung quan trọng trong hoạt động dân cử. Làm thế nào để nâng cao hiệu quả công tác giám sát nói chung và công tác giám sát của đoàn ĐBQH đã được đặt ra từ lâu và ngày càng bức xúc nhất là khi nước ta đang bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế, những mặt trái của cơ chế thị trường, tệ tham nhũng, lãng phí đang len lỏi và hiện hữu ở nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội.

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã từng phát biểu về hoạt động giám sát của Quốc hội vẫn là một khâu yếu và còn hạn chế nhất định. Nhận thức về chức năng giám sát của Quốc hội trong điều kiện một Đảng lãnh đạo vẫn chưa thực sự đầy đủ, vẫn còn tâm lý nể nang, ngại va chạm. Khi tiến hành giám sát thời gian, công sức trí tuệ dành cho công tác giám sát chưa tương xứng với yêu cầu.

Nhiều cơ quan hữu quan chưa tích cực trong việc nghiên cứu, giải quyết kiến nghị, công tác tổ chức phục vụ hoạt động giám sát gặp nhiều khó khăn bất cập về cán bộ và các điều kiện đảm bảo khác. Tổ chức thực hiện giám sát theo quy định của luật, nhất là về phương thức hoạt động của Đoàn giám sát, tổ chức giám sát của Đoàn  ĐBQH và các  ĐBQH còn lúng túng.

Vậy những yếu kém, hạn chế nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân nào, những khó khăn vướng mắc trong hoạt động giám sát là gì, cần có những giải pháp nào để tháo gỡ những khó khăn đó? Có phải là từ những quy định trong luật của chúng ta về công tác giám sát này còn quá gò bó, thiếu tính khả thi hay từ những quy định về trách nhiệm  hoạt động của đại biểu chưa rõ ràng, hay từ ý thức chủ quan của những người thực hiện.

Về cơ sở pháp lý trong hoạt động giám sát của  ĐBQH và Đoàn  ĐBQH đã được quy định trong Luật Hoạt động giám sát năm 2003. Những quy định trong luật đã thể hiện rất rõ những nhiệm vụ, thẩm quyền của các  ĐBQH đối với hoạt động giám sát hoàn toàn không gò bó. Các đại biểu có thể căn cứ vào các quy định của luật để thực hiện cách tốt nhất nhiệm vụ của mình. Nhưng trong thực tế cũng có thể có nhiều đại biểu còn chưa phát huy được trách nhiệm của mình, chưa dành nhiều thời gian cho việc giám sát. Nhưng nguyên nhân chủ yếu có lẽ do công tác hướng dẫn và tổ chức để các đại biểu thực hiện quyền giám sát của mình chưa tốt.

Cho đến nay Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội đã có hiệu lực được 2 năm và Luật Tổ chức HĐND,UBND cũng đã ban hành được gần 2 năm. Nhưng đều chưa có những hướng dẫn cụ thể về công tác giám sát của những cơ quan có thẩm quyền. Rất nhiều câu hỏi những vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác giám sát được đặt ra nhưng chưa có sự trả lời.

Ví dụ: Thứ nhất về công tác tổ chức giám sát, tại Khoản 2, điểm c, Điều 42, có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn giám sát, Đoàn ĐBQH như sau: "Xem xét, xác minh những vấn đề mà đoàn giám sát ĐBQH thấy cần thiết". Như vậy, hiểu nội hàm về phạm vi xem xét, xác minh thế nào cho đúng. Trong thực tế nhiều đại biểu dân cử cho rằng hoạt động xem xét, xác minh là hoạt động của các cơ quan thanh tra hoặc các cơ quan bảo vệ pháp luật. Nếu hoạt động giám sát của đoàn ĐBQH, HĐND đi sâu vào việc xem xét, xác minh thì sẽ lấn sang hoạt động thanh tra của các cơ quan Nhà nước.

Ngược lại, nếu hoạt động giám sát không có sự xem xét xác minh, chỉ dựa trên báo cáo thì rõ ràng tính đúng đắn, tính chính xác, hiệu quả của hoạt động giám sát không cao và trong nhiều trường hợp có thể mất đi tác dụng của hoạt động giám sát. Một thực tế đặt ra khi hoạt động giám sát tổ chức xác minh sẽ mất nhiều thời gian, điều ấy đối với đại biểu kiêm nhiệm kể cả các ĐBQH chuyên trách là khó khăn, vì các đại biểu cũng cần hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn của mình và tham gia các cuộc họp do các cơ quan của Quốc hội, các Ban, ngành địa phương tổ chức. Vậy giải thích vấn đề này như thế nào đang là câu hỏi của các ĐBQH và đoàn ĐBQH.

Thứ hai, vấn đề kiến nghị của đoàn ĐBQH, ĐBQH. Tại Điểm đ Khoản 2, Khoản 3, Điều 42 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội nêu thẩm quyền kiến nghị yêu cầu của đoàn giám sát và đoàn ĐBQH, nhưng lại không phân định rõ khi nào thì đoàn giám sát kiến nghị, yêu cầu, khi nào thì đoàn ĐBQH kiến nghị, yêu cầu. Điểm đ, Khoản 2, Điều 42 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của đoàn giám sát khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật thì kiến nghị các cơ quan, tổ chức yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét trách nhiệm.

Về trình tự, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội quy định đoàn giám sát sau 10 ngày kể từ ngày kết thúc hoạt động giám sát phải gửi báo cáo kết quả giám sát đến đoàn ĐBQH để thảo luận có kiến nghị và yêu cầu gửi đến cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Như vậy trong trường hợp đoàn giám sát đã có kiến nghị yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có vi phạm thì trình tự báo cáo với đoàn ĐBQH được thực hiện như thế nào. Những kiến nghị yêu cầu của đoàn giám sát có còn giá trị không khi mà sau đó đoàn ĐBQH lại có ý kiến khác.

Tương tự như vậy tại Điều 44 cũng quy định về thẩm quyền của ĐBQH và đoàn ĐBQH trong việc xem xét kết quả giám sát đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong đó quy định ĐBQH, đoàn ĐBQH có quyền kiến nghị yêu cầu, tuy nhiên luật không quy định rõ trường hợp nào thuộc thẩm quyền của ĐBQH và trường hợp nào thuộc thẩm quyền của đoàn ĐBQH. Trong thời gian qua công tác giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương của các cơ quan dân cử chủ yếu vẫn dựa trên các báo cáo và đi khảo sát thực tế. Việc xem xét xác minh để đảm bảo tính chính xác của các số liệu nhận định trong báo cáo còn ít được quan tâm, chính vì vậy đã hạn chế hiệu quả của công tác giám sát rất nhiều.

Thông thường một số kế hoạch giám sát hiện nay thực hiện theo quy trình là đoàn giám sát gửi bản kế hoạch giám sát cho cơ quan bị giám sát trước ít nhất 7 ngày. Đây là quy định theo luật, đoàn giám sát đến nghe cơ quan đó báo cáo khoảng 1/2 ngày, sau đó đoàn đi xem xét khảo sát tại cơ sở từ khoảng 1 đến 2 ngày và kết thúc được cuộc giám sát, viết báo cáo kết luận. Với thời gian như vậy thì khó có thể đảm bảo được một cuộc giám sát, đảm bảo được chất lượng, đánh giá được chính xác kết quả đạt được cũng như những tồn tại, thiếu sót của những đơn vị bị giám sát. Vì phần lớn các thành viên đoàn giám sát đều không chuyên sâu, trong khi đó tâm lý chung của các đơn vị bị giám sát chủ yếu lại chỉ muốn nêu các thành tích và dấu đi các khuyết điểm.

Các thành viên của đoàn giám sát lại không có thời gian để xem xét, xác minh, đối chiếu và tất yếu là kết luận chủ yếu vẫn dựa vào báo cáo của các đơn vị là chính. Từ các kết quả giám sát không sâu, cho nên chất lượng các kiến nghị cũng chung chung, hạn chế và ít có tính khả thi. Do không có tính khả thi nên việc thực hiện kiến nghị của các cơ quan bị giám sát cũng mang tính hình thức và không tích cực. Kiến nghị của các cơ quan bị giám sát qua đó cho thấy việc đổi mới nhận thức cũng như cách thức tổ chức thực hiện trong hoạt động giám sát là việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Vậy cần phải tổ chức, phải nhận thức thế nào cho đúng việc giám sát và chấp hành pháp luật ở địa phương của ĐBQH và đoàn ĐBQH.

Theo tôi trong khái niệm về giám sát đã được Luật hoạt động giám sát năm 2003 giải thích rất rõ như sau, "là việc Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, ĐBQH và đoàn ĐBQH theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân". Và trong từ điển tiếng Việt năm 2001 cũng đã định nghĩa về công tác giám sát này như sau là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những quy định của pháp luật có đúng hay không. Như vậy hoạt động giám sát lúc nào cũng cần đến hai giai đoạn, giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra và giai đoạn đánh giá. Giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra là cơ sở thực hiện của giai đoạn đánh giá, theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì việc đánh giá sẽ đúng đắn và chính xác, cuộc giám sát sẽ có kết quả tích cực và ngược lại.

Từ những phân tích nêu trên trong hoạt động giám sát, việc chấp hành pháp luật tại địa phương không thể thiếu việc xem xét xác minh, nhưng việc xem xét xác minh đòi hỏi mất rất nhiều thời gian và phải có kinh nghiệm về những lĩnh vực giám sát. Thực tế hiện nay Đoàn ĐBQH, chủ yếu là các ĐBQH hoạt động kiêm nhiệm, do vậy việc tổ chức xem xét thế nào để đáp ứng được yêu cầu là bài toán khó đối với các Đoàn ĐBQH hiện nay.

Theo tôi, thực hiện tốt hoạt động giám sát việc chấp hành pháp luật tại địa phương, đoàn ĐBQH nên vận dụng một cách có hiệu quả các quy định của luật vào việc tổ chức giám sát theo hướng như sau:

Thứ nhất là thành lập Đoàn giám sát để căn cứ vào chương trình kế hoạch hàng năm của đại biểu và Đoàn ĐBQH đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua, Đoàn ĐBQH chủ động thành lập các Đoàn giám sát. Thành viên của các Đoàn giám sát gồm một hoặc nhiều ĐBQH trong Đoàn và một số các chuyên gia, chuyên viên của Văn phòng Đoàn ĐBQH, các cơ quan khác do ĐBQH trưng tập theo yêu cầu của nhiệm vụ.

Việc thành lập Đoàn giám sát như vậy sẽ giải quyết được vấn đề thời gian dành cho công tác giám sát, vì Đoàn giám sát có thể phân công các thành viên trong Đoàn từng phần công việc theo yêu cầu cụ thể cho phù hợp với chuyên môn và thời gian của các thành viên. Như vậy thời gian dành cho cuộc giám sát không quá phụ thuộc vào thời gian của các ĐBQH.

Thứ hai là xây dựng kế hoạch giám sát và tổ chức giám sát căn cứ vào quyết định của Đoàn ĐBQH, Đoàn giám sát xây dựng kế hoạch cụ thể, kế hoạch giám sát cần nêu rõ mục đích, yêu cầu, những nội dung giám sát và phương pháp tiến hành, dự kiến lịch tiến hành giám sát cụ thể.

Thứ ba là phương pháp cách thức tiến hành giám sát, để mỗi Đoàn giám sát của đại biểu và của Đoàn ĐBQH có cách thức tổ chức riêng. Theo tôi, khi tổ chức giám sát, Đoàn giám sát vẫn cần gửi sớm kế hoạch và yêu cầu đơn vị bị giám sát gửi báo cáo trước cho thành viên trong Đoàn ít nhất là 2 ngày trước khi đơn vị bị giám sát giải trình những việc chưa rõ, những thắc mắc của thành viên Đoàn giám sát.

Sau khi nghe giải trình, Đoàn giám sát cần tổ chức kiểm tra, xác minh những vấn đề nêu trong báo cáo hoặc chưa nêu trong báo cáo. Việc tổ chức xác minh xem xét kiểm tra là hết sức quan trọng và phức tạp, nên cần có một khoảng thời gian nhất định do Trưởng đoàn giám sát thống nhất cụ thể với đơn vị giám sát. Việc xác minh phải được lập thành văn bản để lưu trong hồ sơ, sau khi xem xét, xác minh đoàn giám sát thống nhất họp đánh giá báo cáo với đoàn ĐBQH để có kiến nghị yêu cầu với đơn bị bị giám sát.

Với quy trình như vậy, việc giám sát sẽ khắc phục được phần nào tính hình thức, nâng cao chất lượng hiệu quả của báo cáo giám sát và từ đó nâng cao chất lượng kiến nghị của ĐBQH và đoàn ĐBQH.

Tóm lại, hiệu quả hoạt động của giám sát việc thi hành pháp luật của địa phương của ĐBQH và đoàn ĐBQH phụ thuộc nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất vẫn là khâu tổ chức thực hiện, nếu làm tốt chắc chắn họat động của ĐBQH và đoàn ĐBQH sẽ đạt hiệu quả cao.

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động này đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, cải tiến để phù hợp với yêu cầu đổi mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

 

Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện