|
Từ quá trình hình
thành, phát triển và hoạt động của Quốc hội nước ta 60 năm qua, có thể rút ra
một số bài học kinh nghiệm sau đây:
Thứ nhất,
sự ra đời và phát triển của Quốc hội là kết quả của quá trình đấu
tranh cách mạng và gắn liền với sự phát triển của đất nước ta trong suốt 60 năm
qua. Trong quá trình phát triển, Quốc hội ngày càng thực sự thể hiện là cơ quan
kết hợp chặt chẽ và hài hòa hình thức dân chủ đại diện và hình thức dân chủ trực
tiếp, là hiện thân của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ngay trong những ngày đầu khi Cách mạng Tháng Tám vừa mới
thành công, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, gian nan, thử thách, cuộc bầu cử
Quốc hội đầu tiên được tổ chức vào ngày 6-1-1946 ở khắp các tỉnh, thành với 89%
cử tri trong cả nước đi bầu và lựa chọn được 333 đại biểu của mình vào Quốc
hội, trong đó có 34 đại biểu các dân tộc thiểu số và 57% đại biểu các đảng phái
khác nhau. Tính dân chủ trực tiếp ngày càng thể hiện rõ hơn trong các cuộc bầu
cử sau này. Quốc hội do toàn dân trực tiếp bầu ra và có cơ cấu thành phần rộng
rãi luôn phản ảnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phản ánh tiếng nói và quyền
lực của toàn dân. Thông qua các đại biểu của mình cũng như các hình thức hoạt
động của Quốc hội, quyền làm chủ của người dân ngày càng được tôn trọng và phát
huy. Cũng vì thế, vai trò, vị thế cũng như uy tín của Quốc hội ngày càng được
nâng cao.
Thứ hai,
từ ngày thành lập đến nay, Quốc hội đã thể hiện
hai thuộc tính đặc biệt mà chỉ duy nhất Quốc hội mới có, đó là: cơ quan đại
biểu cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Nhân dân thông qua Quốc hội và các đại biểu Quốc hội do mình bầu
ra để thực thi các quyền lực của mình, do đó Quốc hội là cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân. Quốc hội là nền tảng chính trị - pháp lý của sự tồn tại và
phát triển của hệ thống tổ chức quyền lực chính trị và tổ chức quyền lực Nhà
nước. Quốc hội với ba chức năng cơ bản là: lập pháp (cơ quan duy nhất có quyền
ban hành Hiến pháp và luật), quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất
nước và thực hiện quyền giám sát tối cao. Thông qua ba chức năng này, Quốc hội
đã thể hiện là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất và thực hiện ngày càng có hiệu quả các chức năng của mình thông
qua việc không ngừng hoàn thiện và đổi mới tổ chức cũng như phương thức hoạt
động. Quốc hội ngày càng xứng đáng với niềm tin và ý chí của toàn dân, xứng đáng với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Thứ ba,
mô hình tổ chức
một viện của Quốc hội nước ta đã phản ánh đúng truyền thống, lịch sử hình thành
và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Ngay từ khi thành lập sau
cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, Quốc hội nước ta với hình thức tổ chức theo cơ
cấu một viện là nhằm bảo đảm cho Quốc hội thật sự
trở thành một tổ chức tập trung quyền lực của
Nhà nước, thống nhất ý chí, nguyện vọng của
các tầng lớp nhân dân.
Quốc
hội luôn thành lập cơ quan thường trực để giúp Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ
và quyền hạn ngay cả trong thời gian Quốc hội không họp. Cùng với việc thành
lập cơ quan thường trực của Quốc hội, cơ cấu tổ chức của Quốc hội ngày càng
hoàn thiện và hiện nay có Hội đồng Dân tộc và 7 Uỷ ban để giúp Quốc hội trong
việc thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh; giám sát việc thực hiện Hiến pháp,
luật, pháp lệnh và kiến nghị về các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của mình.
Đoàn đại biểu Quốc hội ở các địa phương là hình thức tổ chức đặc thù của Quốc
hội nước ta, góp phần tăng cường sự gắn kết giữa Quốc hội với cử tri và chính
quyền các cấp, tạo điều kiện cho Quốc hội hoạt động có hiệu quả hơn trong thời
gian giữa hai kỳ họp.
Thứ tư,
Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội không ngừng đổi
mới phương thức hoạt động nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả các kỳ họp. Đổi
mới phương thức hoạt động của Quốc hội được thực hiện một cách đồng bộ, từ đổi
mới quy trình lập pháp đến việc tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các kỳ
họp; cải tiến việc xem xét và thảo luận các vấn đề tại kỳ họp, phiên họp theo
hướng dân chủ, mở rộng tranh luận, đối thoại để thống nhất ý kiến; tăng cường
cởi mở, công khai trong sinh hoạt của Quốc hội.
Nhờ
đổi mới phương thức hoạt động mà sự quan tâm của công chúng đối với các hoạt
động của Quốc hội ngày càng cao, được nhân dân đồng tình và ủng hộ. Từ đó, uy
tín của Quốc hội ngày càng lớn, lòng tin của nhân dân đối với Quốc hội ngày
càng tăng.
Cùng
với đổi mới phương thức lập pháp, cải tiến và nâng cao chất lượng hoạt động của
các đại biểu Quốc hội cũng như tại các kỳ họp, việc tổ chức thực hiện quyền
giám sát của Quốc hội cũng được cải thiện và đổi mới, ngày càng có chất lượng
và hiệu quả hơn, các hình thức giám sát ngày càng đa dạng hơn.
Thứ năm, hoạt động của Quốc hội phải gắn chặt và phối hợp chặt
chẽ với các tổ chức Đảng, cơ quan chính quyền, đoàn thể nhân dân, trong đó các
cơ quan Quốc hội phải thường xuyên chủ động phối hợp, nhất là trong việc chuẩn
bị các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và nhiều
công việc quan trọng khác của đất nước. Tăng cường mối quan hệ hợp tác là điều
kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội. Đồng thời, phải
đề cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể đối với Quốc
hội.
Mặt
khác, để cho hoạt động của Quốc hội thể hiện được ý chí, nguyện vọng của toàn
dân, gắn bó với thực tiễn cuộc sống, cần tăng cường mối quan hệ giữa Quốc hội
với nhân dân. Thông qua việc tiếp xúc cử tri, lắng nghe ý kiến của cử tri;
tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và thực
hiện các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội ngày
càng phát huy vai trò, nâng cao uy tín và năng lực của mình và được nhân dân
tín nhiệm cao hơn.
Thứ sáu, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định
để Quốc hội hoàn thành xuất sắc các chức năng, nhiệm vụ của mình. Sự lãnh đạo
của Đảng đối với Quốc hội là nhằm bảo đảm cho Quốc hội hoạt động đúng định
hướng, phù hợp với lợi ích của dân tộc và của giai cấp, tạo điều kiện để kiện
toàn và củng cố hệ thống chính trị, củng cố và tăng cường Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, giữ vững bản chất Nhà nước của ta là nhà nước của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân.
Toàn
bộ hoạt động lập pháp của Quốc hội thời gian qua là tiếp tục thể chế hóa đường
lối đổi mới của Đảng, thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Tăng
cường sự lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
cũng là một quá trình phát triển tư duy, phát triển nhận thức và phù hợp với
thực tiễn của cách mạng nước ta. Tăng cường vai trò của Quốc hội cũng chính là
điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, làm cho bộ máy chính
quyền hoạt động có hiệu quả, hiệu lực hơn, thông qua đó, uy tín và vai trò của
Đảng ngày càng cao. Đảng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo Quốc hội bằng đường lối,
quan điểm, các nghị quyết, quyết định, nguyên tắc giải quyết những vấn đề trọng
đại về quốc kế dân sinh; lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, quan điểm,
chủ trương, nghị quyết của Đảng; xây dựng Nhà nước thực sự trong sạch, vững
mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; bố trí đúng đội ngũ cán bộ cầm quyền
ngang tầm nhiệm vụ. Đảng không buông lỏng lãnh đạo nhưng cũng không bao biện,
làm thay Quốc hội và các cơ quan nhà nước, trái lại, Quốc hội và các cơ quan
nhà nước càng phải phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo với tinh thần
trách nhiệm cao trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Đây cũng
chính là điều kiện để Quốc hội ngày càng phát huy vai trò là cơ quan đại diện
cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước ta.
|