Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


 "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy."

Trích   Tuyên ngôn độc lập

   

Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  

 

Một số bài học kinh nghiệm

Từ quá trình hình thành, phát triển và hoạt động của Quốc hội nước ta 60 năm qua, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

Thứ nhất, sự ra đời và phát triển của Quốc hội là kết quả của quá trình đấu tranh cách mạng và gắn liền với sự phát triển của đất nước ta trong suốt 60 năm qua. Trong quá trình phát triển, Quốc hội ngày càng thực sự thể hiện là cơ quan kết hợp chặt chẽ và hài hòa hình thức dân chủ đại diện và hình thức dân chủ trực tiếp, là hiện thân của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ngay trong những ngày đầu khi Cách mạng Tháng Tám vừa mới thành công, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, gian nan, thử thách, cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên được tổ chức vào ngày 6-1-1946 ở khắp các tỉnh, thành với 89% cử tri trong cả nước đi bầu và lựa chọn được 333 đại biểu của mình vào Quốc hội, trong đó có 34 đại biểu các dân tộc thiểu số và 57% đại biểu các đảng phái khác nhau. Tính dân chủ trực tiếp ngày càng thể hiện rõ hơn trong các cuộc bầu cử sau này. Quốc hội do toàn dân trực tiếp bầu ra và có cơ cấu thành phần rộng rãi luôn phản ảnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phản ánh tiếng nói và quyền lực của toàn dân. Thông qua các đại biểu của mình cũng như các hình thức hoạt động của Quốc hội, quyền làm chủ của người dân ngày càng được tôn trọng và phát huy. Cũng vì thế, vai trò, vị thế cũng như uy tín của Quốc hội ngày càng được nâng cao.

Thứ hai, từ ngày thành lập đến nay, Quốc hội đã thể hiện hai thuộc tính đặc biệt mà chỉ duy nhất Quốc hội mới có, đó là: cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Nhân dân thông qua Quốc hội và các đại biểu Quốc hội do mình bầu ra để thực thi các quyền lực của mình, do đó Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Quốc hội là nền tảng chính trị - pháp lý của sự tồn tại và phát triển của hệ thống tổ chức quyền lực chính trị và tổ chức quyền lực Nhà nước. Quốc hội với ba chức năng cơ bản là: lập pháp (cơ quan duy nhất có quyền ban hành Hiến pháp và luật), quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao. Thông qua ba chức năng này, Quốc hội đã thể hiện là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và thực hiện ngày càng có hiệu quả các chức năng của mình thông qua việc không ngừng hoàn thiện và đổi mới tổ chức cũng như phương thức hoạt động. Quốc hội ngày càng xứng đáng với niềm tin và ý chí của toàn dân, xứng đáng với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Thứ ba, mô hình tổ chức một viện của Quốc hội nước ta đã phản ánh đúng truyền thống, lịch sử hình thành và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Ngay từ khi thành lập sau cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, Quốc hội nước ta với hình thức tổ chức theo cơ cấu một viện là nhằm bảo đảm cho Quốc hội thật sự trở thành một tổ chức tập trung quyền lực của Nhà nước, thống nhất ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân.

Quốc hội luôn thành lập cơ quan thường trực để giúp Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn ngay cả trong thời gian Quốc hội không họp. Cùng với việc thành lập cơ quan thường trực của Quốc hội, cơ cấu tổ chức của Quốc hội ngày càng hoàn thiện và hiện nay có Hội đồng Dân tộc và 7 Uỷ ban để giúp Quốc hội trong việc thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh; giám sát việc thực hiện Hiến pháp, luật, pháp lệnh và kiến nghị về các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của mình. Đoàn đại biểu Quốc hội ở các địa phương là hình thức tổ chức đặc thù của Quốc hội nước ta, góp phần tăng cường sự gắn kết giữa Quốc hội với cử tri và chính quyền các cấp, tạo điều kiện cho Quốc hội hoạt động có hiệu quả hơn trong thời gian giữa hai kỳ họp.

Thứ tư, Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội không ngừng đổi mới phương thức hoạt động nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả các kỳ họp. Đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội được thực hiện một cách đồng bộ, từ đổi mới quy trình lập pháp đến việc tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các kỳ họp; cải tiến việc xem xét và thảo luận các vấn đề tại kỳ họp, phiên họp theo hướng dân chủ, mở rộng tranh luận, đối thoại để thống nhất ý kiến; tăng cường cởi mở, công khai trong sinh hoạt của Quốc hội.

Nhờ đổi mới phương thức hoạt động mà sự quan tâm của công chúng đối với các hoạt động của Quốc hội ngày càng cao, được nhân dân đồng tình và ủng hộ. Từ đó, uy tín của Quốc hội ngày càng lớn, lòng tin của nhân dân đối với Quốc hội ngày càng tăng.

Cùng với đổi mới phương thức lập pháp, cải tiến và nâng cao chất lượng hoạt động của các đại biểu Quốc hội cũng như tại các kỳ họp, việc tổ chức thực hiện quyền giám sát của Quốc hội cũng được cải thiện và đổi mới, ngày càng có chất lượng và hiệu quả hơn, các hình thức giám sát ngày càng đa dạng hơn.

Thứ năm, hoạt động của Quốc hội phải gắn chặt và phối hợp chặt chẽ với các tổ chức Đảng, cơ quan chính quyền, đoàn thể nhân dân, trong đó các cơ quan Quốc hội phải thường xuyên chủ động phối hợp, nhất là trong việc chuẩn bị các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và nhiều công việc quan trọng khác của đất nước. Tăng cường mối quan hệ hợp tác là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội. Đồng thời, phải đề cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể đối với Quốc hội.

Mặt khác, để cho hoạt động của Quốc hội thể hiện được ý chí, nguyện vọng của toàn dân, gắn bó với thực tiễn cuộc sống, cần tăng cường mối quan hệ giữa Quốc hội với nhân dân. Thông qua việc tiếp xúc cử tri, lắng nghe ý kiến của cử tri; tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và thực hiện các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội ngày càng phát huy vai trò, nâng cao uy tín và năng lực của mình và được nhân dân tín nhiệm cao hơn.

Thứ sáu, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định để Quốc hội hoàn thành xuất sắc các chức năng, nhiệm vụ của mình. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội là nhằm bảo đảm cho Quốc hội hoạt động đúng định hướng, phù hợp với lợi ích của dân tộc và của giai cấp, tạo điều kiện để kiện toàn và củng cố hệ thống chính trị, củng cố và tăng cường Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giữ vững bản chất Nhà nước của ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Toàn bộ hoạt động lập pháp của Quốc hội thời gian qua là tiếp tục thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng, thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Tăng cường sự lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội cũng là một quá trình phát triển tư duy, phát triển nhận thức và phù hợp với thực tiễn của cách mạng nước ta. Tăng cường vai trò của Quốc hội cũng chính là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, làm cho bộ máy chính quyền hoạt động có hiệu quả, hiệu lực hơn, thông qua đó, uy tín và vai trò của Đảng ngày càng cao. Đảng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo Quốc hội bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết, quyết định, nguyên tắc giải quyết những vấn đề trọng đại về quốc kế dân sinh; lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng; xây dựng Nhà nước thực sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; bố trí đúng đội ngũ cán bộ cầm quyền ngang tầm nhiệm vụ. Đảng không buông lỏng lãnh đạo nhưng cũng không bao biện, làm thay Quốc hội và các cơ quan nhà nước, trái lại, Quốc hội và các cơ quan nhà nước càng phải phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo với tinh thần trách nhiệm cao trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Đây cũng chính là điều kiện để Quốc hội ngày càng phát huy vai trò là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước ta.

 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện