|
1.
Bối cảnh tình hình
mới
Đất nước ta đang bước vào
thời kỳ phát triển mới với những thuận lợi cơ bản mà công cuộc đổi mới gần 20
năm qua đã đạt được: Nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng
trưởng khá cao và phát triển tương đối toàn diện; hoạt động văn hóa - xã hội
tiến bộ trên nhiều mặt, việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề
xã hội có chuyển biến tốt, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện, chỉ
số phát triển con người được nâng lên; chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng
và an ninh được tăng cường, hoạt động đối ngoại được mở rộng; công cuộc xây
dựng nhà nước pháp quyền đạt nhiều tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành
pháp, tư pháp.
Đất nước
ta bước vào thời kỳ phát triển mới trong xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển
vẫn là xu thế chủ đạo. Toàn cầu hóa là xu thế khách quan đã và đang diễn ra
nhanh chóng trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, tạo ra cơ hội phát triển
nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây không ít khó khăn, thách
thức cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Nền kinh
tế nước ta vẫn đang trong tình trạng kém phát triển; khoa học và công nghệ còn
ở trình độ thấp; các thế lực thù địch vẫn đang âm mưu chống phá ta; an ninh,
trật tự và an toàn xã hội ở một số vùng và địa phương vẫn chưa bảo đảm vững
chắc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đã đạt nhiều thành tựu quan
trọng; thế và lực của nước ta lớn mạnh lên rất nhiều so với trước. Nhà nước ta
đặt ra mục tiêu sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại.
2.
Yêu cầu, mục đích đổi mới Quốc hội
Yêu cầu chung đặt ra
trong việc đổi mới Quốc hội trong thời gian tới là phấn đấu để Quốc hội
thực thi đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà Hiến pháp và pháp luật đã quy định, xứng đáng với
vị trí và vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo hướng này,
Quốc hội vẫn được xác định là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp,
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao toàn bộ hoạt
động của Nhà nước. Quốc hội được xác định là thiết chế quyền lực nhà nước trung
tâm; quyết định của Quốc hội có ảnh hưởng và chi phối đối với các lĩnh vực khác
nhau của hoạt động Nhà nước và đời sống xã hội. Điều này đòi hỏi việc xem xét
và quyết định của Quốc hội phải thực chất, không mang tính hình thức.
Các yêu cầu cụ thể của việc đổi mới Quốc hội đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: thứ nhất, khắc phục
những khuyết điểm, tồn tại hiện nay trong tổ chức, hoạt động của Quốc hội; thứ
hai, phát huy vai trò của Quốc hội trong việc tạo lập môi trường thể chế và
điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy và phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; thứ ba, góp phần mở rộng và hoàn thiện nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa; thứ tư, theo định hướng xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta; thứ năm, phù hợp với xu hướng vận động
và phát triển của thời đại; thứ sáu, thúc đẩy quá trình chủ động hội
nhập quốc tế.
Đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội cần được tiến
hành khẩn trương. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng đây là một quá trình còn không
ít khó khăn, thách thức, vừa phản ánh nhu cầu cấp thiết phải khắc phục những
thiếu sót, tồn tại, vừa phải phù hợp và đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoạt động có hiệu quả và hiệu lực trong một thế
giới năng động vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt. Từ đó, cần tiến hành đổi mới
Quốc hội theo hệ thống các quan điểm cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Đồng thời, phải tính đến những yêu cầu có tính đặc thù trong tổ chức
và hoạt động của Quốc hội để đổi mới Quốc hội một cách có hiệu quả.
Hệ quan điểm đổi mới mô
hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội:
Đổi
mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội phải được tiến hành
theo các nguyên tắc chung sau đây:
(i) Đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc
hội để Quốc hội thực sự là: của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;
(ii) Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ phù hợp với mô
hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội;
(iii) Tổ chức và hoạt động của
Quốc hội phải tuân theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công và phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp;
(iv) Xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân; tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục,
nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa; và
(v) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.
Đồng thời, xuất phát từ tính chất hoạt động của Quốc hội và đối chiếu với
yêu cầu, mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cần
quán triệt các nguyên tắc cụ thể phù hợp với tổ chức và hoạt động của
Quốc hội như sau:
(i) Đổi mới Quốc hội phải trên cơ sở thực tiễn Việt Nam,
kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị phổ quát của nhân
loại.
Việc quán triệt quan điểm này là nhằm tìm kiếm những giá
trị về tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước ta đã được thực tiễn kiểm nghiệm.
Đồng thời, quan điểm này đòi hỏi phải tính đến yêu cầu, xu hướng hội nhập hiện
nay; những kinh nghiệm và bài học tổ chức nhà nước mà các nước khác đã trải qua
để đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội phù hợp với
điều kiện thực tế ở nước ta.
(ii) Nguyên tắc về tính đồng bộ và thống nhất trong đổi
mới Quốc hội
Đổi mới Quốc hội phải
được tiến hành đồng bộ trên cả bốn yếu tố
có mối quan hệ
gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau: (a) xác định đúng đắn và nâng cao nhận
thức về vị trí, vai trò của Quốc hội; (b) phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn của Quốc hội; (c) có cơ cấu tổ chức hợp lý và (d) đổi mới phương thức
hoạt động của Quốc hội trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Điều
này xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và phù hợp lẫn nhau giữa mô hình
tổ chức và phương thức hoạt động của mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước. Phương
thức hoạt động chỉ hợp lý và phát huy hiệu quả khi có cơ cấu tổ chức hợp lý,
khoa học và đồng thời, phương thức hoạt động có thể góp phần làm cho bộ máy
hoạt động có hiệu quả hơn.
Tính hệ thống và đồng bộ trong việc đổi mới Quốc hội được
bắt đầu từ việc đánh giá tình hình, thực trạng và xác định phương hướng, mục
đích cần đạt được và phải “dựa trên cơ sở pháp luật và tiến hành đồng bộ trên
các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội
ngũ cán bộ, công chức hành chính”1.
(iii) Đề cao trách nhiệm chính trị pháp lý và đạo đức của
các cơ quan, đại biểu Quốc hội trong việc bảo đảm hiệu quả và hiệu lực hoạt
động của Quốc hội
Quốc hội là cơ quan có vị trí rất
quan trọng, thực hiện ba chức năng: lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng
và giám sát tối cao. Quyết định của Quốc hội có ảnh hưởng, tác động trực tiếp
đến toàn xã hội và mọi công dân. Quyền lực càng lớn thì chế độ trách nhiệm càng
cao, đòi hỏi các cơ quan của Quốc hội tăng cường trách nhiệm, đại biểu Quốc hội
phải đề cao trách nhiệm cá nhân về pháp lý và đạo đức của mình trong việc thực
thi nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định.
(iv)
Nguyên tắc về tăng dần tính chuyên nghiệp và hiện đại của mô hình tổ chức và
phương thức hoạt động của Quốc hội
Nguyên tắc này đòi hỏi
Quốc hội phải hoạt động có hiệu quả hơn, thể hiện ở khả năng ban hành đầy đủ,
kịp thời các đạo luật có chất lượng tốt, áp dụng ngay được; luật có tính ổn
định cao, ít bị sửa đổi, bổ sung; quyết định của Quốc hội về các vấn đề quan
trọng của đất nước cần chính xác, kịp thời.
(v) Nguyên tắc minh bạch
và có thể dự đoán được trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội
Nguyên tắc minh bạch
trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội đòi hỏi chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ
thể phải được xác định rõ ràng, cụ thể, và phải chịu trách nhiệm về những quyết
định của mình trước nhân dân; bảo đảm cung cấp kịp thời cho người dân thông tin
về các quyết định của Quốc hội.
3. Phương hướng và giải pháp đổi mới Quốc
hội
Nghị
quyết của Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác định nhiệm vụ đẩy mạnh cải cách tổ
chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, trong
đó “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của
Đảng” 1 là vấn đề quan trọng hàng đầu.
Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
đã chính thức khẳng định bản chất Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Từ đó, cần phải tiếp tục
đổi mới tư duy, nhận thức một cách đầy đủ về Quốc hội nhằm phát huy vị trí, vai
trò của Quốc hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; nâng cao chất lượng hoạt động của
Quốc hội, của đại biểu Quốc hội, hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban
của Quốc hội; đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành
pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội theo hướng luật của Quốc hội phải là
văn bản chủ đạo trong việc điều chỉnh các quan hệ trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội đối với các
cơ quan nhà nước ở Trung ương. Phát huy có hiệu quả, đồng bộ các hình thức giám
sát của Quốc hội: giám sát của tập thể Quốc hội, giám sát của Hội đồng Dân tộc,
các ủy ban, của ủy ban Thường vụ Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội; nâng cao vai
trò của các đại biểu Quốc hội trong việc giám sát thi hành pháp luật ở địa
phương; chú trọng hoạt động giám sát của Quốc hội về hiệu quả sử dụng ngân sách
nhà nước.
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
giám sát tối cao là một chức năng cơ bản của Quốc hội bắt nguồn từ địa vị pháp
lý của Quốc hội. Cần phân biệt bản chất giám sát của Quốc hội là giám sát mang
tính quyền lực nhà nước khác với các hình thức giám sát khác.
Tiếp tục đổi mới hoạt động của các cơ quan của Quốc hội (Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban) và các đại biểu Quốc hội; chuyển
trọng tâm từ hoạt động theo đoàn như hiện nay sang hoạt động theo cơ chế ủy ban
là chủ yếu. Vai trò của cá nhân đại biểu Quốc hội phải được tăng cường.
Cần thành lập thêm một số Uỷ ban của Quốc hội để giúp Quốc hội thực hiện
tốt hơn nhiệm vụ quyết định phân bổ ngân sách trung ương, giám sát việc thực
hiện ngân sách, giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp. Đồng thời, cần
nghiên cứu xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp nhằm bảo đảm tính tối cao của Hiến
pháp.
Các giải pháp và điều kiện cho việc tiếp tục đổi mới Quốc hội
Thứ nhất,
cần nhận thức đầy đủ về
vị trí, vai trò của Quốc hội. Trước hết, phải quan niệm nguyên tắc thống nhất
quyền lực và nguyên tắc tập quyền. Quyền lực nhà nước, tự bản thân nó là một
thể thống nhất, không thể chia cắt và thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện
quyền lực của mình thông qua hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại
diện, qua đó nhân dân ủy quyền cho các cơ quan nhà nước thay mặt nhân dân thực
thi quyền lực trong ba lĩnh vực quan trọng: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất; với những nhiệm vụ và quyền hạn được Hiến pháp và luật quy định. Với
ý nghĩa đó, về nhận thức lý luận cũng như thực tiễn tổ chức và hoạt động của
Quốc hội, cần phải tập trung vào mục tiêu xây dựng một Quốc hội thực thi đầy
đủ, chất lượng cao chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình mà Hiến pháp và
luật quy định.
Thứ hai, cải tiến các kỳ họp
Quốc hội; cải tiến hình thức lấy ý kiến nhân dân đối với các dự án luật và các
hình thức tiếp xúc giữa đại biểu Quốc hội với cử tri; có các hình thức và cơ
chế thích hợp để “nhân dân dự thính hoặc theo dõi trực tiếp các kỳ họp của cơ
quan dân cử”; đổi mới và tăng cường các hình thức thông tin, tuyên truyền về
Quốc hội để tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa đại biểu Quốc hội và cử tri.
Thứ ba, về chức năng lập pháp
và quyết định các vấn đề quan trọng của Quốc hội, yêu cầu đặt ra là phải tập
trung quyền lập pháp vào Quốc hội theo hướng giảm dần và tiến tới không ban
hành hình thức pháp lệnh như nghị quyết của Đảng đã đề ra; luật hóa tối đa các
quyết định của Quốc hội.
Thứ tư, về chức năng giám sát
của Quốc hội, cần khắc phục tình trạng giám sát theo bề rộng mà hạn chế bề sâu.
Hướng đổi mới là cần tập trung vào việc giám sát ngân sách và thực thi công vụ
của các chức danh nhà nước; đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức
trong việc sử dụng ngân sách nhà nước và nhất là giám sát để làm rõ trách nhiệm
chính trị của những người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
Xác
định rõ phạm vi, nội dung,
cơ chế giám sát của Quốc hội, các uỷ ban của Quốc hội với các hoạt động khác;
bản chất của hoạt động giám sát là sự xem xét và đánh giá của cơ quan quyền lực
nhà nước đối với việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; phân biệt giữa giám sát
với các hoạt động tìm hiểu thực tế, thu thập thông tin.
Đổi mới hình thức giám
sát bằng cách nghe báo cáo hàng năm về hoạt động của các cơ quan nhà nước theo
hướng xác định rõ vấn đề cần báo cáo với Quốc hội; những vấn đề được đưa vào
chương trình kỳ họp và phải dành thời gian thích đáng để các đại biểu thảo
luận. Tổ chức giám sát theo chuyên đề và bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người
do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn để nâng cao hiệu lực của việc giám sát.
Thứ
năm, kiện toàn cơ cấu tổ chức của Quốc hội theo hướng đề cao
vai trò của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội - cơ quan thường trực của Quốc hội, có
vai trò quan trọng trong việc xem xét chuẩn bị cho các kỳ họp của Quốc hội và
điều hòa phối hợp hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban.
Cần
thành lập thêm một số Uỷ ban để giúp Quốc hội thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết
định phân bổ ngân sách, giám sát hoạt động tư pháp.
Thứ sáu, nâng cao chất lượng đại
biểu Quốc hội; hoàn thiện cơ chế giới thiệu, lựa chọn và tiến hành bầu cử đại
biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách ở các cơ
quan của Quốc hội và ở các đoàn đại biểu Quốc hội phù hợp với đặc điểm và yêu
cầu tổ chức, hoạt động của Quốc hội nước ta; tăng cường mối quan hệ giữa đại
biểu với cử tri thông qua cơ chế ràng buộc trách nhiệm.
Tổ chức thực hiện tốt
việc kê khai tài sản của các ứng cử viên đại biểu Quốc hội. Các ứng cử viên
phải có chương trình hành động cụ thể, có tính khả thi để trình bày và đối
thoại với cử tri về những dự kiến của mình. Phấn đấu để đa số thành viên của
Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban hoạt động chuyên trách.
Phát huy tính chủ động,
tự lập, trách nhiệm cá nhân của đại biểu Quốc hội và phải chịu trách nhiệm trực
tiếp trước cử tri đã tín nhiệm bầu mình. Đại biểu Quốc hội phải có chế độ làm
việc hợp lý để kịp thời nắm bắt ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Cần chú trọng việc trao
đổi, tọa đàm về các kỹ năng hoạt động cho đại biểu Quốc hội, nhất là các kỹ
năng giám sát, chất vấn, kỹ năng khai thác, sử dụng và phân tích thông tin...
Thứ bảy,
về các cơ quan tham mưu,
giúp việc cho Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các uỷ
ban của Quốc hội; trước hết, cần kiện toàn Văn phòng Quốc hội, các ban
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đủ mạnh, có tính ổn định lâu dài; tăng cường năng
lực thông tin, nghiên cứu của Văn phòng Quốc hội để có thể tham mưu, giúp Quốc
hội tổ chức thực hiện có kết quả các nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Củng cố,
kiện toàn Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội ở các địa phương về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác
tham mưu, giúp việc các hoạt động của đại biểu và Đoàn đại biểu Quốc hội. Bên
cạnh đó, cần đẩy mạnh việc phát triển các dịch vụ thông tin, nghiên cứu; áp
dụng mạnh mẽ công nghệ tin học vào hoạt động của Quốc hội.
Thứ tám, tiếp tục đổi mới cách thức làm việc của Quốc hội, tiếp tục phát huy dân
chủ trong hoạt động của Quốc hội để bảo đảm Quốc hội có thể ban hành được nhiều
quyết định có chất lượng tốt. Cần đổi mới quy trình chuẩn bị và thông qua các
dự án luật tại kỳ họp Quốc hội, theo đó, coi trọng nội dung xây dựng chính sách
trước khi đi vào soạn thảo văn bản pháp luật.
Hình thức làm việc tập
thể của Quốc hội chủ yếu là để tranh luận và quyết định vấn đề tại hội trường.
Việc chất vấn của các đại biểu Quốc hội nên được tiến hành thường xuyên đối với
các thành viên của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn tại các
kỳ họp; tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội để tăng cường trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trước Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội và trước Quốc hội.
Thứ chín, cần tăng cường hoạt động
của Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội trong việc chuẩn bị các vấn đề
trình ra kỳ họp. Quá trình thảo luận và xem xét tại Uỷ ban phải giữ vai trò
quan trọng, có ý nghĩa quyết định trước khi vấn đề được trình ra kỳ họp để thảo
luận chung và biểu quyết. Trọng tâm hoạt động của Quốc hội phải được chuyển
sang cơ chế hoạt động của Uỷ ban là chủ yếu và quyết định tại phiên họp toàn
thể của Quốc hội.
Thứ
mười,
bảo đảm kinh phí hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của
Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Nghiên cứu xây dựng
và ban hành chế độ, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu Quốc
hội thực thi nhiệm vụ đại biểu của mình.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.131
|