Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


 "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy."

 

Trích   Tuyên ngôn độc lập

   

Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  

 

Tiếp tục đổi mới Quốc hội

1. Bối cảnh tình hình mới

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới với những thuận lợi cơ bản mà công cuộc đổi mới gần 20 năm qua đã đạt được: Nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển tương đối toàn diện; hoạt động văn hóa - xã hội tiến bộ trên nhiều mặt, việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện, chỉ số phát triển con người được nâng lên; chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được tăng cường, hoạt động đối ngoại được mở rộng; công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền đạt nhiều tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Đất nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới trong xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo. Toàn cầu hóa là xu thế khách quan đã và đang diễn ra nhanh chóng trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây không ít khó khăn, thách thức cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Nền kinh tế nước ta vẫn đang trong tình trạng kém phát triển; khoa học và công nghệ còn ở trình độ thấp; các thế lực thù địch vẫn đang âm mưu chống phá ta; an ninh, trật tự và an toàn xã hội ở một số vùng và địa phương vẫn chưa bảo đảm vững chắc.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đã đạt nhiều thành tựu quan trọng; thế và lực của nước ta lớn mạnh lên rất nhiều so với trước. Nhà nước ta đặt ra mục tiêu sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

2. Yêu cầu, mục đích đổi mới Quốc hội

Yêu cầu chung đặt ra trong việc đổi mới Quốc hội trong thời gian tới là phấn đấu để Quốc hội thực thi đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà Hiến pháp và pháp luật đã quy định, xứng đáng với vị trí và vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo hướng này, Quốc hội vẫn được xác định là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Quốc hội được xác định là thiết chế quyền lực nhà nước trung tâm; quyết định của Quốc hội có ảnh hưởng và chi phối đối với các lĩnh vực khác nhau của hoạt động Nhà nước và đời sống xã hội. Điều này đòi hỏi việc xem xét và quyết định của Quốc hội phải thực chất, không mang tính hình thức.

Các yêu cầu cụ thể của việc đổi mới Quốc hội đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: thứ nhất, khắc phục những khuyết điểm, tồn tại hiện nay trong tổ chức, hoạt động của Quốc hội; thứ hai, phát huy vai trò của Quốc hội trong việc tạo lập môi trường thể chế và điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thứ ba, góp phần mở rộng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; thứ tư, theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta; thứ năm, phù hợp với xu hướng vận động và phát triển của thời đại; thứ sáu, thúc đẩy quá trình chủ động hội nhập quốc tế.

Đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội cần được tiến hành khẩn trương. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng đây là một quá trình còn không ít khó khăn, thách thức, vừa phản ánh nhu cầu cấp thiết phải khắc phục những thiếu sót, tồn tại, vừa phải phù hợp và đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoạt động có hiệu quả và hiệu lực trong một thế giới năng động vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt. Từ đó, cần tiến hành đổi mới Quốc hội theo hệ thống các quan điểm cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đồng thời, phải tính đến những yêu cầu có tính đặc thù trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội để đổi mới Quốc hội một cách có hiệu quả.

Hệ quan điểm đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội:

Đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội phải được tiến hành theo các nguyên tắc chung sau đây:

(i)    Đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội để Quốc hội thực sự là: của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;

(ii)   Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ phù hợp với mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội;

(iii)   Tổ chức và hoạt động của Quốc hội phải tuân theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp;

(iv)   Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa; và

(v)    Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.

Đồng thời, xuất phát từ tính chất hoạt động của Quốc hội và đối chiếu với yêu cầu, mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cần quán triệt các nguyên tắc cụ thể phù hợp với tổ chức và hoạt động của Quốc hội như sau:

(i) Đổi mới Quốc hội phải trên cơ sở thực tiễn Việt Nam, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị phổ quát của nhân loại.

Việc quán triệt quan điểm này là nhằm tìm kiếm những giá trị về tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước ta đã được thực tiễn kiểm nghiệm. Đồng thời, quan điểm này đòi hỏi phải tính đến yêu cầu, xu hướng hội nhập hiện nay; những kinh nghiệm và bài học tổ chức nhà nước mà các nước khác đã trải qua để đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội phù hợp với điều kiện thực tế ở nước ta.

(ii) Nguyên tắc về tính đồng bộ và thống nhất trong đổi mới Quốc hội

Đổi mới Quốc hội phải được tiến hành đồng bộ trên cả bốn yếu tố có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau: (a) xác định đúng đắn và nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của Quốc hội; (b) phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội; (c) có cơ cấu tổ chức hợp lý và (d) đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Điều này xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và phù hợp lẫn nhau giữa mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước. Phương thức hoạt động chỉ hợp lý và phát huy hiệu quả khi có cơ cấu tổ chức hợp lý, khoa học và đồng thời, phương thức hoạt động có thể góp phần làm cho bộ máy hoạt động có hiệu quả hơn.

Tính hệ thống và đồng bộ trong việc đổi mới Quốc hội được bắt đầu từ việc đánh giá tình hình, thực trạng và xác định phương hướng, mục đích cần đạt được và phải “dựa trên cơ sở pháp luật và tiến hành đồng bộ trên các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức hành chính”1.

(iii) Đề cao trách nhiệm chính trị pháp lý và đạo đức của các cơ quan, đại biểu Quốc hội trong việc bảo đảm hiệu quả và hiệu lực hoạt động của Quốc hội

Quốc hội là cơ quan có vị trí rất quan trọng, thực hiện ba chức năng: lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng và giám sát tối cao. Quyết định của Quốc hội có ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến toàn xã hội và mọi công dân. Quyền lực càng lớn thì chế độ trách nhiệm càng cao, đòi hỏi các cơ quan của Quốc hội tăng cường trách nhiệm, đại biểu Quốc hội phải đề cao trách nhiệm cá nhân về pháp lý và đạo đức của mình trong việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định.

(iv) Nguyên tắc về tăng dần tính chuyên nghiệp và hiện đại của mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội

Nguyên tắc này đòi hỏi Quốc hội phải hoạt động có hiệu quả hơn, thể hiện ở khả năng ban hành đầy đủ, kịp thời các đạo luật có chất lượng tốt, áp dụng ngay được; luật có tính ổn định cao, ít bị sửa đổi, bổ sung; quyết định của Quốc hội về các vấn đề quan trọng của đất nước cần chính xác, kịp thời.

(v) Nguyên tắc minh bạch và có thể dự đoán được trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội

Nguyên tắc minh bạch trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội đòi hỏi chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ thể phải được xác định rõ ràng, cụ thể, và phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình trước nhân dân; bảo đảm cung cấp kịp thời cho người dân thông tin về các quyết định của Quốc hội.

3. Phương hướng và giải pháp đổi mới Quốc hội

Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác định nhiệm vụ đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, trong đó “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” 1 là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều đã chính thức khẳng định bản chất Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Từ đó, cần phải tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức một cách đầy đủ về Quốc hội nhằm phát huy vị trí, vai trò của Quốc hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, của đại biểu Quốc hội, hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội theo hướng luật của Quốc hội phải là văn bản chủ đạo trong việc điều chỉnh các quan hệ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan nhà nước ở Trung ương. Phát huy có hiệu quả, đồng bộ các hình thức giám sát của Quốc hội: giám sát của tập thể Quốc hội, giám sát của Hội đồng Dân tộc, các ủy ban, của ủy ban Thường vụ Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội; nâng cao vai trò của các đại biểu Quốc hội trong việc giám sát thi hành pháp luật ở địa phương; chú trọng hoạt động giám sát của Quốc hội về hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giám sát tối cao là một chức năng cơ bản của Quốc hội bắt nguồn từ địa vị pháp lý của Quốc hội. Cần phân biệt bản chất giám sát của Quốc hội là giám sát mang tính quyền lực nhà nước khác với các hình thức giám sát khác.

Tiếp tục đổi mới hoạt động của các cơ quan của Quốc hội (Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban) và các đại biểu Quốc hội; chuyển trọng tâm từ hoạt động theo đoàn như hiện nay sang hoạt động theo cơ chế ủy ban là chủ yếu. Vai trò của cá nhân đại biểu Quốc hội phải được tăng cường.

Cần thành lập thêm một số Uỷ ban của Quốc hội để giúp Quốc hội thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định phân bổ ngân sách trung ương, giám sát việc thực hiện ngân sách, giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp. Đồng thời, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp nhằm bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp.

Các giải pháp và điều kiện cho việc tiếp tục đổi mới Quốc hội

Thứ nhất, cần nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của Quốc hội. Trước hết, phải quan niệm nguyên tắc thống nhất quyền lực và nguyên tắc tập quyền. Quyền lực nhà nước, tự bản thân nó là một thể thống nhất, không thể chia cắt và thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, qua đó nhân dân ủy quyền cho các cơ quan nhà nước thay mặt nhân dân thực thi quyền lực trong ba lĩnh vực quan trọng: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; với những nhiệm vụ và quyền hạn được Hiến pháp và luật quy định. Với ý nghĩa đó, về nhận thức lý luận cũng như thực tiễn tổ chức và hoạt động của Quốc hội, cần phải tập trung vào mục tiêu xây dựng một Quốc hội thực thi đầy đủ, chất lượng cao chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình mà Hiến pháp và luật quy định.

Thứ hai, cải tiến các kỳ họp Quốc hội; cải tiến hình thức lấy ý kiến nhân dân đối với các dự án luật và các hình thức tiếp xúc giữa đại biểu Quốc hội với cử tri; có các hình thức và cơ chế thích hợp để “nhân dân dự thính hoặc theo dõi trực tiếp các kỳ họp của cơ quan dân cử”; đổi mới và tăng cường các hình thức thông tin, tuyên truyền về Quốc hội để tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa đại biểu Quốc hội và cử tri.

Thứ ba, về chức năng lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của Quốc hội, yêu cầu đặt ra là phải tập trung quyền lập pháp vào Quốc hội theo hướng giảm dần và tiến tới không ban hành hình thức pháp lệnh như nghị quyết của Đảng đã đề ra; luật hóa tối đa các quyết định của Quốc hội.

Thứ tư, về chức năng giám sát của Quốc hội, cần khắc phục tình trạng giám sát theo bề rộng mà hạn chế bề sâu. Hướng đổi mới là cần tập trung vào việc giám sát ngân sách và thực thi công vụ của các chức danh nhà nước; đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức trong việc sử dụng ngân sách nhà nước và nhất là giám sát để làm rõ trách nhiệm chính trị của những người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Xác định rõ phạm vi, nội dung, cơ chế giám sát của Quốc hội, các uỷ ban của Quốc hội với các hoạt động khác; bản chất của hoạt động giám sát là sự xem xét và đánh giá của cơ quan quyền lực nhà nước đối với việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; phân biệt giữa giám sát với các hoạt động tìm hiểu thực tế, thu thập thông tin.

Đổi mới hình thức giám sát bằng cách nghe báo cáo hàng năm về hoạt động của các cơ quan nhà nước theo hướng xác định rõ vấn đề cần báo cáo với Quốc hội; những vấn đề được đưa vào chương trình kỳ họp và phải dành thời gian thích đáng để các đại biểu thảo luận. Tổ chức giám sát theo chuyên đề và bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn để nâng cao hiệu lực của việc giám sát.

Thứ năm, kiện toàn cơ cấu tổ chức của Quốc hội theo hướng đề cao vai trò của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội - cơ quan thường trực của Quốc hội, có vai trò quan trọng trong việc xem xét chuẩn bị cho các kỳ họp của Quốc hội và điều hòa phối hợp hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban.

Cần thành lập thêm một số Uỷ ban để giúp Quốc hội thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định phân bổ ngân sách, giám sát hoạt động tư pháp.

Thứ sáu, nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; hoàn thiện cơ chế giới thiệu, lựa chọn và tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và ở các đoàn đại biểu Quốc hội phù hợp với đặc điểm và yêu cầu tổ chức, hoạt động của Quốc hội nước ta; tăng cường mối quan hệ giữa đại biểu với cử tri thông qua cơ chế ràng buộc trách nhiệm.

Tổ chức thực hiện tốt việc kê khai tài sản của các ứng cử viên đại biểu Quốc hội. Các ứng cử viên phải có chương trình hành động cụ thể, có tính khả thi để trình bày và đối thoại với cử tri về những dự kiến của mình. Phấn đấu để đa số thành viên của Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban hoạt động chuyên trách.

Phát huy tính chủ động, tự lập, trách nhiệm cá nhân của đại biểu Quốc hội và phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước cử tri đã tín nhiệm bầu mình. Đại biểu Quốc hội phải có chế độ làm việc hợp lý để kịp thời nắm bắt ý chí và nguyện vọng của nhân dân.

Cần chú trọng việc trao đổi, tọa đàm về các kỹ năng hoạt động cho đại biểu Quốc hội, nhất là các kỹ năng giám sát, chất vấn, kỹ năng khai thác, sử dụng và phân tích thông tin...

Thứ bảy, về các cơ quan tham mưu, giúp việc cho Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội; trước hết, cần kiện toàn Văn phòng Quốc hội, các ban của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đủ mạnh, có tính ổn định lâu dài; tăng cường năng lực thông tin, nghiên cứu của Văn phòng Quốc hội để có thể tham mưu, giúp Quốc hội tổ chức thực hiện có kết quả các nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Củng cố, kiện toàn Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội ở các địa phương về mọi mặt  để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác tham mưu, giúp việc các hoạt động của đại biểu và Đoàn đại biểu Quốc hội. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh việc phát triển các dịch vụ thông tin, nghiên cứu; áp dụng mạnh mẽ công nghệ tin học vào hoạt động của Quốc hội.

Thứ tám, tiếp tục đổi mới cách thức làm việc của Quốc hội, tiếp tục phát huy dân chủ trong hoạt động của Quốc hội để bảo đảm Quốc hội có thể ban hành được nhiều quyết định có chất lượng tốt. Cần đổi mới quy trình chuẩn bị và thông qua các dự án luật tại kỳ họp Quốc hội, theo đó, coi trọng nội dung xây dựng chính sách trước khi đi vào soạn thảo văn bản pháp luật.

Hình thức làm việc tập thể của Quốc hội chủ yếu là để tranh luận và quyết định vấn đề tại hội trường. Việc chất vấn của các đại biểu Quốc hội nên được tiến hành thường xuyên đối với các thành viên của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn tại các kỳ họp; tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để tăng cường trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và trước Quốc hội.

Thứ chín, cần tăng cường hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội trong việc chuẩn bị các vấn đề trình ra kỳ họp. Quá trình thảo luận và xem xét tại Uỷ ban phải giữ vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định trước khi vấn đề được trình ra kỳ họp để thảo luận chung và biểu quyết. Trọng tâm hoạt động của Quốc hội phải được chuyển sang cơ chế hoạt động của Uỷ ban là chủ yếu và quyết định tại phiên họp toàn thể của Quốc hội.

Thứ mười, bảo đảm kinh phí hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Nghiên cứu xây dựng và ban hành chế độ, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu Quốc hội thực thi nhiệm vụ đại biểu của mình.


1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Nội, 1996, tr.131

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện