|
Thời
kỳ từ năm 1946 đến năm 1960
Quốc hội khóa
I (1946-1960) với 12 kỳ
họp đã có những đóng góp to lớn vào việc xây dựng
nhà nước dân chủ cộng hòa từ những năm tháng đầu
tiên sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Quốc
hội đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện
thành công sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, đưa
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi.
Từ năm 1954 đến năm 1960, Quốc hội đã phát huy vai
trò của mình trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất
nước nhà theo quy định của Hiệp định Giơnevơ.
Những năm đầu sau khi hòa bình lập lại, Quốc hội
cũng đã thông qua các kế hoạch khôi phục, cải tạo
và phát triển kinh tế, văn hóa, từng bước xây dựng
chế độ dân chủ nhân dân, đưa miền Bắc tiến dần
từng bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội,
làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất
đất nước, tạo thế và lực cho cách mạng miền Nam
tiến lên, đánh bại chiến tranh đơn phương của Mỹ
và tay sai.
Trong nhiệm kỳ 14 năm
hoạt động, Quốc hội khoá I đã xem xét và thông qua
bản Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959, 11 đạo luật
và 50 nghị quyết. Luật cải cách ruộng đất được
thông qua tại kỳ họp thứ 3 (năm 1953) là văn bản
có ý nghĩa quan trọng nhằm xóa bỏ chế độ phong
kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ,
thực hiện chính sách “người cày có ruộng” và chế
độ sở hữu ruộng đất của nông dân. Đến kỳ họp thứ 6
vào năm 1957, Quốc hội đã thông qua Luật quy định
quyền tự do hội họp, Luật quy định quyền lập hội,
Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả
xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của nhân
dân và Luật về chế độ báo chí. Đây là những đạo
luật quy định những quyền tự do rất cơ bản của
người dân.
Trong thời kỳ này,
Quốc hội đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc
thành lập Chính phủ hợp hiến, hợp pháp do Chủ tịch
Hồ Chí Minh đứng đầu và “trao quyền bính cho chính
quyền ấy”, bảo đảm cho Chính phủ đủ uy tín, hiệu
lực để tổ chức nhân dân kháng chiến, kiến quốc,
thực hiện mọi chức năng đối nội và đối ngoại.
Ngay từ những ngày đầu
khi vừa giành được chính quyền, hoạt động đối
ngoại của Quốc hội đã góp phần quan trọng vào hoạt
động đối ngoại chung của Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa. Quốc hội đã nhất trí để Chính phủ ký với
Pháp Hiệp định sơ bộ vào ngày
6-3-1946. Sau đó, Quốc hội đã cử một đoàn đại biểu
gồm 10 người do Phó Trưởng ban Thường trực Quốc
hội Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm Pháp để làm
cho nhân dân Pháp hiểu rõ hơn cuộc đấu tranh vì
độc lập dân tộc của Việt Nam.
Trong thời kỳ này Ban
Thường vụ Quốc hội đã có mối quan hệ và cử các
đoàn đi thăm một số nước xã hội chủ nghĩa anh em;
cùng Chính phủ thống nhất cử Đoàn đại biểu của
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do đồng chí
Phạm Văn Đồng dẫn đầu tham dự Hội nghị Giơnevơ, có
ý kiến chỉ đạo thích hợp và cùng Chính phủ quyết
định việc ký Hiệp định đình chiến, lập lại hòa
bình ở Đông Dương. Sau ngày hòa bình lập lại, hoạt
động đối ngoại của Quốc hội đã tập trung vào việc
đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, phát
triển và củng cố tình hữu nghị, đoàn kết giữa Việt
Nam với các nước xã hội chủ nghĩa.
Đánh giá về công lao
to lớn của Quốc hội khóa I, tại kỳ họp thứ 12, kỳ
họp cuối cùng của Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân vì
nước, đã làm trọn một cách vẻ vang nhiệm vụ của
những người đại biểu của nhân dân”.
|