|
Thời kỳ từ
năm 1960 đến năm 1980
Trong thời kỳ này,
Quốc hội hoạt động theo Hiến pháp 1959, được Quốc
hội thông qua ngày 31-12-1959 và đã trải qua 5
khóa hoạt động: Quốc hội khóa II (1960-1964); khóa
III (1964-1971); khóa IV (1971-1975) và khóa V
(1975-1976) diễn ra trong điều kiện đất nước bị
chia cắt. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng
(30-4-1975), kể từ khóa VI (1976-1981), Quốc hội
trở thành Quốc hội chung của cả nước Việt Nam
thống nhất.
Hiến pháp 1959 quy định rõ ràng và đầy đủ hơn
trước về vị trí, vai trò của Quốc hội. Theo đó,
Quốc hội có 17 nhiệm vụ, quyền hạn như: làm Hiến
pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm pháp luật; giám sát
việc thi hành Hiến pháp, v.v..
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực
của Quốc hội do Quốc hội bầu ra, gồm Chủ tịch, các
Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các ủy viên. Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội thực thi 18 loại quyền hạn,
nhiệm vụ như tuyên bố và chủ trì việc tuyển cử đại
biểu Quốc hội; triệu tập Quốc hội; giám sát công
tác của Hội đồng Chính phủ, của Tòa án Nhân dân
tối cao và của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao...
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có nhiều quyền hạn mới
mà trước đây Ban Thường vụ theo Hiến pháp 1946
không có, như: quyền giải thích pháp luật, quyền
ra pháp lệnh, quyền quyết định việc trưng cầu dân
ý...
Cơ cấu tổ chức của Quốc hội được quy định trong
Hiến pháp 1959 bao gồm Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,
Uỷ ban Dự án pháp luật, Uỷ ban Kế hoạch và ngân
sách và những Uỷ ban khác mà Quốc hội xét thấy cần
thiết để giúp Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội. Theo quy định của Hiến pháp năm 1959, trong
thời kỳ này, nhiệm kỳ của Quốc hội là 4 năm.
Quốc hội khóa II (1960 - 1964) được bầu ngày
8-5-1960 có 362 đại biểu trúng cử cùng với 91 đại
biểu Quốc hội miền Nam được lưu nhiệm theo Nghị
quyết của kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I. Nhiệm kỳ
Quốc hội khóa II là 4 năm và Quốc hội đã có 8 kỳ
họp.
Quốc hội khóa II đã bầu Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 6 Phó Chủ
tịch, Tổng thư ký, 14 ủy viên chính thức và 5 ủy
viên dự khuyết. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa II,
ngoài hai Uỷ ban mà Quốc hội đã thành lập theo quy
định của Hiến pháp 1959, Quốc hội đã thành lập
thêm Uỷ ban Thống nhất (1963).
Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã phát huy vai trò
quan trọng của mình trong việc động viên sức người,
sức của để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và
đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Quốc hội khóa II đã ban hành 6 đạo luật quan trọng
để củng cố chính quyền dân chủ nhân dân ở miền Bắc
như Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng
Chính phủ, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp... Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội đã ban hành 9 pháp lệnh như
Pháp lệnh về việc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp,
Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao, Pháp lệnh quy định chế độ phục
vụ của sĩ quan công an nhân dân vũ trang, Pháp
lệnh quy định việc quản lý của Nhà nước đối với
công tác phòng cháy và chữa cháy…
Quốc hội đã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế
quốc dân 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), thông qua
Cương lĩnh hành động của toàn dân nhằm thực hiện
nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu xây
dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc; phê chuẩn việc thành lập các tổ
chức và cơ quan nhà nước, bổ nhiệm các cán bộ cấp
cao của Nhà nước, phê chuẩn việc khen thưởng và đã
tích cực giải quyết các đơn thư, khiếu tố của nhân
dân, ân xá những phạm nhân đã cải tạo tốt.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Quốc hội khóa
II này là Quốc hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và
đấu tranh thực hiện
nhất nước nhà”
1
Quốc hội khóa III (1964-1971) có 455 đại biểu,
trong đó có 366 đại biểu được bầu ngày 26-4-1964
và 89 đại biểu Quốc hội khóa I thuộc các tỉnh miền
Nam được lưu nhiệm. Quốc hội đã bầu Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch,
6 Phó Chủ tịch, Tổng thư ký, 15 ủy viên chính thức,
3 ủy viên dự khuyết và Ban Thư ký gồm 4 vị. Quốc
hội thành lập 5 ủy ban: Uỷ ban Dự án pháp luật, Uỷ
ban Kế hoạch và Ngân sách, Uỷ ban Dân tộc, Uỷ ban
Thống nhất và Uỷ ban Văn hóa - xã hội.
Quốc
hội khoá III đã góp phần quan trọng trong việc
động viên nhân dân cả nước đánh thắng cuộc chiến
tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ ở miền
Bắc, tích cực chi viện cho cuộc kháng chiến của
quân và dân ta nhằm đánh bại chiến lược “chiến
tranh cục bộ” của Mỹ trên chiến trường miền Nam và
tích cực làm nghĩa vụ quốc tế đối với cuộc chiến
đấu của nhân dân Campuchia và nhân dân Lào anh em.
Đặc biệt, năm 1965, khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc
chiến tranh phá hoại ra miền Bắc bằng không quân
và hải quân, tại phiên họp ngày 10-4-1965, Quốc
hội đã thông qua Nghị quyết giao cho Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội một số quyền hạn trong tình hình mới.
Theo đó, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quyền quyết
định thông qua kế hoạch nhà nước, ngân sách, nhân
sự cấp cao, tổ chức hành chính…Quốc hội đã ra
nhiều nghị quyết, tuyên bố về tội ác và âm mưu của
đế quốc Mỹ, đòi chấm dứt chiến tranh.
Do hoàn cảnh
chiến tranh, nhiệm kỳ Quốc hội khóa III đã kéo dài
7 năm và chỉ có 7 kỳ họp; Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội đã họp 95 lần, thông qua rất nhiều nghị quyết
về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, đối ngoại, về
tổ chức hành chính, về nhân sự phục vụ sự nghiệp
xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà
và các kế hoạch, nhiệm vụ chuyển hướng kinh tế
trong thời chiến; điều chỉnh bộ máy tổ chức của
Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao và Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao.
Đồng
thời, mối quan hệ giữa Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội với Chính phủ không ngừng được tăng cường,
là điều kiện quan trọng bảo đảm động viên kịp thời
sức người, sức của cho cuộc kháng chiến của dân
tộc ta. Quốc hội và Chính phủ đã động viên nhân
dân phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
vượt qua mọi hy sinh gian khổ, tích cực xây dựng
miền Bắc, hết lòng chi viện kịp thời và ngày càng
lớn cho miền Nam, đánh bại các kiểu chiến tranh
của đế quốc Mỹ và chư hầu.
Vai trò của Quốc hội còn được thể hiện qua việc mở
rộng quan hệ đối ngoại của Quốc hội nước ta với
Quốc hội các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bè bạn
trên thế giới nhằm tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình
của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới,
kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh trên mặt
trận ngoại giao, tạo thành sức mạnh tổng hợp để
tiến hành cuộc kháng chiến chống giặc Mỹ xâm lược.
Quốc hội khóa IV (1971-1975) có 420 đại biểu được
bầu ngày 11-4-1971 với nhiệm kỳ bốn năm và đã có 5
kỳ họp. Cơ cấu tổ chức của Quốc hội có Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội do đồng chí Trường Chinh làm
Chủ tịch, 5 Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, 17 Uỷ viên
chính thức, 3 Uỷ viên dự khuyết và Ban Thư ký gồm
6 thành viên. Quốc hội thành lập 6 ủy ban: Uỷ ban
Dự án pháp luật, Uỷ ban Kế hoạch và ngân sách, Uỷ
ban Thống nhất, Uỷ ban Dân tộc, Uỷ ban Văn hóa -
xã hội và Uỷ ban Đối ngoại.
Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng
về phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu của các kế
hoạch khôi phục và phát triển kinh tế; phê chuẩn
các dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước hàng
năm, góp phần quan trọng vào việc củng cố và xây
dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sức mạnh
để đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ
hai của Mỹ, tiêu biểu là trận “Điện Biên Phủ trên
không” vào tháng 12-1972 buộc Mỹ phải ngồi vào bàn
đàm phán và ký kết Hiệp định Pari về Việt Nam.
Quốc hội hoan nghênh và thông qua Nghị quyết về
việc ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập
lại hòa bình ở Việt Nam (1973). Hoạt động của Quốc
hội đã góp phần quan trọng trong cuộc tổng tiến
công và nổi dậy của quân và dân ta nhằm đánh đổ
chế độ thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam,
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất
Tổ quốc.
Quốc hội khóa V (1975-1976) có 424 đại biểu, được
bầu ngày 6-4-1975, hoạt động chưa tới 2 năm
(1975-1976) và có 2 kỳ họp diễn ra trong tình hình
miền Nam vừa hoàn toàn giải phóng (30-4-1975). Cơ cấu tổ chức
của Quốc hội có Uỷ ban Thường vụ Quốc hội do đồng
chí Trường Chinh làm Chủ tịch,
6 Phó Chủ tịch, 11 Uỷ viên chính thức và 3 Uỷ viên dự
khuyết. Quốc hội có 6 ủy ban: Uỷ ban Dự án pháp
luật, Uỷ ban Kế hoạch và ngân sách, Uỷ ban Dân tộc,
Uỷ ban Văn hóa - xã hội, Uỷ ban Thống nhất và Uỷ
ban Đối ngoại.
Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã góp phần quan
trọng trong việc thống nhất nước nhà về mặt nhà
nước. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã long trọng
tuyên bố: “Hơn một trăm năm nay, đây là lần đầu
tiên trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta không còn
bóng một tên xâm lược, dân tộc ta hoàn toàn làm
chủ vận mệnh của mình. Từ đây nhân dân ta đời đời
sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc. Đó là
thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và có tính thời đại
của dân tộc Việt Nam ta”…
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã có 10 phiên họp,
trong đó có phiên họp đặc biệt để thảo luận và
thông qua đề án thực hiện thống nhất nước nhà về
mặt nhà nước và cử đoàn đại biểu miền Bắc tham dự
Hội nghị Hiệp thương với đoàn đại biểu miền Nam.
Tại Hội nghị, 22 đại biểu của đoàn miền Bắc và 14
đại biểu của đoàn miền Nam đã khẳng định, “cần
hoàn thành thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là sự thống nhất
trọn vẹn vững chắc nhất”.
Tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội (tháng 12-1975),
Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh đã
vui mừng báo cáo kết quả của Hội nghị Hiệp thương
chính trị thống nhất Tổ quốc. Quốc hội đã sôi nổi
thảo luận và nhất trí thông qua Nghị quyết phê
chuẩn kết quả của Hội nghị Hiệp thương, mở ra thời
kỳ phát triển mới của nước Việt Nam thống nhất.
Quốc hội khóa VI (1976-1981) được bầu ngày
25-4-1976 là Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất.
Hơn 23 triệu cử tri (98,8% tổng số cử tri) đã tham
gia cuộc tổng tuyển cử bầu và bầu ra 492 đại biểu
của nước Việt Nam độc lập, thống nhất và đi lên
chủ nghĩa xã hội.
Trong
nhiệm kỳ này, Quốc hội bầu Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 7 Phó
Chủ tịch, Tổng thư ký, 13 Uỷ viên chính thức, 2 Uỷ
viên dự khuyết. Quốc hội thành lập 6 uỷ ban: Uỷ
ban Kế hoạch và ngân sách; Uỷ ban Dự án pháp luật;
Uỷ ban Dân tộc; Uỷ ban Văn hóa và giáo dục, Uỷ ban
Y tế và xã hội; Uỷ ban Đối ngoại.
Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã quyết định đổi
tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
quy định quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng, quốc huy
mang dòng chữ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
và quốc ca là bài Tiến quân ca. Để thể hiện
tính liên tục của Nhà nước qua các giai đoạn đấu
tranh cách mạng của nhân dân ta từ Cách mạng Tháng
Tám năm 1945, Quốc hội đã quy định khóa Quốc hội
của nước Việt Nam thống nhất là Quốc hội khóa VI
và chính thức đặt tên cho thành phố Sài Gòn - Gia
Định là Thành phố Hồ Chí Minh; quy định Thủ đô của
nước Việt Nam thống nhất là Hà Nội. Đồng thời,
Quốc hội đã ra Nghị quyết về việc thành lập Uỷ ban
Dự thảo Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Trong nhiệm kỳ 5 năm (1976-1981), Quốc hội khóa VI
đã họp 7 kỳ và ban hành nhiều nghị quyết quan
trọng như Nghị quyết thông qua nhiệm vụ cơ bản của
kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976-1980); Nghị quyết
phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới thành phố Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh khác;
Nghị quyết về việc thành lập đặc khu Vũng Tàu -
Côn Đảo trực thuộc Trung ương.
Tại kỳ
họp thứ 7 (tháng 12-1980), Quốc hội đã thảo luận
và thông qua Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hiến
pháp năm 1980 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Trong nhiệm kỳ này, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã
ban hành 5 pháp lệnh: Pháp lệnh về việc xin ân
giảm án tử hình và xét duyệt án tử hình; Pháp lệnh
về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Pháp lệnh
sửa đổi và bổ sung một số điểm về thuế công thương
nghiệp và thuế sát sinh; Pháp lệnh sửa đổi và bổ
sung một số điều khoản của Pháp lệnh năm 1961 quy
định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp và
Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ.
|