Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


 "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy."

Trích   Tuyên ngôn độc lập

   

Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  

 

Thời kỳ từ năm 1960 đến năm 1980

Trong thời kỳ này, Quốc hội hoạt động theo Hiến pháp 1959, được Quốc hội thông qua ngày 31-12-1959 và đã trải qua 5 khóa hoạt động: Quốc hội khóa II (1960-1964); khóa III (1964-1971); khóa IV (1971-1975) và khóa V (1975-1976) diễn ra trong điều kiện đất nước bị chia cắt. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), kể từ khóa VI (1976-1981), Quốc hội trở thành Quốc hội chung của cả nước Việt Nam thống nhất.

Hiến pháp 1959 quy định rõ ràng và đầy đủ hơn trước về vị trí, vai trò của Quốc hội. Theo đó, Quốc hội có 17 nhiệm vụ, quyền hạn như: làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm pháp luật; giám sát việc thi hành Hiến pháp, v.v..

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội do Quốc hội bầu ra, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các ủy viên. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thực thi 18 loại quyền hạn, nhiệm vụ như tuyên bố và chủ trì việc tuyển cử đại biểu Quốc hội; triệu tập Quốc hội; giám sát công tác của Hội đồng Chính phủ, của Tòa án Nhân dân tối cao và của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao... Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có nhiều quyền hạn mới mà trước đây Ban Thường vụ theo Hiến pháp 1946 không có, như: quyền giải thích pháp luật, quyền ra pháp lệnh, quyền quyết định việc trưng cầu dân ý...

Cơ cấu tổ chức của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp 1959 bao gồm Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Uỷ ban Dự án pháp luật, Uỷ ban Kế hoạch và ngân sách và những Uỷ ban khác mà Quốc hội xét thấy cần thiết để giúp Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Theo quy định của Hiến pháp năm 1959, trong thời kỳ này, nhiệm kỳ của Quốc hội là 4 năm.

Quốc hội khóa II (1960 - 1964) được bầu ngày 8-5-1960 có 362 đại biểu trúng cử cùng với 91 đại biểu Quốc hội miền Nam được lưu nhiệm theo Nghị quyết của kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa II là 4 năm và Quốc hội đã có 8 kỳ họp.

 Quốc hội khóa II đã bầu Uỷ ban Thường vụ Quốc hội do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 6 Phó Chủ tịch, Tổng thư ký, 14 ủy viên chính thức và 5 ủy viên dự khuyết. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa II, ngoài hai Uỷ ban mà Quốc hội đã thành lập theo quy định của Hiến pháp 1959, Quốc hội đã thành lập thêm Uỷ ban Thống nhất (1963).

Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã phát huy vai trò quan trọng của mình trong việc động viên sức người, sức của để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Quốc hội khóa II đã ban hành 6 đạo luật quan trọng để củng cố chính quyền dân chủ nhân dân ở miền Bắc như Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp... Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 9 pháp lệnh như Pháp lệnh về việc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Pháp lệnh quy định chế độ phục vụ của sĩ quan công an nhân dân vũ trang, Pháp lệnh quy định việc quản lý của Nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy…

Quốc hội đã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), thông qua Cương lĩnh hành động của toàn dân nhằm thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; phê chuẩn việc thành lập các tổ chức và cơ quan nhà nước, bổ nhiệm các cán bộ cấp cao của Nhà nước, phê chuẩn việc khen thưởng và đã tích cực giải quyết các đơn thư, khiếu tố của nhân dân, ân xá những phạm nhân đã cải tạo tốt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Quốc hội khóa II này là Quốc hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện nhất nước nhà1

Quốc hội khóa III (1964-1971) có 455 đại biểu, trong đó có 366 đại biểu được bầu ngày 26-4-1964 và 89 đại biểu Quốc hội khóa I thuộc các tỉnh miền Nam được lưu nhiệm. Quốc hội đã bầu Uỷ ban Thường vụ Quốc hội do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 6 Phó Chủ tịch, Tổng thư ký, 15 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết và Ban Thư ký gồm 4 vị. Quốc hội thành lập 5 ủy ban: Uỷ ban Dự án pháp luật, Uỷ ban Kế hoạch và Ngân sách, Uỷ ban Dân tộc, Uỷ ban Thống nhất và Uỷ ban Văn hóa - xã hội.

Quốc hội khoá III đã góp phần quan trọng trong việc động viên nhân dân cả nước đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, tích cực chi viện cho cuộc kháng chiến của quân và dân ta nhằm đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ trên chiến trường miền Nam và tích cực làm nghĩa vụ quốc tế đối với cuộc chiến đấu của nhân dân Campuchia và nhân dân Lào anh em. Đặc biệt, năm 1965, khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc bằng không quân và hải quân, tại phiên họp ngày 10-4-1965, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết giao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội một số quyền hạn trong tình hình mới. Theo đó, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quyền quyết định thông qua kế hoạch nhà nước, ngân sách, nhân sự cấp cao, tổ chức hành chính…Quốc hội đã ra nhiều nghị quyết, tuyên bố về tội ác và âm mưu của đế quốc Mỹ, đòi chấm dứt chiến tranh.

Do hoàn cảnh chiến tranh, nhiệm kỳ Quốc hội khóa III đã kéo dài 7 năm và chỉ có 7 kỳ họp; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã họp 95 lần, thông qua rất nhiều nghị quyết về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, đối ngoại, về tổ chức hành chính, về nhân sự phục vụ sự nghiệp xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà và các kế hoạch, nhiệm vụ chuyển hướng kinh tế trong thời chiến; điều chỉnh bộ máy tổ chức của Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

 Đồng thời, mối quan hệ giữa Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội với Chính phủ không ngừng được tăng cường, là điều kiện quan trọng bảo đảm động viên kịp thời sức người, sức của cho cuộc kháng chiến của dân tộc ta. Quốc hội và Chính phủ đã động viên nhân dân phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vượt qua mọi hy sinh gian khổ, tích cực xây dựng miền Bắc, hết lòng chi viện kịp thời và ngày càng lớn cho miền Nam, đánh bại các kiểu chiến tranh của đế quốc Mỹ và chư hầu.

Vai trò của Quốc hội còn được thể hiện qua việc mở rộng quan hệ đối ngoại của Quốc hội nước ta với Quốc hội các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bè bạn trên thế giới nhằm tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, tạo thành sức mạnh tổng hợp để tiến hành cuộc kháng chiến chống giặc Mỹ xâm lược.

Quốc hội khóa IV (1971-1975) có 420 đại biểu được bầu ngày 11-4-1971 với nhiệm kỳ bốn năm và đã có 5 kỳ họp. Cơ cấu tổ chức của Quốc hội có Uỷ ban Thường vụ Quốc hội do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 5 Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, 17 Uỷ viên chính thức, 3 Uỷ  viên dự khuyết và Ban Thư ký gồm 6 thành viên. Quốc hội thành lập 6 ủy ban: Uỷ ban Dự án pháp luật, Uỷ ban Kế hoạch và ngân sách, Uỷ ban Thống nhất, Uỷ ban Dân tộc, Uỷ ban Văn hóa - xã hội và Uỷ ban Đối ngoại.

Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu của các kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế; phê chuẩn các dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm, góp phần quan trọng vào việc củng cố và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sức mạnh để đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ, tiêu biểu là trận “Điện Biên Phủ trên không” vào tháng 12-1972 buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Pari về Việt Nam. Quốc hội hoan nghênh và thông qua Nghị quyết về việc ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1973). Hoạt động của Quốc hội đã góp phần quan trọng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta nhằm đánh đổ chế độ thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất Tổ quốc.

Quốc hội khóa V (1975-1976) có 424 đại biểu, được bầu ngày 6-4-1975, hoạt động chưa tới 2 năm (1975-1976) và có 2 kỳ họp diễn ra trong tình hình miền Nam vừa hoàn toàn giải phóng (30-4-1975). Cơ cấu tổ chức của Quốc hội có Uỷ ban Thường vụ Quốc hội do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch,
6 Phó Chủ tịch, 11 Uỷ viên chính thức và 3 Uỷ viên dự khuyết. Quốc hội có 6 ủy ban: Uỷ ban Dự án pháp luật, Uỷ ban Kế hoạch và ngân sách, Uỷ ban Dân tộc, Uỷ ban Văn hóa - xã hội, Uỷ ban Thống nhất và Uỷ ban Đối ngoại.

Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã góp phần quan trọng trong việc thống nhất nước nhà về mặt nhà nước. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã long trọng tuyên bố: “Hơn một trăm năm nay, đây là lần đầu tiên trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta không còn bóng một tên xâm lược, dân tộc ta hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình. Từ đây nhân dân ta đời đời sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc. Đó là thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và có tính thời đại của dân tộc Việt Nam ta”…

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã có 10 phiên họp, trong đó có phiên họp đặc biệt để thảo luận và thông qua đề án thực hiện thống nhất nước nhà về mặt nhà nước và cử đoàn đại biểu miền Bắc tham dự Hội nghị Hiệp thương với đoàn đại biểu miền Nam. Tại Hội nghị, 22 đại biểu của đoàn miền Bắc và 14 đại biểu của đoàn miền Nam đã khẳng định, “cần hoàn thành thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là sự thống nhất trọn vẹn vững chắc nhất”.

Tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội (tháng 12-1975), Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh đã vui mừng báo cáo kết quả của Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc. Quốc hội đã sôi nổi thảo luận và nhất trí thông qua Nghị quyết phê chuẩn kết quả của Hội nghị Hiệp thương, mở ra thời kỳ phát triển mới của nước Việt Nam thống nhất.

Quốc hội khóa VI (1976-1981) được bầu ngày 25-4-1976 là Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất. Hơn 23 triệu cử tri (98,8% tổng số cử tri) đã tham gia cuộc tổng tuyển cử bầu và bầu ra 492 đại biểu của nước Việt Nam độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội bầu Uỷ ban Thường vụ Quốc hội do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 7 Phó Chủ tịch, Tổng thư ký, 13 Uỷ viên chính thức, 2 Uỷ viên dự khuyết. Quốc hội thành lập 6 uỷ ban: Uỷ ban Kế hoạch và ngân sách; Uỷ ban Dự án pháp luật; Uỷ ban Dân tộc; Uỷ ban Văn hóa và giáo dục, Uỷ ban Y tế và xã hội; Uỷ ban Đối ngoại.

Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã quyết định đổi tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quy định quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng, quốc huy mang dòng chữ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và quốc ca là bài Tiến quân ca. Để thể hiện tính liên tục của Nhà nước qua các giai đoạn đấu tranh cách mạng của nhân dân ta từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Quốc hội đã quy định khóa Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất là Quốc hội khóa VI và chính thức đặt tên cho thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh; quy định Thủ đô của nước Việt Nam thống nhất là Hà Nội. Đồng thời, Quốc hội đã ra Nghị quyết về việc thành lập Uỷ ban Dự thảo Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong nhiệm kỳ 5 năm (1976-1981), Quốc hội khóa VI đã họp 7 kỳ và ban hành nhiều nghị quyết quan trọng như Nghị quyết thông qua nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976-1980); Nghị quyết phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh khác; Nghị quyết về việc thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo trực thuộc Trung ương.

Tại kỳ họp thứ 7 (tháng 12-1980), Quốc hội đã thảo luận và thông qua Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hiến pháp năm 1980 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong nhiệm kỳ này, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 5 pháp lệnh: Pháp lệnh về việc xin ân giảm án tử hình và xét duyệt án tử hình; Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Pháp lệnh sửa đổi và bổ sung một số điểm về thuế công thương nghiệp và thuế sát sinh; Pháp lệnh sửa đổi và bổ sung một số điều khoản của Pháp lệnh năm 1961 quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp và Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ.


1. Hồ Chí Minh, Sđd, t.4, tr. 440.

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện