Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


 "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy."

 

Trích   Tuyên ngôn độc lập

   

Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  

 

 Thời kỳ từ năm 1980 đến năm 1992

 Đây là thời kỳ Quốc hội được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp năm 1980, theo đó, Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, những mục tiêu phát triển kinh tế và văn hóa, những quy tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Quốc hội có 15 loại nhiệm vụ và quyền hạn, trong đó có những quyền rất quan trọng như làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật, thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, quy định kế hoạch nhà nước và phê chuẩn việc thực hiện kế hoạch nhà nước, quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước… Hiến pháp còn quy định Quốc hội có thể định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết.

Theo quy định của Hiến pháp 1980, trong thời kỳ này, nhiệm kỳ của Quốc hội là 5 năm.

Hiến pháp 1980 quy định Hội đồng Nhà nước là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội đồng Nhà nước, thông qua Chủ tịch Hội đồng, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Hội đồng Nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Hiến pháp quy định Hội đồng Nhà nước được bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội, gồm có: Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, các Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Tổng thư ký Hội đồng Nhà nước và các ủy viên Hội đồng Nhà nước. Hội đồng Nhà nước có 21 nhiệm vụ và quyền hạn tương tự như quy định của Hiến pháp 1959 đối với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, nhưng có sự ràng buộc và chặt chẽ hơn trong việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của mình, như quyết định về việc thành lập hoặc bãi bỏ các bộ, các Uỷ ban Nhà nước; cử và bãi miễn các Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, các Bộ trưởng, các Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước; tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược phải trình Quốc hội phê chuẩn trong kỳ họp gần nhất của Quốc hội...

Ngoài ra, Hiến pháp 1980 còn quy định Quốc hội bầu Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội. Số Phó Chủ tịch Quốc hội do Quốc hội định.

Quốc hội khóa VII (1981-1987) được bầu ngày 26-4-1981, có 496 đại biểu. Quốc hội bầu Hội đồng Nhà nước do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 4 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Tổng thư ký Hội đồng Nhà nước.

Quốc hội đã bầu Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch Quốc hội và 9 Phó Chủ tịch Quốc hội; bầu Hội đồng Quốc phòng, Hội đồng Dân tộc và 7 ủy ban: Uỷ ban Pháp luật, Uỷ ban Kinh tế - kế hoạch và ngân sách, Uỷ ban Văn hóa và giáo dục, Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật, Uỷ ban Y tế và xã hội, Uỷ ban Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng và Uỷ ban Đối ngoại.

Quốc hội khóa VII đã có 12 kỳ họp; ban hành được 10 đạo luật và 35 nghị quyết; Hội đồng Nhà nước ban hành được 15 pháp lệnh. Ngoài các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước được ban hành mới theo Hiến pháp 1980, đáng chú ý là lần đầu tiên Quốc hội đã ban hành Bộ luật hình sự (1985) gồm 280 điều quy định về tội phạm và hình phạt; và Luật hôn nhân gia đình (1986) gồm 57 điều trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, thể hiện bước phát triển đáng kể trong hoạt động lập pháp của Quốc hội.

Quốc hội đã triển khai thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước như thành lập các cơ quan nhà nước ở Trung ương, thông qua các nghị quyết về kế hoạch kinh tế - xã hội hàng năm; quyết định các vấn đề về việc cử và miễn nhiệm một số thành viên Hội đồng Bộ trưởng.

Hoạt động giám sát cũng được Quốc hội và Hội đồng Nhà nước coi trọng, tập trung về các vấn đề quản lý kinh tế - xã hội, việc thi hành Hiến pháp, pháp luật nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Hoạt động chất vấn tại kỳ họp đã có bước cải tiến với việc tại kỳ họp thứ 10, các đại biểu Quốc hội đã tập trung chất vấn vào việc đánh giá những sai lầm, khuyết điểm về việc thực hiện chính sách giá - lương - tiền; đồng thời đề ra những biện pháp khắc phục.

Quốc hội khóa VIII (1987-1992) được bầu ra ngày 19-4-1987 là Quốc hội của giai đoạn khởi đầu sự nghiệp Đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra.

Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội bầu đồng chí Lê Quang Đạo làm Chủ tịch Quốc hội, 5 Phó Chủ tịch Quốc hội; thành lập Hội đồng quốc phòng, Hội đồng Dân tộc và 7 uỷ ban: Uỷ ban Pháp luật; Uỷ ban Kinh tế, kế hoạch và ngân sách; Uỷ ban Văn hóa và giáo dục; Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật; Uỷ ban Y tế và xã hội; Uỷ ban Thanh niên, Thiếu niên và nhi đồng và Uỷ ban Đối ngoại. Quốc hội đã có 11 kỳ họp, ban hành 2 bộ luật, 25 đạo luật và Hội đồng Nhà nước đã ban hành 39 pháp lệnh. Đáng chú ý là nhiều đạo luật quan trọng thể chế hóa chính sách kinh tế mới lần đầu tiên đã được ban hành, như Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987), mở đường cho việc đẩy mạnh đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật doanh nghiệp tư nhân (1990) và Luật công ty (1990) là những đạo luật quan trọng thể chế hóa đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta. Lần đầu tiên các luật này thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và quyền thành lập công ty và doanh nghiệp tư nhân. Quốc hội còn ban hành các luật về thuế như Luật thuế doanh thu, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế lợi tức, Bộ luật hàng hải, Luật hàng không dân dụng. Hội đồng Nhà nước đã ban hành hàng loạt pháp lệnh điều chỉnh các mặt khác nhau của đời sống xã hội.

Tại kỳ họp thứ 5, tháng 6-1989, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc thành lập Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp do đồng chí Võ Chí Công làm Chủ tịch, gồm 27 thành viên để tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1980 một cách cơ bản và toàn diện, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa VIII xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 11 năm 1992.

Đặc biệt, Quốc hội khóa VIII đã có tiến bộ nhất định trong việc xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tại các kỳ họp của mình, Quốc hội đã dành thời gian để thảo luận về các báo cáo của Hội đồng Bộ trưởng về tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước và ngân sách nhà nước; yêu cầu Hội đồng Bộ trưởng báo cáo bổ sung, cung cấp thêm thông tin, số liệu để có thêm căn cứ xem xét, phân tích trước khi quyết định. Quốc hội cũng đã phê chuẩn các hiệp định, hiệp ước quan trọng về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và giáo dục mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết.

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện