Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


 "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy."

 

Trích   Tuyên ngôn độc lập

   

Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  

 

Thời kỳ từ năm 1992 đến nay

 Đây là thời kỳ Quốc hội được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp 1992 và đã trải qua gần ba nhiệm kỳ hoạt động. Quốc hội đã có những đổi mới cơ bản, khắc phục tính hình thức, hạn chế trong hoạt động ở các khóa Quốc hội trước và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng là cơ quan đại diện dân cử cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hiến pháp mới 1992 vẫn tiếp tục khẳng định Quốc hội có ba chức năng cơ bản: là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Quốc hội có 14 nhiệm vụ, quyền hạn và quy định “Quốc hội có thể định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết” trong Hiến pháp 1980 đã bị bãi bỏ.

Hiến pháp 1992 đã có sự điều chỉnh quan trọng là lập lại chế định Chủ tịch nước là cá nhân một người và thành lập Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội; lập Hội đồng Quốc phòng và An ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội gồm có Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên. Thành viên của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thực hiện 12 nhiệm vụ, quyền hạn, trong đó có quyền công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội; tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; ra pháp lệnh về những vấn đề Quốc hội giao...

Hiến pháp 1992 quy định Quốc hội bầu Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội và lần đầu tiên quy định “mỗi uỷ ban có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách”.

Quốc hội khóa IX (1992-1997) được bầu ngày 19-7-1992, có 395 đại biểu và nhiệm kỳ hoạt động là 5 năm. Quốc hội đã đóng vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa Cương lĩnh, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, đường lối đổi mới của Đảng theo tinh thần của Hiến pháp 1992 và Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VII nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới sâu sắc và toàn diện. Việc quy định công dân có quyền tự ứng cử đại biểu Quốc hội và quy định cụ thể về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1992 đánh dấu bước đổi mới quan trọng trong cơ chế bầu cử, tạo cơ sở pháp lý cần thiết bảo đảm phát huy quyền dân chủ của công dân, tạo điều kiện cho những người có đủ tiêu chuẩn thực hiện quyền tự ứng cử, để cử tri lựa chọn, bầu vào Quốc hội, để họ có điều kiện đóng góp trí tuệ và khả năng của mình với Quốc hội, với đất nước. Thực tế Quốc hội khoá IX có những người tự ứng cử trúng cử đại biểu Quốc hội.

Quốc hội IX bầu đồng chí Nông Đức Mạnh làm Chủ tịch Quốc hội, 3 Phó Chủ tịch và 9 Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Ngoài ra, Quốc hội còn thành lập Hội đồng Dân tộc và 7 Uỷ ban của Quốc hội: Uỷ ban Pháp luật; Uỷ ban Kinh tế và ngân sách; Uỷ ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Uỷ ban Các vấn đề xã hội; Uỷ ban Khoa học, công nghệ và môi trường, Uỷ ban Quốc phòng và An ninh và Uỷ ban Đối ngoại, trong đó, Uỷ ban Quốc phòng và an ninh của Quốc hội lần đầu tiên được thành lập.

Trong nhiệm kỳ khóa IX, Quốc hội đã tập trung thời gian, trí tuệ để đẩy mạnh hoạt động lập pháp với kết quả là 36 luật, bộ luật và 43 pháp lệnh đã được ban hành. Quốc hội đã ưu tiên ban hành các văn bản cần thiết nhằm thiết lập hệ thống chính sách nhất quán, tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho sự phát triển của các thành phần kinh tế với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; góp phần đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, trong đó có việc đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất, huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tăng tích lũy để tạo vốn đầu tư phát triển.

Nhiều đạo luật tạo cơ sở pháp lý hình thành môi trường ổn định và thuận lợi cho sự phát triển của các thành phần kinh tế đã được Quốc hội khóa IX ban hành như Luật đất đai, Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật hợp tác xã, Luật phá sản doanh nghiệp, Luật công ty (sửa đổi), Luật doanh nghiệp tư nhân (sửa đổi), Luật khuyến khích đầu tư trong nước, các luật về thuế…

Cùng với các văn bản pháp luật về kinh tế, Quốc hội đã quan tâm ban hành các luật, pháp lệnh về đổi mới hệ thống chính trị nhằm góp phần thực hiện tốt nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Quốc hội khóa IX đã xem xét và thông qua Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Tòa án Nhân dân, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi)… Đây là những đạo luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước phù hợp với các quy định của Hiến pháp 1992. Ngoài ra, Quốc hội còn chú ý xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật thể chế hóa các quyền và lợi ích chính đáng của công dân, bảo đảm trật tự, kỷ cương, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng - an ninh như ban hành hai bộ luật lớn: Bộ luật lao động (1994), Bộ luật dân sự (1995), Nghị quyết về việc thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu…

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành nhiều pháp lệnh, trong đó đáng chú ý là Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và Pháp lệnh “Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng”.

Quốc hội đã có nhiều quyết sách quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước như hàng năm, Quốc hội xem xét và thông qua các nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước; phân bổ ngân sách nhà nước; các vấn đề cơ bản về đối nội và đối ngoại… Đáng chú ý là lần đầu tiên sau 10 năm tiến hành Đổi mới, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ, kế hoạch 5 năm (1996-2000), thể hiện vai trò và trách nhiệm của Quốc hội trước định hướng phát triển lâu dài của đất nước. Quốc hội cũng đã quyết định việc miễn nhiệm, bầu và phê chuẩn việc bổ nhiệm một số nhân sự cấp cao của Nhà nước; sáp nhập một số bộ, ngành; việc chia tách một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Công tác giám sát của Quốc hội cũng đã có những đổi mới nhất định như tiến hành nghe các báo cáo hoạt động của các cơ quan nhà nước ở Trung ương; cử các đoàn đi kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương. Chất vấn và trả lời chất vấn được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của đại biểu Quốc hội, của Chính phủ và các cơ quan hữu quan trước nhân dân. Đặc biệt là từ năm 1994 đến nay, các phiên chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội đã được phát thanh và truyền hình trực tiếp, tạo không khí cởi mở, đối thoại giữa người hỏi và người trả lời, được nhân dân quan tâm theo dõi và hoan nghênh.

Quốc hội đã chú trọng đến công tác dân nguyện, tiếp dân và giải quyết các đơn thư của nhân dân. Nhiều đoàn công tác của Quốc hội đã trực tiếp đến các địa phương, cơ sở để đôn đốc, xem xét việc giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền.

Hoạt động đối ngoại của Quốc hội giai đoạn này cũng có nhiều đổi mới. Các cơ quan của Quốc hội đã triển khai hoạt động đối ngoại một cách chủ động, tích cực nhằm tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng anh em và tại các diễn đàn nghị viện đa phương. Hoạt động đối ngoại của Quốc hội đã góp phần quan trọng thúc đẩy việc thực hiện thành công chính sách đối ngoại Việt Nam "muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".

Kết thúc nhiệm kỳ, khi đánh giá về hiệu quả hoạt động của Quốc hội khóa IX, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh đã nêu rõ: cùng với toàn Đảng, toàn dân, các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, Quốc hội đã không ngừng phấn đấu, góp phần quan trọng vào những thành tựu đạt được sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng và 10 năm đổi mới của đất nước ta.

Quốc hội khóa X (1997-2002) được bầu ngày 20-7-1997, gồm 450 đại biểu. Kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được của Quốc hội các khóa trước, Quốc hội khóa X đã tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII, của Đảng, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội bầu Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có 14 thành viên, gồm Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh, 5 phó chủ tịch Quốc hội và 8 ủy viên. Tại kỳ họp thứ 9 từ ngày 22-5 đến ngày 29-6-2001, Quốc hội đã tín nhiệm bầu đồng chí Nguyễn Văn An làm Chủ tịch Quốc hội thay đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã thành lập Hội đồng Dân tộc và 7 Uỷ ban của Quốc hội: Uỷ ban Pháp luật; Uỷ ban Kinh tế và ngân sách; Uỷ ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Uỷ ban Các vấn đề xã hội; Uỷ ban Khoa học, công nghệ và môi trường; Uỷ ban Quốc phòng và an ninh và Uỷ ban Đối ngoại.

Trong nhiệm kỳ 5 năm (1997-2002) với 11 kỳ họp và 50 phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội khóa X đã tập trung công sức, trí tuệ và thời gian để tiếp tục nâng cao chất lượng công tác lập pháp, đẩy mạnh công tác giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; tính dân chủ trong hoạt động ngày càng được phát huy, tính hình thức ngày càng giảm.

Trong công tác lập pháp, Quốc hội đã ban hành được 1 bộ luật, 31 luật; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành được 39 pháp lệnh. Các văn bản luật và pháp lệnh được ban hành đã quán triệt quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đề ra, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các vấn đề bức xúc của cuộc sống và công cuộc phát triển đất nước. Đối tượng điều chỉnh của các văn bản này liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Nhiều văn bản pháp luật đã đáp ứng đúng đòi hỏi của thực tiễn nên nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả.

Điểm nổi bật là tại kỳ họp thứ 10 từ ngày 21-11 đến ngày 25-12-2001, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy nhà nước, đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý Nhà nước, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân. Cụ thể là ở Điều 84 của Hiến pháp 1992 đã được bổ sung quy định Quốc hội phân bổ ngân sách Trung ương; còn việc phân bổ ngân sách địa phương thì được giao cho Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh; Quốc hội quyết định chính sách tôn giáo; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng Quốc phòng và an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; về quyền của Quốc hội phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký.

Vai trò của Quốc hội được tăng cường trong việc xem xét và quyết định các vấn đề nhân sự cấp cao. Trước năm 2001, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đều giao cho cơ quan thường trực của Quốc hội là Hội đồng Nhà nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quyền phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội. Điều khoản sửa đổi của Hiến pháp năm 1992 đã bãi bỏ thẩm quyền này của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm Quốc hội là chủ thể duy nhất có quyền quyết định nhân sự cấp cao của Nhà nước.

Quốc hội đã xem xét và ban hành mới các luật về tổ chức bộ máy nhà nước. Đó là Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật tổ chức Tòa án Nhân dân và Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân. Quốc hội cũng đã ban hành Luật về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.

Bên cạnh ưu tiên ban hành các văn bản luật, pháp lệnh về lĩnh vực kinh tế như Luật doanh nghiệp, Luật hải quan, Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng…, Quốc hội còn quan tâm đến việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về các lĩnh vực xã hội như Luật phòng chống ma túy, Pháp lệnh người cao tuổi, Pháp lệnh người tàn tật, v.v.. Ngoài ra, nhiều văn bản luật, pháp lệnh về lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ cũng được xây dựng và ban hành mới như Luật di sản văn hóa, Luật khoa học công nghệ, Luật tài nguyên nước, Pháp lệnh chất lượng hàng hóa, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng…

Điều đáng chú ý là quy trình xây dựng pháp luật đã được quan tâm cải tiến. Cụ thể là vai trò và trách nhiệm của các chủ thể trong quy trình xây dựng pháp luật được nâng cao. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp về các dự án luật, pháp lệnh được tiếp tục coi trọng và có những đổi mới đáng kể nhằm phát huy trí tuệ của các tầng lớp nhân dân cả nước. Các đợt lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật ngày càng có hiệu quả thiết thực và đã trở thành những cuộc sinh hoạt chính trị sôi nổi, rộng khắp trong cả nước. Sự chuẩn bị và phối hợp giữa cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra đã có bước tiến bộ. Việc xem xét và thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội đã có cải tiến một bước, góp phần nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tiến độ của việc xem xét và thông qua dự án luật.

Cùng với hoạt động lập pháp, Quốc hội ngày càng chú trọng và chủ động hơn trong việc xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước: xem xét, quyết định các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình, mục tiêu quốc gia, tổ chức bộ máy và nhân sự của các cơ quan nhà nước do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, các vấn đề về bảo đảm an ninh - quốc phòng. Quốc hội xem xét kết quả thực hiện Nghị quyết về kế hoạch 5 năm (1996-2000) và thông qua Nghị quyết về kế hoạch 5 năm tiếp theo (2001-2005). Đặc biệt, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về tiêu chuẩn các công trình quốc gia quan trọng. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã thảo luận và quyết định thực hiện 3 dự án quan trọng là Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Dự án khí - điện - đạm ở Bà Rịa - Vũng Tàu và Dự án Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất.

Quốc hội đã xem xét và thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn “Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” tại kỳ họp thứ 7 (tháng 6-2000); Nghị quyết về việc phê chuẩn “Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại song phương” tại kỳ họp thứ 10 (tháng 11-2001).

Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa X cũng được triển khai tích cực, có sự đổi mới cả về nội dung và hình thức giám sát. Quốc hội đã tập trung giám sát việc thi hành Hiến pháp, pháp luật; hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện những nhiệm vụ quan trọng về kinh tế, ngân sách nhà nước, về dân tộc, miền núi, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; vấn đề giao lưu kinh tế qua biên giới, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), viện trợ phát triển chính thức (ODA); việc thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Chương trình 135, vấn đề cử tuyển và chính sách đào tạo, sử dụng đối với con em đồng bào các dân tộc thiểu số; hoạt động điều tra, truy tố, xét xử… Hoạt động giám sát tại các kỳ họp đã được đổi mới, theo đó, nội dung giám sát ngày càng phong phú, được thảo luận dân chủ hơn. Thời gian dành cho việc xem xét các báo cáo cũng được bố trí thỏa đáng hơn. Các phiên chất vấn đều được phát thanh, truyền hình trực tiếp.

Trong nhiệm kỳ này, hoạt động đối ngoại của Quốc hội đã được triển khai chủ động trên nhiều địa bàn, với nhiều chủ thể khác nhau nhằm củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng trong khu vực Đông Nam á; đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động trên các diễn đàn nghị viện đa phương như Tổ chức Liên minh Nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam á (AIPO), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU); Hiệp hội các Nghị viện châu á vì hòa bình (AAPP); Liên minh Nghị viện cộng đồng Pháp ngữ (APF); Diễn đàn Nghị sĩ châu á - Thái Bình Dương (APPF); Diễn đàn Nghị sĩ châu á về dân số và phát triển (AFPDD). Tổng cộng có 129 đoàn đại biểu Quốc hội từ các nước, trong đó có 16 Chủ tịch Quốc hội, đã đến thăm và làm việc với Quốc hội Việt Nam.

Nhiều đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam đã đi thăm chính thức các nước; tham dự các kỳ họp thường niên của Đại hội đồng AIPO; kỳ họp lần thứ 100 của Liên minh Nghị viện thế giới và Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh đã tham dự Hội nghị thiên niên kỷ các vị đứng đầu cơ quan lập pháp các nước trên thế giới, lần đầu tiên được tổ chức tại trụ sở Đại hội đồng Liên hợp quốc ở New York. Đặc biệt, tại kỳ họp lần thứ 22 Đại hội đồng AIPO ở Băngcốc (Thái Lan), Quốc hội Việt Nam tiếp nhận chức Chủ tịch và Tổng thư ký AIPO nhiệm kỳ 2001-2002 và đăng cai, tổ chức thành công kỳ họp Đại hội đồng AIPO lần thứ 23 tại Hà Nội vào tháng 9-2002.

Quốc hội khóa XI (2002-2007) được bầu ngày 19-5-2002 là khóa Quốc hội đầu tiên trong thiên niên kỷ mới; có 498 đại biểu trúng cử với số cử tri đi bầu đạt tỷ lệ 99,73%, cao nhất từ trước đến nay.

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mới đất nước được triển khai một cách toàn diện, mạnh mẽ nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Tại kỳ họp thứ nhất, đồng chí Nguyễn Văn An được bầu làm Chủ tịch Quốc hội, 3 Phó Chủ tịch Quốc hội và 9 thành viên khác của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Quốc hội thành lập Hội đồng Dân tộc và 7 uỷ ban của Quốc hội: Uỷ ban Pháp luật; Uỷ ban Kinh tế và ngân sách, Uỷ ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Uỷ ban Các vấn đề xã hội; Uỷ ban Khoa học, công nghệ và môi trường; Uỷ ban Quốc phòng và an ninh và Uỷ ban Đối ngoại.

Trong nhiệm kỳ này, số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách đã tăng lên đáng kể, có 120 trong số 498 đại biểu (chiếm gần 25% tổng số đại biểu Quốc hội) hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và tại tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Để thực hiện tốt hơn nữa các nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định thành lập 3 cơ quan chuyên môn trực thuộc là Ban công tác lập pháp, Ban công tác đại biểu và Ban dân nguyện.

Đến tháng 10-2005, Quốc hội đã trải qua 8 kỳ họp. Các mặt hoạt động của Quốc hội có nhiều đổi mới rất quan trọng. Tính đến hết kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XI, có 44 văn bản luật và 26 pháp lệnh được ban hành. Số lượng các văn bản luật được ban hành trong một kỳ họp đã tăng nhiều hơn so với trước. Cho đến nay, kỳ họp thứ 7 là kỳ họp có số lượng kỷ lục với 15 dự án luật được Quốc hội xem xét và thông qua.

Trong số các văn bản luật quan trọng được Quốc hội thông qua, đáng chú ý là Luật ngân sách nhà nước (được thông qua ngày 16-12-2002) đã sửa đổi cơ bản Luật ngân sách nhà nước năm 1996; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996; Luật thống kê và Luật kế toán (được thông qua ngày 17-6-2003); Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi), Luật đất đai (sửa đổi), Luật doanh nghiệp nhà nước (sửa đổi), Luật hợp tác xã (sửa đổi), Luật xây dựng, Luật thuỷ sản, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi), Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sửa đổi) và Luật thi đua, khen thưởng.

Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, lần đầu tiên Quốc hội đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thay thế cho 5 pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, việc công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động nhằm góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu lực trong việc giải quyết các vụ việc về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình.

Kết quả hoạt động lập pháp của Quốc hội thể hiện sự cố gắng vượt bậc không chỉ nhiều về số lượng, mà còn bảo đảm chất lượng của các văn bản được ban hành. Điều này, trước hết là do sự tích cực, chủ động của các cơ quan của Quốc hội trong việc triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; sự phối hợp chặt chẽ giữa Quốc hội, Chính phủ và các chủ thể khác có quyền sáng kiến lập pháp trong quá trình xây dựng văn bản và nhất là đổi mới quy trình, thủ tục xây dựng pháp luật theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2003). Theo quy trình mới này, dự án luật có thể được xem xét, thông qua tại một hay nhiều kỳ họp. Đồng thời, Quốc hội đã cải tiến việc thảo luận, cho ý kiến về các dự án luật như tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách để các đại biểu thảo luận về các dự án luật trước khi trình Quốc hội.

Quốc hội đã thực hiện có kết quả chức năng quyết định các vấn đề quan trọng như bầu Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; phân bổ ngân sách trung ương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước mới năm 2003. Quốc hội đã xem xét, quyết định phương án xây dựng công trình Nhà máy thuỷ điện Sơn La, một công trình có ý nghĩa hết sức to lớn, tác động trực tiếp đến công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đời sống của nhân dân; ban hành Nghị quyết về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2003; Nghị quyết về việc phê chuẩn “Hiệp định giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vùng vịnh Bắc Bộ”; Nghị quyết về giáo dục; Nghị quyết về chủ trương xây dựng đường Hồ Chí Minh; Nghị quyết về tập trung chỉ đạo xây dựng Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất...

Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa XI cũng được tăng cường hơn trước. Ngoài việc tiến hành giám sát như nghe báo cáo về tình hình hoạt động của các cơ quan nhà nước Trung ương, chất vấn tại kỳ họp, Quốc hội đã nghe các báo cáo giám sát chuyên đề do Uỷ ban Thường vụ tiến hành về các vấn đề gây bức xúc như chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư, xây dựng cơ bản; công tác giáo dục... Quốc hội đã ban hành Luật hoạt động giám sát của Quốc hội (tháng 6-2003) nhằm cụ thể hóa chức năng giám sát tối cao của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc hội, của các đại biểu Quốc hội và các đoàn đại biểu Quốc hội.

Hoạt động đối ngoại của Quốc hội tiếp tục được tăng cường cả trong quan hệ song phương và tại các diễn đàn nghị viện đa phương. Lần đầu tiên Quốc hội nước ta tổ chức thành công Diễn đàn đối tác Nghị viện á - Âu ASEP lần thứ ba (ASEP3) tại thành phố Huế, tháng 3-2004 với sự tham dự của 120 đại biểu đến từ 7 nước ASEAN và 15 nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), cùng 3 đối tác ASEAN là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Diễn đàn này được tiến hành với chủ đề hướng tới một nền thương mại quốc tế bình đẳng hơn; đồng thời, thúc đẩy giao lưu và đa dạng văn hoá trong khuôn khổ đối tác á - Âu. Tiếp đó, Quốc hội nước ta tổ chức thành công Hội nghị thường niên lần thứ 13 Diễn đàn Nghị viện các quốc gia châu á - Thái Bình Dương (APPF 13) tại Quảng Ninh vào tháng 1-2005 với sự tham gia của 275 nghị viên đến từ 23 nước trong khu vực châu á - Thái Bình Dương. Tháng 9-2005, Chủ tịch Nguyễn Văn An đã dẫn đầu Đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam tham dự Hội nghị toàn thế giới lần thứ hai những người đứng đầu các cơ quan lập pháp các nước được tổ chức tại trụ sở Đại hội đồng Liên hợp quốc ở New York.

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện