|
Đây là
thời kỳ Quốc hội được tổ chức và hoạt
động theo Hiến pháp 1992 và đã trải qua
gần ba nhiệm kỳ hoạt động. Quốc hội đã
có những đổi mới cơ bản, khắc phục tính
hình thức, hạn chế trong hoạt động ở các
khóa Quốc hội trước và ngày càng khẳng
định vị trí, vai trò quan trọng là cơ
quan đại diện dân cử cao nhất, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hiến
pháp mới 1992 vẫn tiếp tục khẳng định
Quốc hội có ba chức năng cơ bản: là cơ
quan duy nhất có quyền lập hiến và lập
pháp; quyết định những chính sách cơ bản
về đối nội, đối ngoại và thực hiện quyền
giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt
động của Nhà nước. Quốc hội có 14 nhiệm
vụ, quyền hạn và quy định “Quốc hội có
thể định cho mình những nhiệm vụ và
quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết”
trong Hiến pháp 1980 đã bị bãi bỏ.
Hiến
pháp 1992 đã có sự điều chỉnh quan trọng
là lập lại chế định Chủ tịch nước là cá
nhân một người và thành lập Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường
trực của Quốc hội; lập Hội đồng Quốc
phòng và An ninh do Chủ tịch nước làm
Chủ tịch. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội gồm
có Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch
Quốc hội và các ủy viên. Thành viên của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội không thể đồng
thời là thành viên Chính phủ. Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội thực hiện 12 nhiệm
vụ, quyền hạn, trong đó có quyền công bố
và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc
hội; tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và
chủ trì các kỳ họp Quốc hội; giải thích
Hiến pháp, luật, pháp lệnh; ra pháp lệnh
về những vấn đề Quốc hội giao...
Hiến
pháp 1992 quy định Quốc hội bầu Hội đồng
Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội và
lần đầu tiên quy định “mỗi uỷ ban có một
số thành viên làm việc theo chế độ
chuyên trách”.
Quốc hội
khóa IX
(1992-1997) được bầu ngày 19-7-1992, có
395 đại biểu và nhiệm kỳ hoạt động là 5
năm. Quốc hội đã đóng vai trò quan trọng
trong việc thể chế hóa Cương lĩnh, Chiến
lược ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội của Đảng, đường lối đổi mới của Đảng
theo tinh thần của Hiến pháp 1992 và
Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VII
nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới
sâu sắc và toàn diện. Việc quy định công
dân có quyền tự ứng cử đại biểu Quốc hội
và quy định cụ thể về tiêu chuẩn đại
biểu Quốc hội trong Luật bầu cử đại biểu
Quốc hội năm 1992 đánh dấu bước đổi mới
quan trọng trong cơ chế bầu cử, tạo cơ
sở pháp lý cần thiết bảo đảm phát huy
quyền dân chủ của công dân, tạo điều
kiện cho những người có đủ tiêu chuẩn
thực hiện quyền tự ứng cử, để cử tri lựa
chọn, bầu vào Quốc hội, để họ có điều
kiện đóng góp trí tuệ và khả năng của
mình với Quốc hội, với đất nước. Thực tế
Quốc hội khoá IX có những người tự ứng
cử trúng cử đại biểu Quốc hội.
Quốc hội
IX bầu đồng chí Nông Đức Mạnh làm Chủ
tịch Quốc hội, 3 Phó Chủ tịch và 9 Uỷ
viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Ngoài
ra, Quốc hội còn thành lập Hội đồng Dân
tộc và 7 Uỷ ban của Quốc hội: Uỷ ban
Pháp luật; Uỷ ban Kinh tế và ngân sách;
Uỷ ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên,
thiếu niên và nhi đồng; Uỷ ban Các vấn
đề xã hội; Uỷ ban Khoa học, công nghệ và
môi trường, Uỷ ban Quốc phòng và An ninh
và Uỷ ban Đối ngoại, trong đó, Uỷ ban
Quốc phòng và an ninh của Quốc hội lần
đầu tiên được thành lập.
Trong
nhiệm kỳ khóa IX, Quốc hội đã tập trung
thời gian, trí tuệ để đẩy mạnh hoạt động
lập pháp với kết quả là 36 luật, bộ luật
và 43 pháp lệnh đã được ban hành. Quốc
hội đã ưu tiên ban hành các văn bản cần
thiết nhằm thiết lập hệ thống chính sách
nhất quán, tạo môi trường ổn định và
thuận lợi cho sự phát triển của các
thành phần kinh tế với vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước; góp phần đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế, trong đó có việc
đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ,
giá cả nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất,
huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực, tăng tích lũy để tạo vốn đầu tư
phát triển.
Nhiều
đạo luật tạo cơ sở pháp lý hình thành
môi trường ổn định và thuận lợi cho sự
phát triển của các thành phần kinh tế đã
được Quốc hội khóa IX ban hành như Luật
đất đai, Luật doanh nghiệp nhà nước,
Luật hợp tác xã, Luật phá sản doanh
nghiệp, Luật công ty (sửa đổi), Luật
doanh nghiệp tư nhân (sửa đổi), Luật
khuyến khích đầu tư trong nước, các luật
về thuế…
Cùng với
các văn bản pháp luật về kinh tế, Quốc
hội đã quan tâm ban hành các luật, pháp
lệnh về đổi mới hệ thống chính trị nhằm
góp phần thực hiện tốt nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm
chủ của nhân dân. Quốc hội khóa IX đã
xem xét và thông qua Luật tổ chức Quốc
hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ
chức Tòa án Nhân dân, Luật tổ chức Viện
Kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng
Nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi)…
Đây là những đạo luật quan trọng, tạo cơ
sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và
hoạt động của các cơ quan nhà nước phù
hợp với các quy định của Hiến pháp 1992.
Ngoài ra, Quốc hội còn chú ý xây dựng và
ban hành các văn bản pháp luật thể chế
hóa các quyền và lợi ích chính đáng của
công dân, bảo đảm trật tự, kỷ cương, giữ
vững ổn định chính trị, củng cố quốc
phòng - an ninh như ban hành hai bộ luật
lớn: Bộ luật lao động (1994), Bộ luật
dân sự (1995), Nghị quyết về việc thực
hiện tiết kiệm, chống lãng phí, chống
tham nhũng, chống buôn lậu…
Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội đã ban hành nhiều
pháp lệnh, trong đó đáng chú ý là Pháp
lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước
“Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và Pháp lệnh
“Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt
sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh,
bệnh binh, người hoạt động kháng chiến,
người có công giúp đỡ cách mạng”.
Quốc hội
đã có nhiều quyết sách quan trọng để xây
dựng và phát triển đất nước như hàng
năm, Quốc hội xem xét và thông qua các
nghị quyết về dự toán ngân sách nhà
nước; phân bổ ngân sách nhà nước; các
vấn đề cơ bản về đối nội và đối ngoại…
Đáng chú ý là lần đầu tiên sau 10 năm
tiến hành Đổi mới, Quốc hội đã thông qua
Nghị quyết về nhiệm vụ, kế hoạch 5 năm
(1996-2000), thể hiện vai trò và trách
nhiệm của Quốc hội trước định hướng phát
triển lâu dài của đất nước. Quốc hội
cũng đã quyết định việc miễn nhiệm, bầu
và phê chuẩn việc bổ nhiệm một số nhân
sự cấp cao của Nhà nước; sáp nhập một số
bộ, ngành; việc chia tách một số tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương.
Công tác
giám sát của Quốc hội cũng đã có những
đổi mới nhất định như tiến hành nghe các
báo cáo hoạt động của các cơ quan nhà
nước ở Trung ương; cử các đoàn đi kiểm
tra, giám sát việc thi hành pháp luật ở
địa phương. Chất vấn và trả lời chất vấn
được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc,
thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của
đại biểu Quốc hội, của Chính phủ và các
cơ quan hữu quan trước nhân dân. Đặc
biệt là từ năm 1994 đến nay, các phiên
chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội đã được
phát thanh và truyền hình trực tiếp, tạo
không khí cởi mở, đối thoại giữa người
hỏi và người trả lời, được nhân dân quan
tâm theo dõi và hoan nghênh.
Quốc hội
đã chú trọng đến công tác dân nguyện,
tiếp dân và giải quyết các đơn thư của
nhân dân. Nhiều đoàn công tác của Quốc
hội đã trực tiếp đến các địa phương, cơ
sở để đôn đốc, xem xét việc giải quyết
của các cơ quan có thẩm quyền.
Hoạt
động đối ngoại của Quốc hội giai đoạn
này cũng có nhiều đổi mới. Các cơ quan
của Quốc hội đã triển khai hoạt động đối
ngoại một cách chủ động, tích cực nhằm
tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền
thống với các nước láng giềng anh em và
tại các diễn đàn nghị viện đa phương.
Hoạt động đối ngoại của Quốc hội đã góp
phần quan trọng thúc đẩy việc thực hiện
thành công chính sách đối ngoại Việt Nam
"muốn là bạn với tất cả các nước trong
cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa
bình, độc lập và phát triển".
Kết thúc
nhiệm kỳ, khi đánh giá về hiệu quả hoạt
động của Quốc hội khóa IX, Chủ tịch Quốc
hội Nông Đức Mạnh đã nêu rõ: cùng với
toàn Đảng, toàn dân, các cơ quan khác
trong bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân, Quốc hội đã
không ngừng phấn đấu, góp phần quan
trọng vào những thành tựu đạt được sau 5
năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ
VII của Đảng và 10 năm đổi mới của đất
nước ta.
Quốc hội
khóa X
(1997-2002) được bầu ngày 20-7-1997, gồm
450 đại biểu. Kế thừa và phát huy những
kết quả đã đạt được của Quốc hội các
khóa trước, Quốc hội khóa X đã tiếp tục
đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động,
góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết
Đại hội lần thứ VIII, của Đảng, đẩy mạnh
sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Tại kỳ
họp thứ nhất, Quốc hội bầu Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội có 14 thành viên, gồm Chủ
tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh, 5 phó chủ
tịch Quốc hội và 8 ủy viên. Tại kỳ họp
thứ 9 từ ngày 22-5 đến ngày 29-6-2001,
Quốc hội đã tín nhiệm bầu đồng chí
Nguyễn Văn An làm Chủ tịch Quốc hội thay
đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu giữ chức
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong nhiệm kỳ
này, Quốc hội đã thành lập Hội đồng Dân
tộc và 7 Uỷ ban của Quốc hội: Uỷ ban
Pháp luật; Uỷ ban Kinh tế và ngân sách;
Uỷ ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên,
thiếu niên và nhi đồng; Uỷ ban Các vấn
đề xã hội; Uỷ ban Khoa học, công nghệ và
môi trường; Uỷ ban Quốc phòng và an ninh
và Uỷ ban Đối ngoại.
Trong nhiệm kỳ 5 năm (1997-2002) với 11
kỳ họp và 50 phiên họp của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội, Quốc hội khóa X đã tập
trung công sức, trí tuệ và thời gian để
tiếp tục nâng cao chất lượng công tác
lập pháp, đẩy mạnh công tác giám sát và
quyết định các vấn đề quan trọng của đất
nước; tính dân chủ trong hoạt động ngày
càng được phát huy, tính hình thức ngày
càng giảm.
Trong
công tác lập pháp, Quốc hội đã ban hành
được 1 bộ luật, 31 luật; Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội ban hành được 39 pháp lệnh.
Các văn bản luật và pháp lệnh được ban
hành đã quán triệt quan điểm, đường lối,
chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu
thực tiễn đề ra, tạo cơ sở pháp lý cho
việc giải quyết các vấn đề bức xúc của
cuộc sống và công cuộc phát triển đất
nước. Đối tượng điều chỉnh của các văn
bản này liên quan đến nhiều lĩnh vực của
đời sống kinh tế, xã hội. Nhiều văn bản
pháp luật đã đáp ứng đúng đòi hỏi của
thực tiễn nên nhanh chóng đi vào cuộc
sống và phát huy hiệu quả.
Điểm nổi
bật là tại kỳ họp thứ 10 từ ngày 21-11
đến ngày 25-12-2001, Quốc hội đã ban
hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992, thể chế hóa đường lối, chủ
trương của Đảng theo tinh thần Nghị
quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng. Đây
là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc
tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy nhà
nước, đổi mới hệ thống chính trị, nâng
cao hiệu quả và hiệu lực quản lý Nhà
nước, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của dân, do dân và vì dân. Cụ thể là
ở Điều 84 của Hiến pháp 1992 đã được bổ
sung quy định Quốc hội phân bổ ngân sách
Trung ương; còn việc phân bổ ngân sách
địa phương thì được giao cho Hội đồng
Nhân dân cấp tỉnh; Quốc hội quyết định
chính sách tôn giáo; phê chuẩn đề nghị
của Chủ tịch nước về danh sách thành
viên Hội đồng Quốc phòng và an ninh; bỏ
phiếu tín nhiệm đối với những người giữ
các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê
chuẩn; về quyền của Quốc hội phê chuẩn
hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch
nước trực tiếp ký.
Vai trò
của Quốc hội được tăng cường trong việc
xem xét và quyết định các vấn đề nhân sự
cấp cao. Trước năm 2001, Hiến pháp 1980
và Hiến pháp 1992 đều giao cho cơ quan
thường trực của Quốc hội là Hội đồng Nhà
nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quyền
phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính
phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các
thành viên khác của Chính phủ và báo cáo
với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất của
Quốc hội. Điều khoản sửa đổi của Hiến
pháp năm 1992 đã bãi bỏ thẩm quyền này
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm
Quốc hội là chủ thể duy nhất có quyền
quyết định nhân sự cấp cao của Nhà nước.
Quốc hội
đã xem xét và ban hành mới các luật về
tổ chức bộ máy nhà nước. Đó là Luật tổ
chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ,
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật tổ
chức Tòa án Nhân dân và Luật tổ chức
Viện Kiểm sát nhân dân. Quốc hội cũng đã
ban hành Luật về Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân.
Bên cạnh
ưu tiên ban hành các văn bản luật, pháp
lệnh về lĩnh vực kinh tế như Luật doanh
nghiệp, Luật hải quan, Luật ngân hàng
Nhà nước Việt Nam, Luật các tổ chức tín
dụng…, Quốc hội còn quan tâm đến việc
xây dựng và ban hành các văn bản pháp
luật về các lĩnh vực xã hội như Luật
phòng chống ma túy, Pháp lệnh người cao
tuổi, Pháp lệnh người tàn tật, v.v..
Ngoài ra, nhiều văn bản luật, pháp lệnh
về lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học,
công nghệ cũng được xây dựng và ban hành
mới như Luật di sản văn hóa, Luật khoa
học công nghệ, Luật tài nguyên nước,
Pháp lệnh chất lượng hàng hóa, Pháp lệnh
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng…
Điều
đáng chú ý là quy trình xây dựng pháp
luật đã được quan tâm cải tiến. Cụ thể
là vai trò và trách nhiệm của các chủ
thể trong quy trình xây dựng pháp luật
được nâng cao. Việc tổ chức lấy ý kiến
nhân dân, các ngành, các cấp về các dự
án luật, pháp lệnh được tiếp tục coi
trọng và có những đổi mới đáng kể nhằm
phát huy trí tuệ của các tầng lớp nhân
dân cả nước. Các đợt lấy ý kiến nhân dân
về các dự án luật ngày càng có hiệu quả
thiết thực và đã trở thành những cuộc
sinh hoạt chính trị sôi nổi, rộng khắp
trong cả nước. Sự chuẩn bị và phối hợp
giữa cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm
tra đã có bước tiến bộ. Việc xem xét và
thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội
đã có cải tiến một bước, góp phần nâng
cao chất lượng và đẩy nhanh tiến độ của
việc xem xét và thông qua dự án luật.
Cùng với
hoạt động lập pháp, Quốc hội ngày càng
chú trọng và chủ động hơn trong việc xem
xét, quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước: xem xét, quyết định các kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các
chương trình, mục tiêu quốc gia, tổ chức
bộ máy và nhân sự của các cơ quan nhà
nước do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, các
vấn đề về bảo đảm an ninh - quốc phòng.
Quốc hội xem xét kết quả thực hiện Nghị
quyết về kế hoạch 5 năm (1996-2000) và
thông qua Nghị quyết về kế hoạch 5 năm
tiếp theo (2001-2005). Đặc biệt, Quốc
hội đã thông qua Nghị quyết về tiêu
chuẩn các công trình quốc gia quan
trọng. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã thảo
luận và quyết định thực hiện 3 dự án
quan trọng là Dự án trồng mới 5 triệu ha
rừng, Dự án khí - điện - đạm ở Bà Rịa -
Vũng Tàu và Dự án Nhà máy lọc dầu số 1
Dung Quất.
Quốc hội
đã xem xét và thông qua Nghị quyết về
việc phê chuẩn “Hiệp ước biên giới trên
đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa” tại kỳ họp thứ 7 (tháng
6-2000); Nghị quyết về việc phê chuẩn
“Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
về quan hệ thương mại song phương” tại
kỳ họp thứ 10 (tháng 11-2001).
Hoạt
động giám sát của Quốc hội khóa X cũng
được triển khai tích cực, có sự đổi mới
cả về nội dung và hình thức giám sát.
Quốc hội đã tập trung giám sát việc thi
hành Hiến pháp, pháp luật; hoạt động của
các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện những nhiệm vụ quan trọng về kinh
tế, ngân sách nhà nước, về dân tộc, miền
núi, giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân; vấn đề giao lưu kinh tế qua
biên giới, đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI), viện trợ phát triển chính thức
(ODA); việc thực hiện Dự án trồng mới 5
triệu ha rừng, Chương trình 135, vấn đề
cử tuyển và chính sách đào tạo, sử dụng
đối với con em đồng bào các dân tộc
thiểu số; hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử… Hoạt động giám sát tại các kỳ
họp đã được đổi mới, theo đó, nội dung
giám sát ngày càng phong phú, được thảo
luận dân chủ hơn. Thời gian dành cho
việc xem xét các báo cáo cũng được bố
trí thỏa đáng hơn. Các phiên chất vấn
đều được phát thanh, truyền hình trực
tiếp.
Trong
nhiệm kỳ này, hoạt động đối ngoại của
Quốc hội đã được triển khai chủ động
trên nhiều địa bàn, với nhiều chủ thể
khác nhau nhằm củng cố và phát triển
quan hệ hữu nghị với tất cả các nước,
nhất là các nước láng giềng trong khu
vực Đông Nam á; đồng thời nâng cao hiệu
quả hoạt động trên các diễn đàn nghị
viện đa phương như Tổ chức Liên minh
Nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam á
(AIPO), Liên minh Nghị viện thế giới
(IPU); Hiệp hội các Nghị viện châu á vì
hòa bình (AAPP); Liên minh Nghị viện
cộng đồng Pháp ngữ (APF); Diễn đàn Nghị
sĩ châu á - Thái Bình Dương (APPF); Diễn
đàn Nghị sĩ châu á về dân số và phát
triển (AFPDD). Tổng cộng có 129 đoàn đại
biểu Quốc hội từ các nước, trong đó có
16 Chủ tịch Quốc hội, đã đến thăm và làm
việc với Quốc hội Việt Nam.
Nhiều đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam đã
đi thăm chính thức các nước; tham dự các
kỳ họp thường niên của Đại hội đồng
AIPO; kỳ họp lần thứ 100 của Liên minh
Nghị viện thế giới và Chủ tịch Quốc hội
Nông Đức Mạnh đã tham dự Hội nghị thiên
niên kỷ các vị đứng đầu cơ quan lập pháp
các nước trên thế giới, lần đầu tiên
được tổ chức tại trụ sở Đại hội đồng
Liên hợp quốc ở New York. Đặc biệt, tại
kỳ họp lần thứ 22 Đại hội đồng AIPO ở
Băngcốc (Thái Lan), Quốc hội Việt Nam
tiếp nhận chức Chủ tịch và Tổng thư ký
AIPO nhiệm kỳ 2001-2002 và đăng cai, tổ
chức thành công kỳ họp Đại hội đồng AIPO
lần thứ 23 tại Hà Nội vào tháng 9-2002.
Quốc hội
khóa XI
(2002-2007) được bầu ngày 19-5-2002 là
khóa Quốc hội đầu tiên trong thiên niên
kỷ mới; có 498 đại biểu trúng cử với số
cử tri đi bầu đạt tỷ lệ 99,73%, cao nhất
từ trước đến nay.
Nhiệm kỳ
Quốc hội khóa XI diễn ra trong bối cảnh
công cuộc đổi mới đất nước được triển
khai một cách toàn diện, mạnh mẽ nhằm
đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Tại kỳ
họp thứ nhất, đồng chí Nguyễn Văn An
được bầu làm Chủ tịch Quốc hội, 3 Phó
Chủ tịch Quốc hội và 9 thành viên khác
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Quốc hội
thành lập Hội đồng Dân tộc và 7 uỷ ban
của Quốc hội: Uỷ ban Pháp luật; Uỷ ban
Kinh tế và ngân sách, Uỷ ban Văn hóa,
giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi
đồng; Uỷ ban Các vấn đề xã hội; Uỷ ban
Khoa học, công nghệ và môi trường; Uỷ
ban Quốc phòng và an ninh và Uỷ ban Đối
ngoại.
Trong
nhiệm kỳ này, số lượng đại biểu Quốc hội
hoạt động chuyên trách đã tăng lên đáng
kể, có 120 trong số 498 đại biểu (chiếm
gần 25% tổng số đại biểu Quốc hội) hoạt
động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc
hội và tại tất cả 64 tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương.
Để thực
hiện tốt hơn nữa các nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã
quyết định thành lập 3 cơ quan chuyên
môn trực thuộc là Ban công tác lập pháp,
Ban công tác đại biểu và Ban dân nguyện.
Đến
tháng 10-2005, Quốc hội đã trải qua 8 kỳ
họp. Các mặt hoạt động của Quốc hội có
nhiều đổi mới rất quan trọng. Tính đến
hết kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XI, có 44
văn bản luật và 26 pháp lệnh được ban
hành. Số lượng các văn bản luật được ban
hành trong một kỳ họp đã tăng nhiều hơn
so với trước. Cho đến nay, kỳ họp thứ 7
là kỳ họp có số lượng kỷ lục với 15 dự
án luật được Quốc hội xem xét và thông
qua.
Trong số
các văn bản luật quan trọng được Quốc
hội thông qua, đáng chú ý là Luật ngân
sách nhà nước (được thông qua ngày
16-12-2002) đã sửa đổi cơ bản Luật ngân
sách nhà nước năm 1996; Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật năm 1996; Luật
thống kê và Luật kế toán (được thông qua
ngày 17-6-2003); Bộ luật tố tụng hình sự
(sửa đổi), Luật đất đai (sửa đổi), Luật
doanh nghiệp nhà nước (sửa đổi), Luật
hợp tác xã (sửa đổi), Luật xây dựng,
Luật thuỷ sản, Luật tổ chức Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi),
Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
(sửa đổi) và Luật thi đua, khen thưởng.
Tại kỳ
họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, lần đầu tiên
Quốc hội đã thông qua Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2004 thay thế cho 5 pháp lệnh
về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự,
công nhận và thi hành tại Việt Nam bản
án, quyết định dân sự của Toà án nước
ngoài, thủ tục giải quyết các vụ án kinh
tế, việc công nhận và thi hành tại Việt
Nam quyết định của trọng tài nước ngoài,
thủ tục giải quyết các tranh chấp lao
động nhằm góp phần bảo đảm tính thống
nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật,
nâng cao hiệu lực trong việc giải quyết
các vụ việc về dân sự, kinh tế, lao
động, hôn nhân và gia đình.
Kết quả
hoạt động lập pháp của Quốc hội thể hiện
sự cố gắng vượt bậc không chỉ nhiều về
số lượng, mà còn bảo đảm chất lượng của
các văn bản được ban hành. Điều này,
trước hết là do sự tích cực, chủ động
của các cơ quan của Quốc hội trong việc
triển khai thực hiện chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh; sự phối hợp chặt
chẽ giữa Quốc hội, Chính phủ và các chủ
thể khác có quyền sáng kiến lập pháp
trong quá trình xây dựng văn bản và nhất
là đổi mới quy trình, thủ tục xây dựng
pháp luật theo Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật (2003). Theo quy trình
mới này, dự án luật có thể được xem xét,
thông qua tại một hay nhiều kỳ họp. Đồng
thời, Quốc hội đã cải tiến việc thảo
luận, cho ý kiến về các dự án luật như
tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc hội
chuyên trách để các đại biểu thảo luận
về các dự án luật trước khi trình Quốc
hội.
Quốc hội
đã thực hiện có kết quả chức năng quyết
định các vấn đề quan trọng như bầu Chủ
tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng
Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân tối
cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao; phân bổ ngân sách trung
ương theo quy định của Luật ngân sách
nhà nước mới năm 2003. Quốc hội đã xem
xét, quyết định phương án xây dựng công
trình Nhà máy thuỷ điện Sơn La, một công
trình có ý nghĩa hết sức to lớn, tác
động trực tiếp đến công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước và đời sống
của nhân dân; ban hành Nghị quyết về
miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp từ năm
2003; Nghị quyết về việc phê chuẩn “Hiệp
định giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa của hai
nước trong vùng vịnh Bắc Bộ”; Nghị quyết
về giáo dục; Nghị quyết về chủ trương
xây dựng đường Hồ Chí Minh; Nghị quyết
về tập trung chỉ đạo xây dựng Nhà máy
lọc dầu số 1 Dung Quất...
Hoạt
động giám sát của Quốc hội khóa XI cũng
được tăng cường hơn trước. Ngoài việc
tiến hành giám sát như nghe báo cáo về
tình hình hoạt động của các cơ quan nhà
nước Trung ương, chất vấn tại kỳ họp,
Quốc hội đã nghe các báo cáo giám sát
chuyên đề do Uỷ ban Thường vụ tiến hành
về các vấn đề gây bức xúc như chống thất
thoát, lãng phí trong đầu tư, xây dựng
cơ bản; công tác giáo dục... Quốc
hội đã ban hành Luật hoạt động giám sát
của Quốc hội (tháng 6-2003) nhằm cụ thể
hóa chức năng giám sát tối cao của Quốc
hội, của các cơ quan của Quốc hội, của
các đại biểu Quốc hội và các đoàn đại
biểu Quốc hội.
Hoạt
động đối ngoại của Quốc hội tiếp tục
được tăng cường cả trong quan hệ song
phương và tại các diễn đàn nghị viện đa
phương. Lần đầu tiên Quốc hội nước ta tổ
chức thành công Diễn đàn đối tác Nghị
viện á - Âu ASEP lần thứ ba (ASEP3) tại
thành phố Huế, tháng 3-2004 với sự tham
dự của 120 đại biểu đến từ 7 nước ASEAN
và 15 nước thuộc Liên minh châu Âu (EU),
cùng 3 đối tác ASEAN là Trung Quốc, Nhật
Bản, Hàn Quốc. Diễn đàn này được tiến
hành với chủ đề hướng tới một nền thương
mại quốc tế bình đẳng hơn; đồng thời,
thúc đẩy giao lưu và đa dạng văn hoá
trong khuôn khổ đối tác á - Âu. Tiếp đó,
Quốc hội nước ta tổ chức thành công Hội
nghị thường niên lần thứ 13 Diễn đàn
Nghị viện các quốc gia châu á - Thái
Bình Dương (APPF 13) tại Quảng Ninh vào
tháng 1-2005 với sự tham gia của 275
nghị viên đến từ 23 nước trong khu vực
châu á - Thái Bình Dương. Tháng 9-2005,
Chủ tịch Nguyễn Văn An đã dẫn đầu Đoàn
đại biểu Quốc hội Việt Nam tham dự Hội
nghị toàn thế giới lần thứ hai những
người đứng đầu các cơ quan lập pháp các
nước được tổ chức tại trụ sở Đại hội
đồng Liên hợp quốc ở New York. |