|
Điều thứ 35
Hai tháng trước khi Nghị viện nhân
dân hết hạn, Ban thường vụ tuyên bố cuộc bầu cử lại. Cuộc bầu cử mới phải làm
xong trong hai tháng trước ngày Nghị viện hết hạn.
Khi Nghị viện nhân dân tự giải tán,
Ban thường vụ tuyên bố ngay cuộc bầu cử lại. Cuộc bầu cử mới làm xong trong hai
tháng sau ngày Nghị viện tự giải tán.
Chậm nhất là một tháng sau cuộc bầu
cử, Ban thường vụ phải họp Nghị viện nhân dân mới.
Trong khi có chiến tranh mà nghị viện
hết hạn thì Nghị viện hoặc Ban thường vụ có quyền gia hạn thêm một thời gian
không nhất định. Nhưng chậm nhất là sáu tháng sau khi chiến tranh kết liễu thì
phải bầu lại Nghị viện.
Điều thứ 36
Khi Nghị viện không họp, Ban thường
vụ có quyền:
A) Biểu quyết những dự án sắc luật
của Chính phủ. Những sắc luật đó phải đem trình Nghị viện vào phiên họp gần nhất
để Nghị viện ưng chuẩn hoặc phế bỏ.
B) Triệu tập Nghị viện nhân dân.
C) Kiểm soát và phê bình Chính phủ.
Điều thứ 37
Phải có quá nửa tổng số nhân viên bỏ
phiếu thuận, những nghị quyết của Ban thường vụ mới có giá trị.
Điều thứ 38
Khi Nghị viện không họp được, Ban
thường vụ cùng với Chính phủ có quyền quyết định tuyên chiến hay đình chiến.
Điều thứ 39
Đầu mỗi khoá họp, sau khi Ban thường
vụ báo cáo công việc, vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm Ban thường vụ có thể nêu ra, nếu
có một phần tư tổng số nghị viên yêu cầu. Toàn Ban thường vụ phải từ chức nếu
không được tín nhiệm. Nhân viên Ban thường vụ cũ có thể được bầu lại.
Điều thứ 40
Nếu chưa được Nghị viện nhân dân đồng
ý hay trong lúc Nghị viện không họp mà chưa được Ban thường vụ đồng ý thì Chính
phủ không được bắt giam và xét xử những nghị viên.
Nghị viên không bị truy tố vì lời nói
hay biểu quyết trong Nghị viện.
Trong trường hợp phạm pháp quả tang,
Chính phủ có thể bắt giam nghị viên ngay nhưng chậm nhất là 24 giờ phải thông
tri cho Ban thường vụ. Ban thường vụ hoặc Nghị viện sẽ định đoạt.
Khi một nghị viên mất quyền ứng cử
thì đồng thời mất cả tư cách nghị viên.
Điều thứ 41
Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn
một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay
thành phố đã bầu ra nghị viên đó. Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng thuận đề
nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải từ chức.
Điều thứ 42
Phụ cấp của các nghị viên sẽ do luật
định.
CHƯƠNG IV
CHÍNH PHỦ
Điều thứ 43
Cơ quan hành chính cao nhất của toàn
quốc là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Điều thứ 44
Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà, Phó chủ tịch và Nội các.
Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng,
Thứ trưởng. Có thể có Phó Thủ tướng.
Điều thứ 45
Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà chọn trong Nghị viện nhân dân và phải được hai phần ba tổng số nghị viện bỏ
phiếu thuận.
Nếu bỏ phiếu lần đầu mà không đủ số
phiếu ấy, thì lần thứ nhì sẽ theo đa số tương đối.
Chủ tịch nước Việt Nam được bầu trong
thời hạn 5 năm và có thể được bầu lại.
Trong vòng một tháng trước khi hết
nhiệm kỳ của Chủ tịch, Ban thường vụ phải triệu tập Nghị viện để bầu Chủ tịch
mới.
Điều thứ 46
Phó chủ tịch nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà chọn trong nhân dân và bầu theo lệ thường.
Nhiệm kỳ của Phó chủ tịch theo nhiệm
kỳ của Nghị viện.
Phó chủ tịch giúp đỡ Chủ tịch.
Khi Chủ tịch từ trần hay từ chức thì
Phó chủ tịch tạm quyền Chủ tịch. Chậm nhất là hai tháng phải bầu Chủ tịch mới.
Điều thứ 47
Chủ tịch nước Việt Nam chọn Thủ tướng
trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết. Nếu được Nghị viện tín nhiệm,
Thủ tướng chọn các Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn
thể danh sách. Thứ trưởng có thể chọn ngoài Nghị viện và do Thủ tướng đề cử ra
Hội đồng Chính phủ duyệt y.
Nhân viên Ban thường vụ Nghị viện
không được tham dự vào Chính phủ.
Điều thứ 48
Nếu khuyết Bộ trưởng nào thì Thủ
tướng thoả thuận với Ban thường vụ để chỉ định ngay người tạm thay cho đến khi
Nghị viện họp và chuẩn y.
Điều thứ 49
Quyền hạn của Chủ tịch nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà:
A) Thay mặt cho nước.
B) Giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội
toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân,
không quân.
C) Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng,
nhân viên Nội các và nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan Chính phủ.
D) Chủ toạ Hội đồng Chính phủ.
Đ) Ban bố các đạo luật đã được Nghị
viện quyết nghị.
E) Thưởng huy chương và các bằng cấp
danh dự.
G) Đặc xá.
H) Ký hiệp ước với các nước.
I) Phái đại biểu Việt Nam đến nước
ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giao của các nước.
K) Tuyên chiến hay đình chiến theo
như Điều 38 đã định.
Điều thứ 50
Chủ tịch nước Việt Nam không phải
chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc.
Điều thứ 51
Mỗi khi truy tố Chủ tịch, Phó chủ
tịch hay một nhân viên Nội các về tội phản quốc, Nghị viện sẽ lập một Toà án đặc
biệt để xét xử.
Việc bắt bớ và truy tố trước Toà án
một nhân viên Nội các về thường tội phải có sự ưng chuẩn của Hội đồng Chính phủ.
Điều thứ 52
Quyền hạn của Chính phủ:
A) Thi hành các đạo luật và quyết
nghị của Nghị viện.
B) Đề nghị những dự án luật ra trước
Nghị viện.
C) Đề nghị những dự án sắc luật ra
trước Ban thường vụ, trong lúc Nghị viện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt.
D) Bãi bỏ những mệnh lệnh và nghị
quyết của cơ quan cấp dưới, nếu cần.
Đ) Bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân
viên trong các cơ quan hành chính hoặc chuyên môn.
E) Thi hành luật động viên và mọi
phương sách cần thiết để giữ gìn đất nước.
G) Lập dự án ngân sách hàng năm.
Điều thứ 53
Mỗi Sắc lệnh của Chính phủ phải có
chứ ký của Chủ tịch nước Việt Nam và tuỳ theo quyền hạn các Bộ, phải có một hay
nhiều vị Bộ trưởng tiếp ký. Các vị Bộ trưởng ấy phải chịu trách nhiệm trước Nghị
viện.
Điều thứ 54
Bộ trưởng nào không được Nghị viên
tín nhiệm thì phải từ chức.
Toàn thể Nội các không phải chịu liên
đới trách nhiệm về hành vi một Bộ trưởng.
Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về
con đường chính trị của Nội các. Nhưng Nghị viện chỉ có thể biểu quyết về vấn đề
tín nhiệm khi Thủ tướng, Ban thường vụ hoặc một phần tư tổng số Nghị viện nêu
vấn đề ấy ra.
Trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện
biểu quyết không tín nhiệm Nội các thì Chủ tịch nước Việt Nam có quyền đưa vấn
đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại. Cuộc thảo luận lần thứ hai phải cách
cuộc thảo luận lần thứ nhất là 48 giờ. Sau cuộc biểu quyết này, Nội các mất tín
nhiệm phải từ chức.
Điều thứ 55
Các Bộ trưởng phải trả lời bằng thư
từ hoặc bằng lời nói những điều chất vấn của Nghị viện hoặc của Ban thường vụ.
Kỳ hạn trả lời chậm nhất là 10 ngày sau khi nhận được thư chất vấn.
Điều thứ 56
Khi Nghị viện hết hạn hoặc tự giải
tán, Nội các giữ chức quyền cho đến khi họp Nghị viện mới.
CHƯƠNG V
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
VÀ UỶ BAN HÀNH CHÍNH
Điều thứ 57
Nước Việt Nam về phương diện hành
chính gồm có ba bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành
huyện, mỗi huyện chia thành xã.
Điều thứ 58
Ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có
Hội đồng nhân dân do đầu phiếu phổ thông và trực tiếp bầu ra.
Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố,
thị xã hay xã cử ra Uỷ ban hành chính.
Ở bộ và huyện, chỉ có Uỷ ban hành
chính. Uỷ ban hành chính bộ do Hội đồng các tỉnh và thành phố bầu ra. Uỷ ban
hành chính huyện do Hội đồng các xã bầu ra.
Điều thứ 59
Hội đồng nhân dân quyết nghị về những
vấn đề thuộc địa phương mình. Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị
của các cấp trên.
Uỷ ban hành chính có trách nhiệm:
A) Thi hành các mệnh lệnh của cấp
trên.
B) Thi hành các nghị quyết của Hội
đồng nhân dân địa phương mình sau khi được cấp trên chuẩn y.
C) Chỉ huy công việc hành chính trong
địa phương.
Điều thứ 60
Uỷ ban hành chính chịu trách nhiệm
đối với cấp trên và đối với Hội đồng nhân dân địa phương mình.
Điều thứ 61
Nhân viên Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
hành chính có thể bị bãi miễn.
Cách thức bãi miễn sẽ do luật định.
Điều thứ 62
Một đạo luật sẽ định rõ những chi
tiết tổ chức các Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính.
CHƯƠNG VI
CƠ QUAN TƯ PHÁP
Điều thứ 63
Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà gồm có:
A) Toà án tối cao.
B) Các toà án phúc thẩm.
C) Các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp.
Điều thứ 64
Các viên thẩm phán đều do Chính phủ
bổ nhiệm.
Điều thứ 65
Trong khi xử việc hình thì phải có
phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết
định với thẩm phán nếu là việc đại hình.
Điều thứ 66
Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng
nói của mình trước Toà án.
Điều thứ 67
Các phiên toà án đều phải công khai,
trừ những trường hợp đặc biệt.
Người bị cáo được quyền tự bào chữa
lấy hoặc mượn luật sư.
Điều thứ 68
Cấm không được tra tấn, đánh đập,
ngược đãi những bị cáo và tội nhân.
Điều thứ 69
Trong khi xét xử, các viên thẩm phán
chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp.
CHƯƠNG VII
SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
Điều thứ 70
Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức
sau đây:
A) Do hai phần ba tổng số nghị viên
yêu cầu.
B) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo
những điều thay đổi.
C) Những điều thay đổi khi đã được
Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.
|