|
LỜI NÓI ĐẦU
Trải qua mấy
nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh
dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa,
kiên cường bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam.
Từ năm 1930,
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và
rèn luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ
hy sinh, làm Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ
Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Tiếp đó,
suốt mấy chục năm, nhân dân các dân tộc nước ta đã liên tục chiến đấu, với sự
giúp đỡ quý báu của bè bạn trên thế giới, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa và
các nước láng giềng, lập nên những chiến công oanh liệt, đặc biệt là chiến dịch
Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh thắng hai cuộc chiến tranh
xâm lược của thực dân và đế quốc, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, hoàn
thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Ngày 2 tháng 7 năm 1976 Quốc hội nước
Việt Nam thống nhất đã quyết định đổi tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam; cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ra sức xây dựng đất
nước, kiên cường bảo vệ Tổ quốc đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế.
Qua các thời kỳ
kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và
Hiến pháp năm 1980.
Từ năm 1986 đến
nay, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng
sản Việt Nam đề xướng đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Quốc
hội quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và
nhiệm vụ mới.
Hiến pháp này
quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các
cơ quan Nhà nước, thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ,
Nhà nước quản lý.
Dưới ánh sáng
của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân Việt Nam
nguyện đoàn kết một lòng, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước,
thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác với
tất cả các nước, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp, giành những thắng lợi to lớn
hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
CHƯƠNG I
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ
Điều 1
Nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời.
Điều 2
Nhà nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.
Điều 3
Nhà nước bảo đảm
và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi
hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; xây dựng đất nước giàu
mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
Điều 4
Đảng cộng sản
Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành
quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ
nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã
hội.
Mọi tổ chức của
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Điều 5
Nhà nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh
sống trên đất nước Việt Nam.
Nhà nước thực
hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi
hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
Các dân tộc có
quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong
tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.
Nhà nước thực
hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.
Điều 6
Nhân dân sử dụng
quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại
diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách
nhiệm trước nhân dân.
Quốc hội, Hội
đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ.
Điều 7
Việc bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân tiến hành theo nguyên tắc phổ thông,
bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Đại biểu Quốc
hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri
hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín
nhiệm của nhân dân.
Điều 8
Các cơ quan Nhà
nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân
dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của
nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa
quyền, tham nhũng.
Điều 9
Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về
chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền
nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động
viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp
luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên
chức Nhà nước.
Nhà nước tạo
điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.
Điều 10
Công đoàn là tổ
chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ
quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của
cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà
nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ
chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Điều 11
Công dân thực
hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và
xã hội, có trách nhiệm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, tổ chức đời sống
công cộng.
Điều 12
Nhà nước quản lý
xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các cơ quan Nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân
phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống
các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật.
Mọi hành động
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công
dân đều bị xử lý theo pháp luật.
Điều 13
Tổ quốc Việt Nam
là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.
Mọi âm mưu và
hành động chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
đều bị nghiêm trị theo pháp luật.
Điều 14
Nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu
và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị
và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các
bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các
nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng; tích cực ủng hộ và góp phần vào
cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội.
CHƯƠNG II
CHẾ ĐỘ KINH TẾ
Điều 15
Nhà nước phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu
toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập
thể là nền tảng.
Điều 16
Mục đích chính
sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt
hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng
lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế: kinh tế quốc
doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản
Nhà nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, mở
rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới.
Điều 17
Đất đai, rừng
núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm
lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp,
công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ
thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy
định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.
Điều 18
Nhà nước thống
nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng
mục đích và có hiệu quả.
Nhà nước giao
đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.
Tổ chức và cá
nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất,
được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật.
Điều 19
Kinh tế quốc
doanh được củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành và lĩnh vực then
chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
Cơ sở kinh tế
quốc doanh được quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sản xuất, kinh
doanh có hiệu quả.
Điều 20
Kinh tế tập thể
do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới
nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi.
Nhà nước tạo
điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.
Điều 21
Kinh tế cá thể,
kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được
thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành,
nghề có lợi cho quốc kế dân sinh.
Kinh tế gia đình
được khuyến khích phát triển.
Điều 22
Các cơ sở sản
xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ
đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được
Nhà nước bảo hộ.
Doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh
tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Điều 23
Tài sản hợp pháp
của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá.
Trong trường hợp
thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước
trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo
thời giá thị trường.
Thể thức trưng
mua, trưng dụng do luật định.
Điều 24
Nhà nước thống
nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức
quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng
độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước.
Điều 25
Nhà nước khuyến
khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp
với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp
pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước
ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá.
Nhà nước tạo
điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước.
Điều 26
Nhà nước thống
nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách; phân
công trách nhiệm và phân cấp quản lý Nhà nước giữa các ngành, các cấp; kết hợp
lợi ích của cá nhân, của tập thể với lợi ích của Nhà nước.
Điều 27
Mọi hoạt động
kinh tế, xã hội và quản lý Nhà nước phải thực hành chính sách tiết kiệm.
Điều 28
Mọi hoạt động
sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân,
làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và
của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.
Nhà nước có
chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng.
Điều 29
Cơ quan Nhà
nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực
hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo
vệ môi trường.
Nghiêm cấm mọi
hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường.
CHƯƠNG III
VĂN HÓA, GIÁO DỤC, KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ
Điều 30
Nhà nước và xã
hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế
thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy
mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân.
Nhà nước thống
nhất quản lý sự nghiệp văn hoá. Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hoá phản
động, đồi trụy; bài trừ mê tín, hủ tục.
Điều 31
Nhà nước tạo
điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và
làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia
đình có văn hóa, hạnh phúc, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa,
có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác với các dân tộc trên thế
giới.
Điều 32
Văn học, nghệ
thuật góp phần bồi dưỡng nhân cách và tâm hồn cao đẹp của người Việt Nam.
Nhà nước đầu tư
phát triển văn hoá, văn học, nghệ thuật, tạo điều kiện để nhân dân được thưởng
thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị; bảo trợ để phát triển các
tài năng sáng tạo văn hóa, nghệ thuật.
Nhà nước phát
triển các hình thức đa dạng của hoạt động văn học, nghệ thuật, khuyến khích các
hoạt động văn học, nghệ thuật quần chúng.
Điều 33
Nhà nước phát
triển công tác thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản,
thư viện và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Nghiêm cấm những hoạt động
văn hoá, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và
lối sống tốt đẹp của người Việt Nam.
Điều 34
Nhà nước và xã
hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hoá dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn,
bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử,
cách mạng, các di sản văn hoá, các công trình nghệ thuật, các danh lam, thắng
cảnh.
Nghiêm cấm các
hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật
và danh lam, thắng cảnh.
Điều 35
Giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu.
Nhà nước phát
triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Mục tiêu của
giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào
dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giầu nước mạnh, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Điều 36
Nhà nước thống
nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế
hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng.
Nhà nước phát
triển cân đối hệ thống giáo dục: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục
nghề nghiêp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá nạn
mù chữ; phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo
dục khác.
Nhà nước ưu tiên
đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác.
Nhà nước thực
hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc
thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn.
Các đoàn thể
nhân dân, trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội,
các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh
niên, thiếu niên và nhi đồng.
Điều 37
Khoa học và công
nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
Nhà nước xây
dựng và thực hiện chính sách khoa học, công nghệ quốc gia; xây dựng nền khoa
học, công nghệ tiên tiến; phát triển đồng bộ các ngành khoa học nhằm xây dựng
luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách và pháp luật, đổi mới
công nghệ, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm
chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế; góp phần bảo đảm quốc phòng, an
ninh quốc gia.
Điều 38
Nhà nước đầu tư
và khuyến khích tài trợ cho khoa học bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, ưu tiên cho
những hướng khoa học, công nghệ mũi nhọn; chăm lo đào tạo và sử dụng hợp lý đội
ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật nhất là những người có trình độ cao, công nhân
lành nghề và nghệ nhân; tạo điều kiện để các nhà khoa học sáng tạo và cống hiến;
phát triển nhiều hình thức tổ chức, hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn nghiên
cứu khoa học với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa
nghiên cứu khoa học, đào tạo với sản xuất, kinh doanh.
Điều 39
Nhà nước đầu tư,
phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, huy
động và tổ chức mọi lực lượng xã hội xây dựng và phát triển nền y học Việt Nam
theo hướng dự phòng; kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh; phát triển và kết hợp y
dược học cổ truyền với y dược học hiện đại; kết hợp phát triển y tế Nhà nước với
y tế nhân dân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm
sóc sức khoẻ.
Nhà nước ưu tiên
thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào miền núi và dân tộc thiểu
số.
Nghiêm cấm tổ
chức và tư nhân chữa bệnh, sản xuất, buôn bán thuốc chữa bệnh trái phép gây tổn
hại cho sức khoẻ của nhân dân.
Điều 40
Nhà nước, xã
hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em; thực
hiện chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình.
Điều 41
Nhà nước và xã
hội phát triển nền thể dục, thể thao dân tộc, khoa học và nhân dân.
Nhà nước thống
nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao; quy định chế độ giáo dục
thể chất bắt buộc trong trường học; khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình
thức tổ chức thể dục, thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần
thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, chú
trọng hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao.
Điều 42
Nhà nước và xã
hội phát triển du lịch, mở rộng hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế.
Điều 43
Nhà nước mở rộng
giao lưu và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực văn hoá, thông tin, văn học, nghệ
thuật, khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao.
CHƯƠNG IV
BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Điều 44
Bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân.
Nhà nước củng cố
và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân nòng cốt là các lực
lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững
chắc Tổ quốc.
Cơ quan Nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc
phòng và an ninh do pháp luật quy định.
Điều 45
Các lực lượng vũ
trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ
sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa và những thành quả của cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước.
Điều 46
Nhà nước xây
dựng quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây
dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ hùng hậu trên cơ sở kết hợp xây
dựng với bảo vệ Tổ quốc, kết hợp sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân với
sức mạnh của toàn dân, kết hợp sức mạnh truyền thống đoàn kết dân tộc chống
ngoại xâm với sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Điều 47
Nhà nước xây
dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, dựa
vào nhân dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia,
trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm sự ổn định chính trị và các quyền tự do, dân
chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản xã hội chủ
nghĩa, đấu tranh phòng ngừa và chống các loại tội phạm.
Điều 48
Nhà nước phát
huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục
quốc phòng và an ninh cho toàn dân, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chính
sách hậu phương quân đội, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm trang bị cho
lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, bảo
đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và chiến sĩ, công nhân, nhân viên
quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng
cường khả năng bảo vệ đất nước.
CHƯƠNG V
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
Điều 49
Công dân nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.
Điều 50
ở nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế,
văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định
trong Hiến pháp và luật.
Điều 51
Quyền của công
dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước bảo đảm
các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà
nước và xã hội.
Quyền và nghĩa
vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.
Điều 52
Mọi công dân đều
bình đẳng trước pháp luật.
Điều 53
Công dân có
quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung
của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà
nước tổ chức trưng cầu ý dân.
Điều 54
Công dân, không
phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn
hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử
và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân
dân theo quy định của pháp luật.
Điều 55
Lao động là
quyền và nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước và xã
hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động.
Điều 56
Nhà nước ban
hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động.
Nhà nước quy
định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm
xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích
phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.
Điều 57
Công dân có
quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Điều 58
Công dân có
quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư
liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức
kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều
17 và Điều 18.
Nhà nước bảo hộ
quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.
Điều 59
Học tập là quyền
và nghĩa vụ của công dân.
Bậc tiểu học là
bắt buộc, không phải trả học phí.
Công dân có
quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức.
Học sinh có năng
khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng.
Nhà nước có
chính sách học phí, học bổng.
Nhà nước và xã
hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn hoá và học nghề phù hợp.
Điều 60
Công dân có
quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ
thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia
các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công
nghiệp.
Điều 61
Công dân có
quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ.
Nhà nước quy
định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí.
Công dân có
nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng.
Nghiêm cấm sản
xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất
ma tuý khác. Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã
hội nguy hiểm.
Điều 62
Công dân có
quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật. Quyền lợi của người thuê nhà
và người có nhà cho thuê được bảo hộ theo pháp luật.
Điều 63
Công dân nữ và
nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia
đình.
Nghiêm cấm mọi
hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ.
Lao động nữ và
nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế
độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền
nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp
luật.
Nhà nước và xã
hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai
trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ
và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện
cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn
phận của người mẹ.
Điều 64
Gia đình là tế
bào của xã hội.
Nhà nước bảo hộ
hôn nhân và gia đình.
Hôn nhân theo
nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
Cha mẹ có trách
nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và
chăm sóc ông bà, cha mẹ.
Nhà nước và xã
hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con.
Điều 65
Trẻ em được gia
đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.
Điều 66
Thanh niên được
gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát
triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công
dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và
bảo vệ Tổ quốc.
Điều 67
Thương binh,
bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước.
Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp
với sức khoẻ và có đời sống ổn định.
Những người và
gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc.
Người già, người
tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ.
Điều 68
Công dân có
quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước
ngoài về nước theo quy định của pháp luật.
Điều 69
Công dân có
quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp,
lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.
Điều 70
Công dân có
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn
giáo đều bình đẳng trước pháp luật.
Những nơi thờ tự
của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.
Không ai được
xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm
trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.
Điều 71
Công dân có
quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức
khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
Không ai bị bắt,
nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện
kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người
phải đúng pháp luật.
Nghiêm cấm mọi
hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân.
Điều 72
Không ai bị coi
là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có
hiệu lực pháp luật.
Người bị bắt, bị
giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại
về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam
giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.
Điều 73
Công dân có
quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.
Không ai được tự
ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp
luật cho phép.
Thư tín, điện
thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc khám xét
chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do
người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật.
Điều 74
Công dân có
quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc
làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị
vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.
Việc khiếu nại,
tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật
quy định.
Mọi hành vi xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân
phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi
thường về vật chất và phục hồi danh dự.
Nghiêm cấm việc
trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu
khống, vu cáo làm hại người khác.
Điều 75
Nhà nước bảo hộ
quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Nhà nước tạo
điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình
và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.
Điều 76
Công dân phải
trung thành với Tổ quốc.
Phản bội Tổ quốc
là tội nặng nhất.
Điều 77
Bảo vệ Tổ quốc
là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.
Công dân phải
làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân.
|