|

Vừa
mới ra đời, nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa ở vào một tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc”. Vận
mệnh của Tổ quốc, nền độc
lập của dân tộc vừa mới giành
được đang đứng trước nguy cơ mất
còn. Vì vậy, ngày
3-9-1945, trong phiên họp đầu
tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch
đã xác định, một trong những
nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ
là phải xây dựng cho được một
bản Hiến pháp. Người chỉ rõ:
“Trước chúng ta đã bị chế độ
quân chủ chuyên chế cai trị, rồi
đến chế độ thực dân không kém
phần chuyên chế, nên nước ta
không có hiến pháp. Nhân dân ta
không được hưởng quyền tự do dân
chủ. Chúng ta phải có một hiến
pháp dân chủ"1
Tháng
11-1945, bản Dự án Hiến pháp của
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
đã được Chính phủ soạn thảo và
được công bố để lấy ý kiến các
chính giới. Uỷ ban kiến quốc của
Chính phủ cũng đã tự nghiên cứu
và đưa ra một Dự thảo Hiến pháp.
Ngày 2-3-1946, tại kỳ họp thứ
nhất, Quốc hội khóa I,
Quốc hội đã bầu Ban Dự thảo Hiến
pháp gồm 11 người: Trần Duy Hưng,
Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Cù
Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh
Bá Nhung, Trần Tấn Thọ, Nguyễn
Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm
Gia Đỗ, Nguyễn Thị Thục Viên.
Nhiệm vụ
của Ban là tiếp tục nghiên cứu
Dự thảo Hiến pháp để phiên họp
sau đem trình trước Ban Thường
trực để Ban Thường trực trình
Quốc hội. Căn cứ vào bản Dự án
của Chính phủ và đối chiếu với
bản Dự thảo của Uỷ ban kiến quốc,
tập hợp những kiến nghị phong
phú của toàn dân và tham khảo
kinh nghiệm soạn Hiến pháp của
các nước ở châu á, châu Âu, Ban
Dự thảo Hiến pháp của Quốc hội
đã soạn thảo một Dự án Hiến pháp
để trình Quốc hội.
Trong
phiên họp ngày 29-10-1946, Ban
Dự thảo Hiến pháp của Quốc hội
được mở rộng thêm 10 vị đại biểu
cho các nhóm, đại biểu trung lập,
đại biểu Nam Bộ, đại biểu đồng
bào dân tộc thiểu số để tham gia
tu bổ thêm bản Dự án.
Tại kỳ họp
thứ hai Quốc hội khóa I, từ ngày
28-10 đến ngày 9-11-1946, lần
đầu tiên Quốc hội Việt Nam thực
hiện quyền lập hiến. Từ ngày
2-11-1946, Quốc hội bắt đầu thảo
luận về Dự án Hiến pháp. Các đại
biểu của các nhóm đảng trong
Quốc hội đã lần lượt phát biểu ý
kiến. Các vị đại biểu của các
nhóm đều đã nêu ra những ưu điểm
của Dự án Hiến pháp, đóng góp
thêm một số khía cạnh cụ thể và
đi đến thống nhất nội dung của
Dự án. Sau nhiều buổi thảo luận
và tranh luận sôi nổi, sửa đổi,
bổ sung cho từng điều cụ thể,
ngày 9-11-1946, Quốc hội đã biểu
quyết thông qua Hiến pháp của
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,
Hiến pháp 1946 với sự nhất trí
của 240/242 đại biểu dự họp.
Tuy bản
Hiến pháp đã được thông qua,
nhưng do hoàn cảnh chiến tranh
đang lan rộng, cho nên Quốc hội
đã biểu quyết chưa ban hành Hiến
pháp bằng một sắc lệnh và chưa
thi hành Hiến pháp ngay, việc
bầu Nghị viện nhân dân theo quy
định của Hiến pháp chưa thể tổ
chức được.
Vì vậy,
Quốc hội tiếp tục thảo luận để
xác định nhiệm vụ của Ban Thường
trực Quốc hội và cuối cùng đã
nhất trí giao cho Ban Thường
trực Quốc hội phối hợp với Chính
phủ để quy định việc thi hành
Hiến pháp. Trong thời kỳ chưa
thi hành Hiến pháp thì Chính phủ
phải dựa vào những nguyên tắc đã
định trong Hiến pháp để ban hành
các đạo luật. Với các quyết định
trên, Quốc hội tiếp tục hoạt
động, gánh vác trách nhiệm mới,
làm nhiệm vụ lập hiến và cả
nhiệm vụ lập pháp.
Hiến pháp
1946 gồm có Lời nói đầu, 7
chương và 70 điều. Trong đó,
Chương I quy định về chính thể;
Chương II quy định về nghĩa vụ
và quyền lợi của công dân;
Chương III quy định về nghị viện
nhân dân; Chương IV quy định về
Chính phủ; Chương V quy định về
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành
chính; Chương VI quy định về cơ
quan tư pháp; và Chương VII quy
định về sửa đổi Hiến pháp.
Đặc điểm
cơ bản của Hiến pháp năm 1946
được thể hiện trong 3 nguyên tắc
cơ bản, đó là: đoàn kết toàn dân,
không phân biệt giống nòi, gái
trai, giai cấp, tôn giáo; đảm
bảo các quyền lợi dân chủ; thực
hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng
suốt của nhân dân.
Điều luật
thể hiện rõ nhất nguyên tắc đoàn
kết toàn dân là Điều 1 của Hiến
pháp, đó là: “Nước Việt Nam là
một nước dân chủ cộng hoà. Tất
cả quyền bính trong nước là của
toàn thể nhân dân Việt Nam,
không phân biệt nòi giống, gái
trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn
giáo”. Đây là một bước tiến lớn
trong lịch sử phát triển của Nhà
nước Việt Nam: lần đầu tiên một
Nhà nước dân chủ nhân dân được
thành lập ở nước ta, với hình
thức chính thể là cộng hoà.
Hiến pháp
năm 1946 chú trọng đặc biệt đến
việc bảo đảm quyền lợi dân chủ
cho nhân dân. Hiến pháp đã xây
dựng một chương riêng về chế
định công dân. Lần đầu tiên
trong lịch sử Việt Nam, nhân dân
được bảo đảm các quyền tự do dân
chủ. Điều 10 Hiến pháp ghi nhận:
“Công dân Việt Nam có quyền:
- Tự do
ngôn luận,
- Tự do
xuất bản,
- Tự do tổ
chức và hội họp,
- Tự do
tín ngưỡng,
- Tự do cư
trú, đi lại trong nước và ra
nước ngoài”. Đây cũng là lần đầu
tiên Nhà nước Việt Nam ghi nhận
phụ nữ ngang quyền với nam giới
trong mọi phương diện và mọi
công dân đều bình đẳng trước
pháp luật
Hiến pháp
năm 1946 khẳng định Nghị viện
nhân dân (Quốc hội) là cơ quan
có quyền cao nhất của nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà do công dân
Việt Nam bầu ra và có nhiệm vụ
giải quyết mọi vấn đề chung cho
toàn quốc, đặt ra các pháp luật,
biểu quyết ngân sách, chuẩn y
các hiệp ước mà Chính phủ ký với
nước ngoài.
Nghị viên
không chỉ thay mặt cho địa
phương mình mà còn thay mặt cho
toàn thể nhân dân. Nghị viện
nhân dân có quyền bỏ phiếu bầu
Chủ tịch nước; bầu cử Thủ tướng
và các bộ trưởng và chế độ trách
nhiệm của Thủ tướng, bộ trưởng
trước Nghị viện nhân dân.
Hiến pháp
năm 1946 quy định Nghị viện nhân
dân bầu một Nghị trưởng, hai Phó
Nghị trưởng, 12 ủy viên chính
thức, 3 ủy viên dự khuyết để lập
thành Ban Thường vụ.
Đánh giá về ý nghĩa của việc ban
hành bản Hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“... bản Hiến pháp đầu tiên
trong lịch sử nước nhà... là một
vết tích lịch sử Hiến pháp đầu
tiên trong cõi á Đông... Bản
Hiến pháp đó chưa hoàn toàn
nhưng nó đã làm nên theo một
hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó
tuyên bố với thế giới nước Việt
Nam đã độc lập. Hiến pháp đó
tuyên bố với thế giới biết dân
tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền
tự do… phụ nữ Việt Nam đã được
đứng ngang hàng với đàn ông để
được hưởng chung mọi quyền tự do
của một công dân. Hiến pháp đó
đã nêu một tinh thần đoàn kết
chặt chẽ giữa các dân tộc Việt
Nam và một tinh thần liêm khiết,
công bình của các giai
cấp”1.
Hiến pháp
năm 1946 đánh dấu thắng lợi lịch
sử đã giành được trong Cách mạng
Tháng Tám, xác lập Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà, phát triển
cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân, phục vụ cuộc kháng chiến
chống Pháp. Mục tiêu chiến lược
của Hiến pháp là hoàn thành độc
lập dân tộc, xây dựng và phát
huy dân chủ nhân dân, chuẩn bị
tiến lên làm cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Hiến pháp 1946 là bản
hiến pháp đầu tiên của nước ta,
là một bản hiến pháp dân chủ,
tiến bộ không kém một bản hiến
pháp nào trên thế giới. Nó là
bản hiến pháp mẫu mực trên nhiều
phương diện.
|