|
Từ
Quốc dân Đại hội đến cuộc tổng tuyển cử đầu tiên
ngày 6-1-1946
Tháng 10-1944, trước sự chuyển
biến của tình hình thế giới có lợi cho sự nghiệp
giải phóng của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã gửi thư cho quốc dân đồng bào để thông báo
chủ trương triệu tập Đại hội đại biểu quốc dân.
Trong thư có đoạn viết: "... chúng ta phải có một
cái cơ cấu đại biểu... do một cuộc Toàn quốc đại
biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và
các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. Một cơ
cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì
lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì
giao thiệp với các hữu bang"1
Giữa năm 1945, cao trào kháng Nhật cứu nước đang
diễn ra sôi nổi, cơ hội ngàn năm có một cho nhân
dân ta giải phóng dân tộc đang đến gần, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ thị phải gấp rút triệu tập Đại
hội đại biểu quốc dân để thành lập Chính phủ lâm
thời cách mạng của nước Việt Nam. Người cân nhắc
rất kỹ giá trị của thời gian, mỗi ngày, mỗi giờ
trong lúc thời cuộc đại chuyển biến. Lúc bấy giờ,
theo Người, chậm trễ là bỏ lỡ nhiều cơ hội thuận
lợi.
Vì vậy, giữa tháng 8-1945, khi chủ nghĩa phát xít
tuyên bố đầu hàng các nước Đồng minh không điều
kiện và lực lượng cách mạng Việt Nam đã phát triển
mạnh mẽ trong cả nước, trước thời cơ có một không
hai để giải phóng dân tộc, Hội nghị toàn quốc của
Đảng đã họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) từ ngày 13
đến ngày 15-8-1945 để quyết định phát động lệnh
Tổng khởi nghĩa và Quốc dân đại hội cũng đã được
tiến hành trong bối cảnh đó.
Chiều ngày 16-8-1945, tại đình Tân Trào (huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang), Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Tổng bộ Việt Minh đã khai mạc Đại hội đại biểu
quốc dân (nay gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào).
Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu đại diện cho cả
3 miền Bắc - Trung - Nam, đại diện cho các ngành,
các giới, các dân tộc, các đảng phái chính trị,
các đoàn thể cứu quốc và một số kiều bào ta ở nước
ngoài (Thái Lan và Lào). Đại hội tiến hành trong
khi lệnh Tổng khởi nghĩa vừa phát đi, cho nên phải
họp khẩn trương, “chớp nhoáng” để các đại biểu có
thể về cùng các chiến sĩ ở địa phương lãnh đạo
khởi nghĩa.
Đại hội đại biểu quốc dân đã có ba quyết định lớn:
- Nhất trí tán thành chủ trương phát động Tổng
khởi nghĩa của Đảng và của Tổng bộ Việt Minh;
- Thông qua 10 chính sách của Việt Minh và hiệu
triệu đồng bào tích cực phấn đấu thực hiện, trong
đó, điểm mấu chốt đầu tiên là giành lấy chính
quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
trên nền tảng hoàn toàn độc lập;
- Thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt
Nam
do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Trần Huy Liệu làm Phó
Chủ tịch. Thường trực Uỷ ban gồm 5 người: Hồ Chí
Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương
Bằng và Dương Đức Hiền.
Đại hội bế mạc vào ngày 17-8-1945. Trong buổi lễ
bế mạc, ra mắt quốc dân tại đình Tân Trào, thay
mặt Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đọc lời tuyên thệ: “Chúng tôi là
những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Uỷ ban
dân tộc giải phóng để lãnh đạo cuộc cách mạng của
nhân dân. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc,
chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến
lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại
độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu
cuối cùng, không lùi bước"2
Quốc dân Đại hội Tân Trào là một tiến bộ lớn trong
lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc ta, như
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đánh giá. Đây là một
Đại hội mang tầm vóc lịch sử của một Quốc hội, một
cơ quan quyền lực nhà nước lâm thời của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Uỷ ban dân tộc giải phóng
(tức Chính phủ cách mạng lâm thời) của nước Việt
Nam mới được Quốc dân Đại hội bầu ra ngày
16-8-1945 là người đại diện chân chính, hợp pháp
duy nhất của nhân dân Việt Nam để thực hiện những
quyết sách lớn của công cuộc cứu nước và kiến
quốc. Đây là thắng lợi lớn của nghệ thuật chớp
đúng thời cơ của Tổng bộ Việt Minh, của Chủ tịch
Hồ Chí Minh; là sự sáng tạo độc đáo của Người
trong việc vận dụng và thực thi từng bước tư tưởng
dân quyền ngay trong tiến trình đấu tranh giành
quyền độc lập bằng hình thức tổ chức Quốc dân Đại
hội để thông qua quyết sách chuyển xoay vận nước
bằng Tổng khởi nghĩa, xóa bỏ chế độ nô dịch thực
dân, thi hành chính sách 10 điểm của Việt Minh,
đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho một chế độ mới.
Quốc dân Đại hội Tân Trào họp ngày 16 và
17-8-1945, là mốc son chói lọi mãi mãi được ghi
vào lịch sử vẻ vang của dân tộc và có giá trị vĩnh
hằng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định
khi nói về sự kiện này:
“Vừa đây Việt Minh lại triệu tập "Việt Nam quốc
dân đại biểu Đại hội", cử ra Uỷ ban dân tộc giải
phóng Việt Nam để lãnh đạo toàn quốc nhân dân kiên
quyết đấu tranh kỳ cho nước được độc lập.
Đó là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử tranh đấu
giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay.
Đó là một điều khiến cho đồng bào ta phấn khởi và
riêng tôi hết sức vui mừng"3
Như vậy, kể từ Bản yêu sách của nhân dân An Nam
(năm 1919) đến Quốc dân Đại hội Tân Trào (năm
1945), tư tưởng về xây dựng một nhà nước pháp
quyền trong Hồ Chí Minh đã được cụ thể hóa từng
bước, với những việc làm cụ thể từ thấp đến cao,
từng bước chuẩn bị tiền đề từ nhận thức đến hành
động để đi đến thắng lợi cuối cùng, đó là bước đi
hợp quy luật, điều này đã trở thành bài học quý
báu cần được vận dụng sáng tạo trong sự nghiệp đổi
mới nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
1. HCM toàn
tập, sdd, t.3, tr 505
2. HCM,
biên niên tiểu sử,
Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1993, t.2, tr 263
|