Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Bình đẳng - Đoàn kết - Tương trợ và vai trò thực hiện

của Hội đồng Dân tộc

Trịnh Hưng Thịnh

Vụ trưởng Vụ Dân tộc- VPQH

 

"Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị chia rẽ dân tộc".

Đó là quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc, ghi tại Điều 5 của Hiến pháp năm 1992.

60 năm trước - Năm 1946 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập - cơ quan lập pháp đầu tiên của nền cộng hoà dân chủ nhân dân ở nước ta. Với trọng trách của mình, ngay từ những ngày đầu hoạt động Quốc hội đã quan tâm đến vấn đề dân tộc. Thông qua Hiến pháp năm 1946, Quốc hội đã khẳng định "Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung" (Điều 8 - Hiến pháp 1946). Từ năm 1946 đến năm 1959 Quốc hội chưa thành lập cơ quan dân tộc của Quốc hội, nhưng đã ban hành nhiều chủ trương, Nghị quyết về dân tộc. Các chủ trương, nghị quyết đó đều lấy tư tưởng Bình đẳng - Đoàn kết - Tương trợ giữa các dân tộc làm cơ sở cốt lõi.

Năm 1960, sau khi có Hiến pháp năm 1959 với cuộc bầu cử Quốc hội khoá II, cơ quan dân tộc đầu tiên của Quốc hội được thành lập với tên gọi "Ủy ban Dân tộc của Quốc hội", ông Chu Văn Tấn, dân tộc Nùng, đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên được Quốc hội bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Quốc hội. Hiện thân cơ quan dân tộc của Quốc hội đã là biểu tượng đầu tiên của sự bình đẳng, đoàn kết dân tộc. Tất cả các dân tộc có đại biểu trong Quốc hội đều có thành viên trong Ủy ban Dân tộc của Quốc hội. Số lượng của đại biểu dân tộc thiểu số trong Quốc hội và số lượng thành viên Ủy ban Dân tộc ngày một tăng dần, đến khóa VI Ủy ban Dân tộc đã có 27 thành viên đại diện cho 22 dân tộc trong cả nước.

Tên gọi Ủy ban Dân tộc của Quốc hội được kéo dài 5 khoá (22 năm), từ 1960 đến 1981. Tổ chức và hoạt động của Ủy ban Dân tộc được quy định theo Hiến pháp 1959. Hoạt động của các thành viên Ủy ban Dân tộc trong cả 5 nhiệm kỳ đều kiêm nhiệm và chủ yếu là hoạt động ở các địa phương. Sinh hoạt tập thể Ủy ban được thực hiện tại các diễn đàn kỳ họp Quốc hội. Nhiệm vụ của Ủy ban Dân tộc được gắn với nhiệm vụ chung của Quốc hội, chủ yếu là hoạt động kiểm tra, đôn đốc thực hiện nghị quyết của Quốc hội và các chính sách dân tộc đã được ban hành. Bối cảnh lịch sử của thời kỳ này là việc thành lập các khu tự trị dân tộc, một chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc ở các vùng dân tộc và miền núi như:  Khu tự trị Thái - Mèo, khu tự trị Việt Bắc. Chính sách dân tộc, hoạt động của Quốc hội ở các vùng dân tộc và miền núi, mọi hoạt động của Ủy ban Dân tộc của Quốc hội đều lấy bình đẳng, đoàn kết dân tộc làm mục tiêu hàng đầu. Mục tiêu đoàn kết dân tộc gần như là một yêu cầu tuyệt đối trong việc thực thi các chính sách dân tộc ở các vùng dân tộc. Mọi hành vi kỳ thị chia rẽ dân tộc đều được xử lý nghiêm minh. Có nhiều chính sách dân tộc quan trọng ở thời kỳ này như chính sách đào tạo, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số, chính sách trong văn hoá, giáo dục... Trong kinh tế có các chính sách xây dựng hợp tác xã nông nghiệp miền núi; chính sách sản xuất tự cấp, tự túc lương thực, chính sách định canh, định cư...Nhờ có chính sách dân tộc đúng đắn, quán triệt được tư tưởng bình đẳng, đoàn kết dân tộc, cùng với hoạt động kiểm tra, đôn đốc của Quốc hội, của Ủy ban Dân tộc của Quốc hội mà chính sách dân tộc đã góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội và đời sống đồng bào dân tộc ở các vùng dân tộc và miền núi. Bình đẳng, đoàn kết dân tộc không những là mục tiêu của chính sách dân tộc mà còn là hành động trong việc thực thi chính sách dân tộc của Nhà nước ta, trong đó trực tiếp là các cơ quan dân tộc của Đảng, Chính phủ và Ủy ban Dân tộc của Quốc hội.

Năm 1981, Quốc hội khoá VII, Ủy ban Dân tộc của Quốc hội đổi tên thành "Hội đồng Dân tộc của Quốc hội". Hội đồng Dân tộc của Quốc hội là cơ quan hiến định trong hệ thống tổ chức chính trị của Nhà nước. Điều 91 Hiến pháp 1980 quy định "Quốc hội bầu ra Hội đồng Dân tộc". Hội đồng Dân tộc khoá VII có 40 thành viên, đại diện cho 33 dân tộc có mặt trong Quốc hội, trong đó 32 Đại biểu đại diện cho 32 dân tộc thiểu số và các vùng dân tộc trong cả nước. Ông Hoàng Trường Minh, dân tộc Tày, đại biểu Quốc hội tỉnh Lạng Sơn được Quốc hội bầu làm chủ tịch đầu tiên của Hội đồng Dân tộc. Các khoá tiếp theo thành phần dân tộc trong Quốc hội và thành viên Hội đồng Dân tộc tăng dần. Khoá XI đã có 34 thành phần dân tộc, trong đó 33 đại biểu là thành phần dân tộc thiểu số. Sự tăng dần của các đại biểu Quốc hội là dân tộc thiểu số và tăng dần số thành viên Hội đồng Dân tộc chính là kết quả của việc thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc về mặt chính trị trong Quốc hội.

Hoạt động của Thường trực và các Thành viên Hội đồng Dân tộc khoá VII và khoá VIII vẫn là kiêm nhiệm, Chủ tịch và 6 phó Chủ tịch hình thành bộ phận Thường trực, Chủ tịch có khoá là Ủy viên Hội đồng Nhà nước, có khoá là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Chủ tịch và Phó Chủ tịch thường trực lo các công việc chủ yếu của Hội đồng Dân tộc. Giúp việc cho bộ phận Thường trực và Hội đồng đã có bộ phận chuyên viên, chuyên theo dõi về dân tộc nằm trong Vụ Hội đồng Ủy ban thuộc Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước. Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Dân tộc đã được Luật hoá trong Luật Tổ chức Quốc hội và quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban. Nhiệm kỳ Quốc hội khoá VIII (1987 - 1992) đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Quốc hội và Hội đồng Dân tộc cũng bước vào thời kỳ đổi mới hoạt động. Đối với Hội đồng Dân tộc, với sự kiện chính trị quan trọng sau Đại hội Đảng toàn quốc  lần thứ VI, năm 1989 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 22 "Về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi". Sau đó, Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ đã ban hành quyết định 72 HĐBT Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Với Nghị quyết 22 của Bộ chính trị và Quyết định 72 HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, đây là lần đầu tiên Đảng có chủ trương  và Nhà nước có một chính sách dân tộc toàn diện, sâu sắc trên mọi lĩnh vực. Các chính sách cụ thể được ban hành theo tinh thần nghị quyết 22 của Bộ chính trị đã là nền tảng cơ bản mang tính chiến lược cho việc thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc. Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị còn là mốc quan trọng mở ra thời kỳ có nhiều hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc khoá VIII và các khoá tiếp theo. Sau này tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện các chính sách trong Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị đã có nhận xét: Nhờ Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc có bước chuyển biến rõ rệt được nâng cao hơn trước, nhiều mặt đã thực sự bình đẳng , hoà nhập với sự phát triển chung của cả nước, đồng bào các dân tộc phấn khởi, tin tưởng vào chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước. Cũng nhờ các chính sách cụ thể hoá Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị mà đoàn kết giữa các dân tộc cũng được củng cố và lớn mạnh hơn bao giờ hết. Đoàn kết dân tộc còn là kết quả của cả một quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước với tinh thần tương trợ, giúp đỡ nhau giữa các cộng đồng dân tộc.

Hội đồng dân tộc Khóa IX, hoạt động đổi mới đã có những thay đổi về chất. Tổ chức bộ  máy hoạt động, chức năng nhiệm vụ và các hoạt động chủ yếu không những được luật hóa mà còn được nâng lên thành lý luận qua nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuộc Hội thảo, một số hoạt động được mang tính chuyên môn hoá. Tổ chức của Hội đồng Dân tộc đã có bộ phận Thường trực Hội đồng chuyên trách (Chủ tịch và một Phó chủ tịch Thường trực chuyên trách), bốn Phó chủ tịch kiêm nhiệm, giúp việc, có một vụ chuyên môn nằm trong Văn phòng Quốc hội. Mục tiêu chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc được đặt ra với yêu cầu cao hơn, thực tiễn hơn trong tất cả các nhiệm vụ của Hội đồng Dân tộc và phải được thể hiện trong các chính sách dân tộc khi được ban hành. Nhiệm vụ hàng đầu của Hội đồng Dân tộc là hoạt động lập pháp. Mỗi khóa Hội đồng Dân tộc tham gia thẩm tra, tham gia đóng góp ý kiến vào các văn bản pháp luật ban hành có liên quan đến dân tộc phải thể hiện được tính bình đẳng dân tộc và đoàn kết dân tộc. Nhiệm kỳ Khóa IX với ý tưởng: Muốn thực hiện thành công  quan điểm của Đảng về bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc. Sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc phải được thể chế hoá bằng pháp luật. Vì vậy năm 1994, Hội đồng Dân tộc khoá IX đã đề xuất, kiến nghị xây dựng Luật Dân tộc, kiến nghị đã được Quốc hội đồng ý và Luật Dân tộc đã được soạn thảo. Với dự thảo của Luật Dân tộc, bình đẳng dân tộc, đoàn kết dân tộc được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục...

Cùng với việc đề xuất xây dựng Luật dân tộc, Hội đồng Dân tộc các khóa đã nhiều lần tổ chức giám sát việc thi hành luật: Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Giáo dục. Để thực hiện bình đẳng về kinh tế, Hội đồng Dân tộc đã tiến hành nhiều hoạt động khảo sát, giám sát để đề xuất các chính sách cụ thể. Kiến nghị qua giám sát của Hội đồng Dân tộc Khóa VIII đã góp phần quan trọng cho sự ra đời "Chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng lên miền núi", "Chính sách hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn"... Kiến nghị giám sát của Hội đồng Dân tộc Khóa IX đã góp phần quan trọng cho sư ra đời "Chính sách phát triển Kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên", "Chính sách phát triển KT - XH vùng Tây Bắc", kiến nghị qua giám sát của Hội đồng Dân tộc Khóa X đã trực tiếp thúc đẩy cho sự ra đời của "Chính sách phát triển KT - XH vùng đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa"... Kiến nghị qua giám sát của Hội đồng Dân tộc Khóa XI góp phần chuyển hóa chính sách của Chương trình 135 sang giai đoạn II của chính sách phát triển KT - XH vùng đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa thời kỳ 2006 - 2010.

Có thể khẳng định rằng với mong muốn thực hiện được định hướng của các chính sách  bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc, Hội đồng Dân tộc các khóa đã được quán triệt xuyên suốt trong mọi hoạt động của mình. Thực tiễn cho thấy thông qua hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc đã kiến nghị bổ sung và đóng góp phần không nhỏ để làm ra đời và điều chỉnh nhiều chính sách dân tộc quan trọng và những phát hiện sai sót, những uốn nắn xem xét qua giám sát của Hội đồng Dân tộc đã thực sự làm cho các chính sách dân tộc đảm bảo tính bình đẳng, đoàn kết dân tộc và phát huy hiệu quả trên thực tế. Giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc của Hội đồng Dân tộc những năm gần đây không những để đảm bảo sự bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc mà còn đảm bảo tính bình đẳng giữa các vùng, miền trong cả nước, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Kết quả cho thấy mức đầu tư của Nhà nước cho vùng dân tộc và miền núi ngày càng lớn. Tính đến năm 2001 đầu tư cho miền núi vùng dân tộc đã đạt tới mức 93.500 tỷ chiếm tới 12,5% vốn đầu tư của cả nước với dân số của các dân tộc thiểu số trên 13% dân số cả nước. Nhiều chính sách đầu tư được tập trung cho vùng dân tộc và miền núi để phát triển kinh tế. Chỉ có phát triển kinh tế, bình đẳng về kinh tế mới là cơ sở đảm bảo cho bình đẳng về chính trị, bình đẳng về văn hoá xã hội giữa các dân tộc và chỉ có phát triển kinh tế mới có cơ sở củng cố và phát triển bền vững khối đại đoàn kết dân tộc. Cũng nhờ phát triển về kinh tế, nhờ có khối đại đoàn kết dân tộc tình cảm tốt đẹp tương trợ giữa các dân tộc một truyền thống cao thượng đẹp đẽ của đại gia đình các dân tộc Việt Nam ta đã không ngừng tỏa sáng.

Với định hướng nhất quán của một chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc mà Đảng ta đã xác định ngay từ khi soạn thảo cương lĩnh đầu tiên. Tiếp đó được thể chế trong Hiến pháp  năm 1946 và các Hiến pháp sửa đổi sau này. Hội đồng Dân tộc nắm vững và quán triệt sâu sắc tư tưởng của chính sách trên. Sau 60 năm kể từ khi định hướng chính sách ra đời, ngày nay nước ta đã xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc. Sự bình đẳng giữa các dân tộc ở nước ta thể hiện tính ưu việt nhất trong chính sách dân tộc của Nhà nước ta, trong đó có sự đóng góp của Hội đồng Dân tộc, định hướng chính sách bình đẳng - đoàn kết - tương trợ giữa các dân tộc sẽ còn đồng hành mãi mãi với sự nghiệp cách mạng ở nước ta, mãi mãi với mọi hoạt động của Hội đồng Dân tộc, trong các nhiệm vụ quan trọng như xây dựng pháp luật, hoạt động giám sát và tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

 

Báo Người đại biểu nhân dân số 248, 250

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện