|
Bình đẳng - Đoàn kết -
Tương trợ và vai trò thực hiện
của Hội đồng Dân tộc
Trịnh Hưng Thịnh
Vụ trưởng Vụ Dân
tộc- VPQH
"Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn
kết tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi
hành vi kỳ thị chia rẽ dân tộc".
Đó là quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc,
ghi tại Điều 5 của Hiến pháp năm 1992.
60 năm trước -
Năm 1946 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
được thành lập - cơ quan lập pháp đầu tiên của
nền cộng hoà dân chủ nhân dân ở nước ta. Với
trọng trách của mình, ngay từ những ngày đầu
hoạt động Quốc hội đã quan tâm đến vấn đề dân
tộc. Thông qua Hiến pháp năm 1946, Quốc hội đã
khẳng định "Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi,
những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi
phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung"
(Điều 8 - Hiến pháp 1946). Từ năm 1946 đến năm
1959 Quốc hội chưa thành lập cơ quan dân tộc của
Quốc hội, nhưng đã ban hành nhiều chủ trương,
Nghị quyết về dân tộc. Các chủ trương, nghị
quyết đó đều lấy tư tưởng Bình đẳng - Đoàn kết -
Tương trợ giữa các dân tộc làm cơ sở cốt lõi.
Năm 1960, sau khi
có Hiến pháp năm 1959 với cuộc bầu cử Quốc hội
khoá II, cơ quan dân tộc đầu tiên của Quốc hội
được thành lập với tên gọi "Ủy ban Dân tộc của
Quốc hội", ông Chu Văn Tấn, dân tộc Nùng, đại
biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên được Quốc hội bầu
làm Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Quốc hội. Hiện
thân cơ quan dân tộc của Quốc hội đã là biểu
tượng đầu tiên của sự bình đẳng, đoàn kết dân
tộc. Tất cả các dân tộc có đại biểu trong Quốc
hội đều có thành viên trong Ủy ban Dân tộc của
Quốc hội. Số lượng của đại biểu dân tộc thiểu số
trong Quốc hội và số lượng thành viên Ủy ban Dân
tộc ngày một tăng dần, đến khóa VI Ủy ban Dân
tộc đã có 27 thành viên đại diện cho 22 dân tộc
trong cả nước.
Tên gọi Ủy ban
Dân tộc của Quốc hội được kéo dài 5 khoá (22
năm), từ 1960 đến 1981. Tổ chức và hoạt động của
Ủy ban Dân tộc được quy định theo Hiến pháp
1959. Hoạt động của các thành viên Ủy ban Dân
tộc trong cả 5 nhiệm kỳ đều kiêm nhiệm và chủ
yếu là hoạt động ở các địa phương. Sinh hoạt tập
thể Ủy ban được thực hiện tại các diễn đàn kỳ
họp Quốc hội. Nhiệm vụ của Ủy ban Dân tộc được
gắn với nhiệm vụ chung của Quốc hội, chủ yếu là
hoạt động kiểm tra, đôn đốc thực hiện nghị quyết
của Quốc hội và các chính sách dân tộc đã được
ban hành. Bối cảnh lịch sử của thời kỳ này là
việc thành lập các khu tự trị dân tộc, một chủ
trương quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực
hiện chính sách bình đẳng dân tộc ở các vùng dân
tộc và miền núi như: Khu tự trị Thái - Mèo, khu
tự trị Việt Bắc. Chính sách dân tộc, hoạt động
của Quốc hội ở các vùng dân tộc và miền núi, mọi
hoạt động của Ủy ban Dân tộc của Quốc hội đều
lấy bình đẳng, đoàn kết dân tộc làm mục tiêu
hàng đầu. Mục tiêu đoàn kết dân tộc gần như là
một yêu cầu tuyệt đối trong việc thực thi các
chính sách dân tộc ở các vùng dân tộc. Mọi hành
vi kỳ thị chia rẽ dân tộc đều được xử lý nghiêm
minh. Có nhiều chính sách dân tộc quan trọng ở
thời kỳ này như chính sách đào tạo, sử dụng cán
bộ dân tộc thiểu số, chính sách trong văn hoá,
giáo dục... Trong kinh tế có các chính sách xây
dựng hợp tác xã nông nghiệp miền núi; chính sách
sản xuất tự cấp, tự túc lương thực, chính sách
định canh, định cư...Nhờ có chính sách dân tộc
đúng đắn, quán triệt được tư tưởng bình đẳng,
đoàn kết dân tộc, cùng với hoạt động kiểm tra,
đôn đốc của Quốc hội, của Ủy ban Dân tộc của
Quốc hội mà chính sách dân tộc đã góp phần làm
thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội và đời sống
đồng bào dân tộc ở các vùng dân tộc và miền núi.
Bình đẳng, đoàn kết dân tộc không những là mục
tiêu của chính sách dân tộc mà còn là hành động
trong việc thực thi chính sách dân tộc của Nhà
nước ta, trong đó trực tiếp là các cơ quan dân
tộc của Đảng, Chính phủ và Ủy ban Dân tộc của
Quốc hội.
Năm 1981, Quốc
hội khoá VII, Ủy ban Dân tộc của Quốc hội đổi
tên thành "Hội đồng Dân tộc của Quốc hội". Hội
đồng Dân tộc của Quốc hội là cơ quan hiến định
trong hệ thống tổ chức chính trị của Nhà nước.
Điều 91 Hiến pháp 1980 quy định "Quốc hội bầu
ra Hội đồng Dân tộc". Hội đồng Dân tộc khoá
VII có 40 thành viên, đại diện cho 33 dân tộc có
mặt trong Quốc hội, trong đó 32 Đại biểu đại
diện cho 32 dân tộc thiểu số và các vùng dân tộc
trong cả nước. Ông Hoàng Trường Minh, dân tộc
Tày, đại biểu Quốc hội tỉnh Lạng Sơn được Quốc
hội bầu làm chủ tịch đầu tiên của Hội đồng Dân
tộc. Các khoá tiếp theo thành phần dân tộc trong
Quốc hội và thành viên Hội đồng Dân tộc tăng
dần. Khoá XI đã có 34 thành phần dân tộc, trong
đó 33 đại biểu là thành phần dân tộc thiểu số.
Sự tăng dần của các đại biểu Quốc hội là dân tộc
thiểu số và tăng dần số thành viên Hội đồng Dân
tộc chính là kết quả của việc thực hiện chính
sách bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc về mặt
chính trị trong Quốc hội.
Hoạt động của
Thường trực và các Thành viên Hội đồng Dân tộc
khoá VII và khoá VIII vẫn là kiêm nhiệm, Chủ
tịch và 6 phó Chủ tịch hình thành bộ phận Thường
trực, Chủ tịch có khoá là Ủy viên Hội đồng Nhà
nước, có khoá là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.
Chủ tịch và Phó Chủ tịch thường trực lo các công
việc chủ yếu của Hội đồng Dân tộc. Giúp việc cho
bộ phận Thường trực và Hội đồng đã có bộ phận
chuyên viên, chuyên theo dõi về dân tộc nằm
trong Vụ Hội đồng Ủy ban thuộc Văn phòng Quốc
hội và Hội đồng Nhà nước. Chức năng, nhiệm vụ
của Hội đồng Dân tộc đã được Luật hoá trong Luật
Tổ chức Quốc hội và quy chế hoạt động của Hội
đồng Dân tộc và các Ủy ban. Nhiệm kỳ Quốc hội
khoá VIII (1987 - 1992) đất nước bước vào thời
kỳ đổi mới, Quốc hội và Hội đồng Dân tộc cũng
bước vào thời kỳ đổi mới hoạt động. Đối với Hội
đồng Dân tộc, với sự kiện chính trị quan trọng
sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, năm 1989
Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 22 "Về một số chủ
trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã
hội miền núi". Sau đó, Hội đồng Bộ trưởng nay là
Chính phủ đã ban hành quyết định 72 HĐBT Về một
số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh
tế - xã hội miền núi. Với Nghị quyết 22 của Bộ
chính trị và Quyết định 72 HĐBT của Hội đồng Bộ
trưởng, đây là lần đầu tiên Đảng có chủ trương
và Nhà nước có một chính sách dân tộc toàn diện,
sâu sắc trên mọi lĩnh vực. Các chính sách cụ thể
được ban hành theo tinh thần nghị quyết 22 của
Bộ chính trị đã là nền tảng cơ bản mang tính
chiến lược cho việc thực hiện chính sách bình
đẳng, đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc.
Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị còn là mốc quan
trọng mở ra thời kỳ có nhiều hoạt động giám sát
của Hội đồng Dân tộc khoá VIII và các khoá tiếp
theo. Sau này tổng kết, đánh giá kết quả thực
hiện các chính sách trong Nghị quyết 22 của Bộ
Chính trị đã có nhận xét: Nhờ Nghị quyết 22 của
Bộ Chính trị đời sống vật chất và tinh thần của
đồng bào dân tộc có bước chuyển biến rõ rệt được
nâng cao hơn trước, nhiều mặt đã thực sự bình
đẳng , hoà nhập với sự phát triển chung của
cả nước, đồng bào các dân tộc phấn khởi, tin
tưởng vào chủ trương của Đảng, chính sách của
Nhà nước. Cũng nhờ các chính sách cụ thể hoá
Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị mà đoàn kết
giữa các dân tộc cũng được củng cố và lớn mạnh
hơn bao giờ hết. Đoàn kết dân tộc còn là kết quả
của cả một quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước
với tinh thần tương trợ, giúp đỡ nhau giữa các
cộng đồng dân tộc.
Hội
đồng dân tộc Khóa IX, hoạt động đổi mới đã có
những thay đổi về chất. Tổ chức bộ máy hoạt
động, chức năng nhiệm vụ và các hoạt động chủ
yếu không những được luật hóa mà còn được nâng
lên thành lý luận qua nhiều công trình nghiên
cứu, nhiều cuộc Hội thảo, một số hoạt động được
mang tính chuyên môn hoá. Tổ chức của Hội đồng
Dân tộc đã có bộ phận Thường trực Hội đồng
chuyên trách (Chủ tịch và một Phó chủ tịch
Thường trực chuyên trách), bốn Phó chủ tịch kiêm
nhiệm, giúp việc, có một vụ chuyên môn nằm trong
Văn phòng Quốc hội. Mục tiêu chính sách bình
đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc được
đặt ra với yêu cầu cao hơn, thực tiễn hơn trong
tất cả các nhiệm vụ của Hội đồng Dân tộc và phải
được thể hiện trong các chính sách dân tộc khi
được ban hành. Nhiệm vụ hàng đầu của Hội đồng
Dân tộc là hoạt động lập pháp. Mỗi khóa Hội đồng
Dân tộc tham gia thẩm tra, tham gia đóng góp ý
kiến vào các văn bản pháp luật ban hành có liên
quan đến dân tộc phải thể hiện được tính bình
đẳng dân tộc và đoàn kết dân tộc. Nhiệm kỳ Khóa
IX với ý tưởng: Muốn thực hiện thành công quan
điểm của Đảng về bình đẳng, đoàn kết và tương
trợ giữa các dân tộc. Sự bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ giữa các dân tộc phải được thể chế hoá
bằng pháp luật. Vì vậy năm 1994, Hội đồng Dân
tộc khoá IX đã đề xuất, kiến nghị xây dựng Luật
Dân tộc, kiến nghị đã được Quốc hội đồng ý và
Luật Dân tộc đã được soạn thảo. Với dự thảo của
Luật Dân tộc, bình đẳng dân tộc, đoàn kết dân
tộc được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực:
chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục...
Cùng
với việc đề xuất xây dựng Luật dân tộc, Hội đồng
Dân tộc các khóa đã nhiều lần tổ chức giám sát
việc thi hành luật: Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và
Phát triển rừng, Luật Giáo dục. Để thực hiện
bình đẳng về kinh tế, Hội đồng Dân tộc đã tiến
hành nhiều hoạt động khảo sát, giám sát để đề
xuất các chính sách cụ thể. Kiến nghị qua giám
sát của Hội đồng Dân tộc Khóa VIII đã góp phần
quan trọng cho sự ra đời "Chính sách trợ giá,
trợ cước vận chuyển hàng lên miền núi", "Chính
sách hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn"... Kiến
nghị giám sát của Hội đồng Dân tộc Khóa IX đã
góp phần quan trọng cho sư ra đời "Chính sách
phát triển Kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên",
"Chính sách phát triển KT - XH vùng Tây Bắc",
kiến nghị qua giám sát của Hội đồng Dân tộc Khóa
X đã trực tiếp thúc đẩy cho sự ra đời của "Chính
sách phát triển KT - XH vùng đặc biệt khó khăn
miền núi và vùng sâu, vùng xa"... Kiến nghị qua
giám sát của Hội đồng Dân tộc Khóa XI góp phần
chuyển hóa chính sách của Chương trình 135 sang
giai đoạn II của chính sách phát triển KT - XH
vùng đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu,
vùng xa thời kỳ 2006 - 2010.
Có
thể khẳng định rằng với mong muốn thực hiện được
định hướng của các chính sách bình đẳng, đoàn
kết tương trợ giữa các dân tộc, Hội đồng Dân tộc
các khóa đã được quán triệt xuyên suốt trong mọi
hoạt động của mình. Thực tiễn cho thấy thông qua
hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc đã kiến
nghị bổ sung và đóng góp phần không nhỏ để làm
ra đời và điều chỉnh nhiều chính sách dân tộc
quan trọng và những phát hiện sai sót, những uốn
nắn xem xét qua giám sát của Hội đồng Dân tộc đã
thực sự làm cho các chính sách dân tộc đảm bảo
tính bình đẳng, đoàn kết dân tộc và phát huy
hiệu quả trên thực tế. Giám sát việc thực hiện
chính sách dân tộc của Hội đồng Dân tộc những
năm gần đây không những để đảm bảo sự bình đẳng,
đoàn kết giữa các dân tộc mà còn đảm bảo tính
bình đẳng giữa các vùng, miền trong cả nước,
nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Kết quả cho thấy
mức đầu tư của Nhà nước cho vùng dân tộc và miền
núi ngày càng lớn. Tính đến năm 2001 đầu tư cho
miền núi vùng dân tộc đã đạt tới mức 93.500 tỷ
chiếm tới 12,5% vốn đầu tư của cả nước với dân
số của các dân tộc thiểu số trên 13% dân số cả
nước. Nhiều chính sách đầu tư được tập trung cho
vùng dân tộc và miền núi để phát triển kinh tế.
Chỉ có phát triển kinh tế, bình đẳng về kinh tế
mới là cơ sở đảm bảo cho bình đẳng về chính trị,
bình đẳng về văn hoá xã hội giữa các dân tộc và
chỉ có phát triển kinh tế mới có cơ sở củng cố
và phát triển bền vững khối đại đoàn kết dân
tộc. Cũng nhờ phát triển về kinh tế, nhờ có khối
đại đoàn kết dân tộc tình cảm tốt đẹp tương trợ
giữa các dân tộc một truyền thống cao thượng đẹp
đẽ của đại gia đình các dân tộc Việt Nam ta đã
không ngừng tỏa sáng.
Với định hướng
nhất quán của một chính sách dân tộc bình đẳng,
đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc mà Đảng ta
đã xác định ngay từ khi soạn thảo cương lĩnh đầu
tiên. Tiếp đó được thể chế trong Hiến pháp năm
1946 và các Hiến pháp sửa đổi sau này. Hội đồng
Dân tộc nắm vững và quán triệt sâu sắc tư tưởng
của chính sách trên. Sau 60 năm kể từ khi định
hướng chính sách ra đời, ngày nay nước ta đã xây
dựng được khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại
đoàn kết toàn dân vững chắc. Sự bình đẳng giữa
các dân tộc ở nước ta thể hiện tính ưu việt nhất
trong chính sách dân tộc của Nhà nước ta, trong
đó có sự đóng góp của Hội đồng Dân tộc, định
hướng chính sách bình đẳng - đoàn kết - tương
trợ giữa các dân tộc sẽ còn đồng hành mãi mãi
với sự nghiệp cách mạng ở nước ta, mãi mãi với
mọi hoạt động của Hội đồng Dân tộc, trong các
nhiệm vụ quan trọng như xây dựng pháp luật, hoạt
động giám sát và tham gia quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước.
Báo Người đại
biểu nhân dân số 248, 250 |