Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 

 60 năm nhà nước của dân, do dân, vì dân – Những thành tựu lập pháp 

Nguyễn Quốc Thắng      

          Kể từ thời khắc lịch sử ấy, ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi bản  tuyên ngôn độc lập  khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được truyền đến  triệu triệu con tim của đồng bào đất Việt, khẳng định từ đây chính quyền về tay nhân dân,  từ đây nhân dân ta  là người chủ đất nước và long trọng tuyên bố với thế giới sự ra đời của Nhà nước công nông đầu tiên ở cõi á đông. Đã 60 năm qua, lịnh sử quật cường của dân tộc  khắc ghi vào thế kỷ 20 biết bao chiến công huy hoàng  trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Trong giai đoạn lịch sử hào hùng, hoạt động lập pháp của chính quyền nhân dân được khai sinh, lớn mạnh và đóng góp những thành tựu to lớn trong sự trưởng thành của Nhà nước cách  mạng Việt Nam – Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

       Ngày 8  tháng 11  năm 1946 tại kỳ họp thứ 2,  Quốc hội khoá I,  Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam được thông qua. Sự ra đời của Hiến pháp  là kết tinh thành tựu của cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân do Đảng lãnh đạo, là nền tảng pháp lý xây dựng chính quyền của dân, xoá bỏ hệ thống pháp luật nô dịch, thực dân, phong kiến đầy ải, bóc lột đến tận xương tuỷ  người dân, thúc đẩy sự hình thành hệ thống pháp luật mới, công bằng, bình đẳng và tiến bộ. Và chính  nó đặt nền móng cho sự phát triển hoạt động lập pháp .

       Khi đất nước vừa giành được độc lập, chính quyền non trẻ đứng trước  thách thách cam go, trình độ  phát triển kinh tế xã hội  manh mún, giặc đói, giặc dốt hoành hành, năng lực quản lý nhà nước còn thấp kém, hoạt động  của bộ máy chính quyền mang tính  thời chiến, Quốc hội không thể  tiến hành họp thường xuyên,  mà giao một số quyền hạn cho Ban thường trực của Quốc hội hoạt động  bên cạnh Chính phủ, giám sát  Chính phủ ban hành các văn bản cần thiết phục vụ yêu cầu trong giai đoạn kháng chiến . g chiến .

          Trong bối cảnh đó, năm 1953,  Quốc hội ban hành luật cải cách ruộng đất - đạo luật thiết yếu phục vụ cho cách mạng. Sau năm 1953 đến năm 1959, Quốc hội ban hành được 7 luật quy định một số quyền cơ bản về tự do báo chí, lập hội. Có thể nói hoạt động lập pháp  trong giai đoạn này chủ yếu thông qua việc ra sắc lệnh của Chủ tịch nước và của Chính phủ.  Số liệu thống kê cho thấy, đã có 1073 văn bản pháp luật gồm 621 sắc lệnh, 655 nghị định, 413 thông tư, 4 nghị quyết, 8 quyết định, 2 chị thị...

       Không phải là con số văn bản pháp luật, cũng không phải là nội dung, tính chất và hình thức văn bản là điểm nổi bật trong giai đoạn này. Vấn đề là làm sao đưa  pháp luật vào cuộc sống trong khi chính quyền tập trung vào nhiệm vụ kháng chiến, hệ thống pháp luật còn manh nha. Trong tình hình ấy, yếu tố đức trị có vai trò hết sức quan trọng. Phẩm chất, đạo đức của người cán bộ cách mạng là yếu tố hàng đầu, có khi còn đặt cao hơn sự đầy đủ, cụ thể của hệ thống pháp luật, của cơ quan giám sát. Đó chính là tinh thần đặt quyền lợi của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết. Và cũng chính điều này làm cho hệ thống pháp luật dù còn yếu, còn thiếu những được vận hành thông suốt, nghiêm minh

      Sau chiến thắng Điện Biên và ký kết hiệp định Genève, đất nước bị chia cắt, miền Bắc được giải phóng, Đế quốc Mỹ xâm lược dựng lên chính quyền bù nhìn ở miền Nam. Nhiệm vụ chính của cách mạng lúc này là giải phòng hoàn toàn đất nước khỏi ách xâm lăng. Trong giai đoạn này, Quốc hội hoạt động thường xuyên hơn những vẫn mang những đặc điểm của thời chiến với vai trò rất quan trọng của UBTV Quốc hội. Hoạt động lập pháp cũng vẫn mang tính chất thời chiến. Điểm nổi bật trọng giai đoạn này là việc ban hành Hiến pháp 1959, khẳng định sự lựa chọn thể chế Nhà nước XHCN,  đoàn kết dân tộc, trach thủ sự giúp đỡ của các nước yêu chuộng hoà bình trên thế giới  trong đấu tranh thống nhất đất nước. Thời kỳ này Quốc hội đã ban hành được 11 luật, UBTV Quốc hội đã ban hành được 20 pháp lệnh. Các luật, pháp lệnh tập trung chủ yếu cho lĩnh vực tổ  chức bộ máy nhà nước, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân... Sự hiện diện ngày càng nhiều của các đạo luật, pháp lệnh đã thay thế cho chế độ ra sắc lệnh, thực hiện dân chủ trong làm luật và đặt hoạt động lập pháp trước những đòi hỏi mới.

      Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975. Đất nước bước sang một trang sử mới. Cơ hội phát triển rộng mở ở phía trước. Những giới hạn nhận thức, đặc biệt là biến động của tình hình thế giới, khu vực và sự chuyển động bên trong của hệ thống nhà nước XHCN đã tác động mạnh mẽ đến  con đường đi  sau chiến tranh. Thời kỳ này hoạt động lập pháp bắt đầu được quan tâm, đẩy mạnh và có những bước chuyển mới, vai trò của cơ quan lập pháp được tăng cường. Bên cạnh UBTV Quốc hội, các Uỷ ban chuyên môn của Quốc hội được hình thành rõ nét và bắt đầu phát huy vai trò của mình.

        Từ sau Hiến pháp 1980 đến năm 1992, Quốc hội đã ban hành được 40 luật, UBTV Quốc hội ban hành được 59 pháp lệnh. Đây là thời kỳ hệ thống pháp luật có những chuyển động dích dắc. Mở đầu là những đạo luật củng cố tổ chức bộ máy nhà nước XHCN, các đạo luật về kinh tế, xã hội theo cơ chế chỉ huy. Tuy nhiên, những đạo luật phản ánh tư duy giáo điều, duy ý trí sớm lạc hậu trước những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn. Vào cuối giai đoạn này, Quốc hội đã ban hành các đạo luật chứa đựng tư duy mới,  cơ chế quản lý mới như: Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân... Đây chính là sự phản ánh yêu cầu giai đoan đổi mới  và việc xây dựng những hành lang pháp lý đầu tiên cho sự phục hồi nền kinh tế, đổi mới tổ chức , hoạt động của bộ máy nhà nước. 

      Xây dựng  và bảo vệ tổ quốc là hai mặt của nội dung phát triển đất nước. Nhiệm vụ của dân tộc ta sau chiến tranh thì đã rõ, nhưng con đường đi thì gập nghềnh, khúc khuỷu. Sự nghiệp đổi mới do đảng khởi xướng và lãnh đạo từ năm1986 đã đưa đất nước dần thoát khỏi cuộc khủng khoảng kinh tế – xã hội. Và sự ra đời của Hiến pháp 1992 như một tất yếu của quá trình đổi mới. Hiến pháp là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất ghi nhân những thành quả đổi mới và định hướng phát triển đất nước. Hiến pháp là nền tảng pháp lý cho việc đổi mới sâu sắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho kinh tế phát triển mạnh mẽ... Và trên con đường mới của đất nước vai trò của Quốc hội trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước ngày càng được tăng cường, hoạt động lập pháp được quan tâm và đẩy mạnh. 

        Quản lý xã hội bằng pháp luật trở thành một nhu cầu tất yếu của đời sống xã hội hiện đại, một thách thức trong tiến trình đổi mới và hội nhập. Điều đó đặt ra những nhiệm vụ cho cả hệ thống chính trị mà trước tiên là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp. Đứng trước yêu cầu đó, tổ chức của Quốc hội có nhiều bước chuyển mới nhằm đẩy mạnh hoạt động lập pháp, giám sát. Các cơ quan chuyên môn của Quốc hội được tăng thêm theo các lĩnh vực, chức năng nhiệm vụ cụ thể hơn, rõ ràng hơn; Đại biểu chuyên trách được tăng cường,  bộ máy giúp việc được kiện toàn, quy trình lập pháp được hoàn thiện,  hoạt động tại kỳ họp luôn được cải tiến...

      Chính mâu thuẫn giữa yêu cầu lập pháp và năng lực lập pháp đã đặtt nền móng cho việc tiến hành đổi mới mạnh mẽ trong hoạt động xây dựng pháp luật. ở những năm đầu của thập kỷ 90, mỗi nhiệm kỳ Quốc hội thông qua từ 20 đến gần 30 đạo luật, thì đến nay mỗi kỳ họp Quốc hội đòi hỏi thông qua  hàng 10 đạo luật. Với những tiến bộ trong hoạt động xây dựng pháp luật, từ sau Hiến pháp 1992 đến nay Quốc hội đã ban hành được 123  luật, UBTV Quốc hội đã ban hành được 132 pháp lệnh. Các đạo luật được ban hành  đã góp phần đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, xây dựng cơ chế quản lý kinh tế mới, giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, củng cố an ninh, quốc phòng, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, hội nhập kinh tế thế giới và  đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới. Điều quan trọng của hoạt động lập pháp trong giai đoan này không chỉ là việc tăng  dần số lượng các đạo luật được thông qua mà từng bước hình thành cách làm luật chuyên nghiệp, chủ động theo sát các đòi hỏi của thực tiễn. Đồng thời đi sâu vào các chuyên ngành, các quy định cụ thể, bảo đảm  vai trò quyết định của Quốc hội và tính  hiệu quả trong thực thi.

      Có thể  nói thành tựu lập pháp 60 năm qua chính là sự trưởng thành, lớn mạnh  không ngừng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, là sự tin yêu, giúp đỡ  của nhân dân, sự hy sinh, tận tuỵ của bao thế hệ cán bộ cách mạng. Chính những thành tựu này đã giúp hoạt động lập pháp  đáp ứng kịp thời yêu cầu cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước, xây dựng một nền pháp luật cách mạng  tiên tiến;  Đóng góp vào việc xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, góp phần đưa đất nước vững bước tiến lên. 

Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân, số 160 ngày  5-9-2005 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện