Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường -

Quá trình hình thành và phát triển

Ts. Vũ Minh Mão

Phó chủ nhiệm Ủy ban KH, CN và MT

 

Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường từ khi được Quốc hội thành lập đến nay  có thể chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu với tên gọi là Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật, là một Ủy ban thường trực của Quốc hội được thành lập lần đầu từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII (1981-1987), nhiệm kỳ Quóc hội khóa VIII (1987-1991). Giai đoạn thứ 2 với tên gọi  là Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX đến nay.

Với tên gọi của 2 giai đoạn đã thể hiện sự hình thành, đổi mới và phát triển của Ủy ban với chức năng, nhiệm vụ đã được thể hiện trong quy định của Luật Tổ chức Quốc hội qua các nhiệm kỳ Quốc hội.

Về tổ chức

Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật  nhiệm kỳ khóa VII (1981-1997) gồm 26 thành viên, đều  là những đại biểu có năng lực và uy tín trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật, lĩnh vực quản lý của nhiều ngành kinh tế của trung ương và cơ sở. Bộ phận thường trực của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật có 5 người, đều là kiêm nhiệm, không có thành viên chuyên trách. Thành viên có chuyên môn về khoa học – kỹ thuật tuy nhiều, nhưng lại giữ những chức vụ chủ chốt của địa phương, của ngành, của cơ sở, nên khó có điều kiện về thời gian để tham gia công tác của Ủy ban, nhất là những công tác đột xuất.

Thời kỳ đó, cùng với khó khăn chung của đất nước, cơ sở vật chất, phương tiện thiếu,  điều kiện đi lại rất khó khăn, kinh phí cho hoạt động của Ủy ban rất hạn hẹp... nên ít có dịp Ủy ban họp được đông đủ, ngoài các kỳ họp được tổ chức kết hợp họp trong kỳ họp Quốc hội.

Trong điều kiện đó, Thường trực Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật đã có rất nhiều cố gắng  để duy trì hoạt động và làm tốt nhiệm vụ của Quốc hội và Hội đồng Nhà nước giao cho cũng như chương trình hoạt động hàng năm của Ủy ban. Các thành viên  Ủy ban đều có tinh thần trách nhiệm và xây dựng cao để đóng góp vào hoạt động của Ủy ban.

Nhiệm kỳ khóa VIII, tổ chức của Ủy ban được Quốc hội lập ra gồm 25 thành viên. Nhiệm kỳ khóa IX gồm 26 thành viên. Nhiệm kỳ này, bộ phận thường trực của Ủy ban có 7 người, trong đó có một số Ủy viên thường trực kiêm nhiệm ở phía nam. Chủ nhiệm và một Phó Chủ nhiệm hoạt động chuyên trách, còn lại là kiêm nhiệm. Ủy ban thành lập 4 tiểu ban để phụ trách và theo dõi các lĩnh vực: khoa học tự nhiên, tài nguyên và môi trường; khoa học xã hội, khoa học quản lý; công nghiệp; nông nghiệp.Đây là nhiệm kỳ đầu tiên , Ủy ban có đại biểu hoạt động chuyên trách, là nét đổi mới bước đầu trong hoạt động của Ủy ban so với các nhiệm ký trước.

Đến khóa X, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường gồm 28 thành viên. Trong số 28 thành viên Ủy ban, có 3 thành viên hoạt động chuyên trách. Thường trực Ủy ban có 6 người, gồm Chủ nhiệm (Phó Chủ tịch Quốc hội kiêm Chủ nhiệm Ủy ban), 2 Phó Chủ nhiệm chuyên trách, 1 Phó Chủ nhiệm kiêm nhiệm và 2 Ủy viên thường trực (kiêm nhiệm). Ủy ban đã thành lập 4 Tiểu ban chuyên môn là: Tiểu ban khoa học tự nhiên, Tiểu ban khoa học kỹ thuật và công nghệ, Tiểu ban môi trường, Tiểu ban khoa học xã hội và quản lý.

Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khóa XI  gồm 36  thành viên, trong đó có 7 thành viên hoạt động chuyên trách, gồm Chủ nhiệm Ủy ban, 3 Phó Chủ nhiệm Ủy ban, 3 Ủy viên chuyên trách. Ủy ban đã thành lập 5 Tiểu ban để giúp Ủy ban nghiên cứu, chuẩn bị các vấn đề thuộc các lĩnh vực: Tiểu ban khoa học, công nghệ trong lĩnh vực kinh tế, công nghiệp và quốc phòng- an ninh; Tiểu ban khoa học, công nghệ trong lĩnh vực kinh tế tổng hợp, dịch vụ và nội chính, tư pháp; Tiểu ban khoa học, công nghệ trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và các vấn đề xã hội; Tiểu ban khoa học tự nhiên, tài nguyên và môi trường; Tiểu ban khoa học xã hội và nhân văn.

Về tổ chức và cơ cấu như trên, Ủy ban cơ bản đảm nhiệm được chức năng, nhiệm vụ của mình trong các lĩnh vực về khoa học, công nghệ và môi trường.

Về công tác lập pháp

Ngay từ năm đầu của nhiệm kỳ khóa VII, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật đã được Hội đồng Nhà nước giao nhiệm vụ xem xét và báo cáo về việc ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật đối với các ngành lương thực, thực phẩm hàng tiêu dùng, hàng  xuất khẩu. Vì thế, Ủy ban đã chọn việc thúc đẩy, hỗ trợ soạn thảo và trình duyệt “Pháp lệnh lòng đất”, sau đó chuyển thành “ Pháp lệnh tài nguyên khoáng sản”. Pháp lệnh này do một tiểu ban của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) soạn thảo. Ủy ban cũng đã nghiên cứu góp ý kiến bước đầu về nội dung “ Pháp lệnh tài nguyên nước”.

Để khai thác và phát huy thế mạnh về chuyên môn của mọi thành viên, đồng thời để theo dõi, đôn đốc cơ quan soạn thảo các dự án Luật, Pháp lệnh thuộc lĩnh vực mà Ủy ban chủ trì thẩm tra, Thường trực lập ra các tiểu ban với sự giúp việc của chuyên viên theo dõi sát sao, kết quả là đã làm cho chất lượng của dự thảo được nâng lên và đảm bảo đúng tiến độ do Quốc hội và Hội đồng Nhà nước đề ra. Nhiệm kỳ khóa VIII, Ủy ban đã chủ trì thẩm tra và đã được Quốc hội  thông qua Luật bảo vệ và phát triển rừng và Hội đồng Nhà nước thông qua các pháp lệnh: Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, Pháp lệnh tài nguyên khoáng sản, Pháp lệnh đo lường, Pháp lệnh thú y, Pháp  lệnh chất lượng hàng hóa, Pháp lệnh bảo vệ thực vật, Pháp lệnh đê điều, Pháp lệnh phòng chống lụt, bão.

Giai đoạn này, mặc dù trong Ủy ban chưa có thành viên nào có nghiệp vụ chuyên ngành về pháp luật, nhưng do biết huy động trí tuệ của các thành viên, biết khai thác, thu thập ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý, của đội ngũ chuyên viên giúp việc, cho nên các Luật, Pháp lệnh được Quốc hội và Hội đồng Nhà nước thông qua  đạt chất lượng tốt, đúng tiến độ quy định, khả thi trong cuộc sống.

Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế, nhất là sau khi có Nghị quyết 26 của Bộ chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mơiá, thì việc xây dựng những văn bản pháp lý bảo đảm cho các hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường ngày càng trở nên cấp thiết. Trong nhiệm kỳ khóa IX, Ủy ban đã chủ trì thẩm tra và đã chuẩn bị giúp Quốc hội thông qua 2 luật: Luật bảo vệ môi trường (1993), Luật khoáng sản (1996); Chủ trì thẩm tra và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua 7 Pháp lệnh: Pháp lệnh thú y, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Pháp lệnh phòng, chống lụt bão, Pháp lệnh bảo vệ và khai thác công trình thủy lợi, Pháp  lệnh bảo vệ công trình giao thông, Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thủy văn, Pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ. Ngoài ra , Ủy ban còn được giao chuẩn bị chủ trì thẩm tra một số luật, pháp lệnh để trình thông qua vào các kỳ họp tiếp theo của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và tham gia ý kiến vào các dự án luật , pháp lệnh khác có liên quan đến khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường.

Trong nhiệm kỳ khóa X, Ủy ban đã chủ trì thẩm tra và đã chuẩn bị giúp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua 2 luật là Luật Tài nguyên nước, Luật Khoa học và công nghệ và 8 Pháp lệnh là: Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Pháp lệnh Đo lường (sửa đổi), Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa (sửa đổi), Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội, Pháp lệnh Đê điều (sửa đổi), Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Phòng, chống lụt bão, Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi (sửa đổi) Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật (sửa đổi).

Trong nhiệm kỳ khóa XI (tính đến hết năm 2005), Ủy ban đã chủ trì thẩm tra và soạn thảo, chuẩn bị giúp Quốc hội thông qua 10 luật là: Luật Thủy sản, Luật Xây dựng, Luật giao thông đường thủy nội địa, Luật Điện lực, Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi), Luật đường sắt Việt Nam, Luật sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản và Ủy ban lần đầu tiên đề xuất sáng kiến pháp luật được Quốc hội chấp thuậnvà giao Ủy ban chủ trì soạn thảo Luật giao dịch điện tử, đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 , ngày 29.11.2005; Đồng thời Ủy ban đang chủ trì thẩm tra dự án Luật công nghệ thông tin, Luật tiêu chuẩn hóa, Luật đê điều, Luật chuyển giao công nghệ dự kiến trình Quốc hội xem xét thông qua vào kỳ họp thứ 9 và kỳ họp thứ 10 của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI. Như vậy, Ủy ban đã và đang chủ trì thẩm tra, soạn thảo 14 dự án luật, đã được Quốc hội thông qua 10 luật, còn lại 4 dự án luật sẽ được Quốc hội xem xét thông qua trong năm 2006.Ủy ban đã chủ trì thẩm tra và đã chuẩn bị giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội  thông qua các  pháp lệnh: Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm, Pháp  lệnh giống cây trồng, Pháp lệnh giống vật nuôi, Pháp lệnh thú y, (sửa đổi ); Đồng thời Ủy ban tiếp tục đề xuất sáng kiến pháp luật, được Quốc hội chấp nhận và giao Ủy ban chủ trì soạn thảo dự án Pháp lệnh công nghệ cao, dự kiến trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua vào cuối năm 2006.

Về công tác giám sát

Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Khóa VII đã chọn 2 nội dung chính (trong 2 năm 1983 và 1986) giám sát về tổ chức, nội dung hoạt động của hệ thống nghiên cứu khoa học và kỹ thuật; Các năm còn lại của nhiệm kỳ Khóa VII, Ủy ban đã giám sát việc ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật trong một số lĩnh vực như nông lâm, ngư nghiệp, năng lượng, sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu, chủ yếu đi vào trọng tâm là vấn đề điều tra cơ bản, quy trình công nghệ, sáng kiến cải tiến, chất lượng sản phẩm, trình độ trang thiết bị ... Việc lựa chọn những chuyên đề giám sát của nhiệm kỳ này Ủy ban đã đi vào khảo sát, góp phần tháo gỡ những vướng mắc lớn trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật cũng như những yêu cầu trọng điểm của nền kinh tế quốc dân thời kỳ này. Các đoàn công tác giám sát, khảo sát của Ủy ban đã góp phần giải quyết được một số việc cụ thể và tăng cường mối liên hệ  của Ủy ban với các địa phương, các cơ sở sản xuất, nghiên cứu và đông đảo lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật .

Nhiệm kỳ Khóa VIII, trong những năm 1987, 1988, 1999, trọng tâm công tác giám sát của Ủy ban là bám sát các mục tiêu của 3 chương trình kinh tế lớn do Đại hội Đảng VI đề ra, Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị về khoa học và  kỹ thuật mà xem xét việc ứng dụng tiến bộ khoa học và  kỹ thuật trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, năng lượng, công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Các năm còn lại của nhiệm kỳ, Ủy ban đã xem xét vấn đề đổi mới thiết bị và công nghệ để đáp ứng với cơ chế kinh tế mới trong các ngành kinh tế then chốt ở thời kỳ đó.

Nhiệm kỳ IX, Ủy ban đã tập trung giám sát các lĩnh vực: Giám sát việc thực hiện luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường; giám sát việc thực hiện ngân sách cho công tác khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường trong các kế hoạch 5 năm và hàng năm phục vụ chương trình phát triển KT - XH của đất nước, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng tiềm lực khoa học, công nghệ, cải thiện môi trường...

Nhiệm kỳ X, Ủy ban đã tổ chức các loại hình giám sát: Giám sát thường xuyên về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, các văn bản pháp luật trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường, tại các bộ, ngành và địa phương; Giám sát việc thực hiện triển khai các hoạt động khoa học, công nghệ của các bộ, ngành, các viện, trường, theo các kế hoạch đã được Quốc họi thông qua; Giám sát các vụ, việc xuất hiện đột xuất về khoa học, công nghệ và môi trường; Giám sát theo chuyên đề trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường có ý nghĩa quan trọng.

Nhìn chung, công tác giám sát của Ủy ban nhiệm kỳ X đã có bước tiến bộ mới, thúc đẩy hoạt động trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường, góp phần phát triển KT- XH.

Nhiệm kỳ XI, Ủy ban đã tổ chức các loại hình giám sát: Giám sát thường xuyên về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, các văn bản pháp luật trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường tại các bộ, ngành và địa phương; Giám sát việc thực hiện triển khai các hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường của các bộ, ngành, các viện, trường; Giám sát các vụ, việc xuất hiện đột xuất về khoa học, công nghệ và môi trường; Giám sát theo chuyên đề trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường có ý nghĩa quan trọng. 

Công tác giám sát được tập trung vào các công trình quan trọng quốc gia như: dự án Khí- Điện- Đạm tại Bà Rịa- Vũng Tàu, dự án Nhà máy Lọc dầu số 1 Dung Quất, dự án Thủy điện Sơn La, dự án đường Hồ Chí Minh, dự án Khí – Điện – Đạm Cà Mau, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Ngoài ra Ủy ban định kỳ giám sát tình hình thực hiện nhiệm vụ, ngân sách cho khoa học, công nghệ và môi trường; Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khoa học, công nghệ và môi trường ...

Ngoài ra, ở tất cả các nhiệm kỳ, Ủy ban đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội và nhiệm vụ được Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao, góp phần vào kết quả hoạt động chung của Quốc hội.      

Thẩm tra Nghị quyết về công trình quan trọng quốc gia

Đây là việc làm mới trong hoạt động của Quốc hội, thực sự là một bước chuyển biến lớn, thiết thực để nâng cao vai trò của cơ quan lập pháp trong việc quyết định các vấn đề quan trọng phát triển đất nước. Ủy ban đã tiến hành thẩm tra đúng quy trình, không những là kinh nghiệm của nhiệm kỳ này mà còn cho các nhiệm kỳ sau. Một trong những văn bản pháp luật quan trọng mà Ủy ban đã chủ trì thẩm tra là Nghị quyết về tiêu chuẩn các công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư. Bằng việc thông qua Nghị quyết này, Quốc hội đã ban hành hệ thống tiêu chuẩn, trong đó có tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường của các công trình có ảnh hương lớn mà Chính phủ phải trình Quốc hội xem xét thông qua. Nhiệm kỳ X, Ủy ban đã chủ trì thẩm tra: Nghị quyết về Tiêu chuẩn các công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư, Nghị quyết về dự án Khí- Điện- Đạm tại Bà Rịa- Vũng Tàu, Nghị quyết về dự án Nhà máy Lọc dầu số 1 Dung Quất, Nghị quyết về dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng, Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án Nhà máy Thủy điện Sơn La. Và, Quốc hội Khóa XI ban hành Nghị quyết về phương án xây dựng công trình Thủy điện Sơn La (Nghị quyết số 13/2002/QH11).

Nhiệm kỳ XI, Ủy ban chủ trì thẩm tra dự án đường Hồ Chí Minh, dự án Khí – Điện- Đạm Cà Mau.

Có thể bước đầu rút ra nhận xét rằng, do được tăng cường về số lượng đại biểu chuyên trách, cán bộ, chuyên viên giúp việc của Vụ khoa học, công nghệ và môi trường, các điều kiện, phương tiện làm việc được tăng cường, kinh phí hoạt động của Ủy ban dần dần được tăng lên; Nhất là sự đổi mới hoạt động của Quốc hội, của Ủy ban và do yêu cầu thực tiễn của  đất nước cũng như yêu cầu hội nhập kinh tế đòi hỏi... nên các hoạt động của Ủy ban ngày càng hiệu quả trên mọi mặt. 

Sự đổi mới và phát triển của Ủy  ban qua các nhiệm kỳ khóa IX, X và XI

Cùng với sự phát triển của đất nước theo đường lối đổi mới bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng đề ra, hoạt động của Quốc hội nói chung, của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội nói riêng đã từng bước đổi mới và phát triển qua từng nhiệm kỳ của Quốc hội. Trong đó có sự đổi mới và phát triển của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật của Quốc hội.

Hiến pháp năm 1992 đã có những đổi mới quan trọng, trong đó có  các quy định: khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Hội đồng dân tộc, mỗi Ủy ban của Quốc hội có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách... Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp năm 1992, đã có những quy định cần thiết để làm cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong đó quy định Quốc hội thành lập Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường

Bắt đầu từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật của Quốc hội.được Quốc hội đổi tên thành Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội. Sự đổi tên này không chỉ có ý nghĩa của tên gọi mới mà còn thể hiện sự đổi mới và sự phát triển của Ủy ban trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.

Một số kinh nghiệm bước đầu và kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường

Trên cơ sở tìm hiểu và khái quát quá trình thành lập và phát triển của  Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội trải qua gần 5 nhiệm kỳ, bắt đầu từ khi được Quốc hội thành lập cho đến nay, bước đầu tôi xin nêu một số kinh nghiệm và xin đề xuất một số kiến nghị như sau:

Trước hết, đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội và Quốc hội trong các nhiệm kỳ tiếp theo, nghiên cứu từng bước tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách hoạt động tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường theo hướng số đại biểu chuyên trách hoạt động trong Ủy ban chiếm tỷ lệ khoảng từ 30% đến 50% tổng số đại biểu của Ủy ban. Cơ cấu của thành viên Ủy ban cần bảo đảm một tỷ lệ hợp lý giữa các lĩnh vực: Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Khoa học tự nhiên, Khoa học quản lý, Khoa học xã hội và nhân văn, Khoa học pháp lý..., giảm dần các thành viên là  giám đốc, tổng giám đốc các doanh nghiệp vì các thành viên này rất bận rộn  với công việc quản lý tại cơ sở, do đó quỹ thời gian quá eo hẹp cho các hoạt động của Ủy ban.

Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của Ủy ban, từng bước ứng dụng  luật giao dịch điện tử vào các hoạt động của Ủy ban, ví dụ như:  lấy ý kiến đóng góp vào các văn bản , trong đó có việc góp ý kiến vào các dự án luật, phpá lệnh... thông qua phương tiện điện tử. Tăng cường trang bị phương tiện điện tử cho thành viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cũng như các cơ quan khác của Quốc hội.

Để từng bước khắc phục tình trạng luật đã được ban hành nhưng chưa được thực hiện vì phải chờ Nghị định hướng dẫn thi hành, thì  cần phấn đấu giảm dần luật khung, soạn thảo luật tương đối chi tiết, nếu còn những điều nào cần Chính phủ hướng dẫn thi hành thì nên quy định ngay vào Điều hướng dẫn thi hành của luật đó, đồng thời quy định thời gian  có hiệu lực thi hành của luật đồng thời là thời gian có hiệu lực thi hành của Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều đã được quy định ngay trong luật đó.

Đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội khuyến khích, chỉ đạo Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Ban công tác lập pháp của Ủy ban thường vụ Quốc hội chủ trì soạn thảo một số dự án luật, pháp lệnh, góp phần đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng xây dựng luật, pháp lệnh; tạo quan hệ phối hợp, hiểu biết lẫn nhau giữa các cơ quan của Quốc hội với các cơ quan của Chính phủ và các tổ chức khác. Thực tế của việc soạn thảo dự án Luật giao dịch điện tử  chứng minh rằng các cơ quan của Quốc hội có thể chủ trì soạn thảo thành công các dự án luật, pháp lệnh; có thể phối hợp với các cơ quan Chính phủ và phi chính phủ, tập hợp các chuyên gia trong và ngoài nước vào việc soạn thảo Luật, pháp lệnh; có thế mạnh trong việc soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực; khách quan trong việc luật hóa các cơ chế, chính sách.

Đề nghị sớm xây dựng định mức và có kinh phí cấp cho việc soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh theo tinh thần quy định tại khoản 4 Điều 25 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật: “Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo”.

Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân số 254, 256, 257

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện