|
Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường -
Quá trình hình thành và phát triển
Ts. Vũ Minh Mão
Phó chủ nhiệm Ủy ban KH, CN và MT
Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển Ủy
ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường từ khi
được Quốc hội thành lập đến nay có thể chia
thành 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu với tên gọi là
Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật, là một Ủy ban
thường trực của Quốc hội được thành lập lần đầu
từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII (1981-1987), nhiệm
kỳ Quóc hội khóa VIII (1987-1991). Giai đoạn thứ
2 với tên gọi là Ủy ban Khoa học, Công nghệ và
Môi trường từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX đến nay.
Với tên gọi của 2 giai đoạn đã thể hiện sự hình
thành, đổi mới và phát triển của Ủy ban với chức
năng, nhiệm vụ đã được thể hiện trong quy định
của Luật Tổ chức Quốc hội qua các nhiệm kỳ Quốc
hội.
Về tổ chức
Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhiệm kỳ khóa VII
(1981-1997) gồm 26 thành viên, đều là những đại
biểu có năng lực và uy tín trong lĩnh vực khoa
học và kỹ thuật, lĩnh vực quản lý của nhiều
ngành kinh tế của trung ương và cơ sở. Bộ phận
thường trực của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật có 5
người, đều là kiêm nhiệm, không có thành viên
chuyên trách. Thành viên có chuyên môn về khoa
học – kỹ thuật tuy nhiều, nhưng lại giữ những
chức vụ chủ chốt của địa phương, của ngành, của
cơ sở, nên khó có điều kiện về thời gian để tham
gia công tác của Ủy ban, nhất là những công tác
đột xuất.
Thời kỳ đó, cùng với khó khăn chung của đất
nước, cơ sở vật chất, phương tiện thiếu, điều
kiện đi lại rất khó khăn, kinh phí cho hoạt động
của Ủy ban rất hạn hẹp... nên ít có dịp Ủy ban
họp được đông đủ, ngoài các kỳ họp được tổ chức
kết hợp họp trong kỳ họp Quốc hội.
Trong điều kiện đó, Thường trực Ủy ban Khoa học
và Kỹ thuật đã có rất nhiều cố gắng để duy trì
hoạt động và làm tốt nhiệm vụ của Quốc hội và
Hội đồng Nhà nước giao cho cũng như chương trình
hoạt động hàng năm của Ủy ban. Các thành viên
Ủy ban đều có tinh thần trách nhiệm và xây dựng
cao để đóng góp vào hoạt động của Ủy ban.
Nhiệm kỳ khóa VIII, tổ chức của Ủy ban được Quốc
hội lập ra gồm 25 thành viên. Nhiệm kỳ khóa IX
gồm 26 thành viên. Nhiệm kỳ này, bộ phận thường
trực của Ủy ban có 7 người, trong đó có một số
Ủy viên thường trực kiêm nhiệm ở phía nam. Chủ
nhiệm và một Phó Chủ nhiệm hoạt động chuyên
trách, còn lại là kiêm nhiệm. Ủy ban thành lập 4
tiểu ban để phụ trách và theo dõi các lĩnh vực:
khoa học tự nhiên, tài nguyên và môi trường;
khoa học xã hội, khoa học quản lý; công nghiệp;
nông nghiệp.Đây là nhiệm kỳ đầu tiên , Ủy ban có
đại biểu hoạt động chuyên trách, là nét đổi mới
bước đầu trong hoạt động của Ủy ban so với các
nhiệm ký trước.
Đến khóa X, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi
trường gồm 28 thành viên. Trong số 28 thành viên
Ủy ban, có 3 thành viên hoạt động chuyên trách.
Thường trực Ủy ban có 6 người, gồm Chủ nhiệm
(Phó Chủ tịch Quốc hội kiêm Chủ nhiệm Ủy ban), 2
Phó Chủ nhiệm chuyên trách, 1 Phó Chủ nhiệm kiêm
nhiệm và 2 Ủy viên thường trực (kiêm nhiệm). Ủy
ban đã thành lập 4 Tiểu ban chuyên môn là: Tiểu
ban khoa học tự nhiên, Tiểu ban khoa học kỹ
thuật và công nghệ, Tiểu ban môi trường, Tiểu
ban khoa học xã hội và quản lý.
Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khóa XI
gồm 36 thành viên, trong đó có 7 thành viên
hoạt động chuyên trách, gồm Chủ nhiệm Ủy ban, 3
Phó Chủ nhiệm Ủy ban, 3 Ủy viên chuyên trách. Ủy
ban đã thành lập 5 Tiểu ban để giúp Ủy ban
nghiên cứu, chuẩn bị các vấn đề thuộc các lĩnh
vực: Tiểu ban khoa học, công nghệ trong lĩnh vực
kinh tế, công nghiệp và quốc phòng- an ninh;
Tiểu ban khoa học, công nghệ trong lĩnh vực kinh
tế tổng hợp, dịch vụ và nội chính, tư pháp; Tiểu
ban khoa học, công nghệ trong lĩnh vực kinh tế
nông nghiệp và các vấn đề xã hội; Tiểu ban khoa
học tự nhiên, tài nguyên và môi trường; Tiểu ban
khoa học xã hội và nhân văn.
Về tổ chức và cơ cấu như trên, Ủy ban cơ bản đảm
nhiệm được chức năng, nhiệm vụ của mình trong
các lĩnh vực về khoa học, công nghệ và môi
trường.
Về công tác lập pháp
Ngay từ năm đầu của nhiệm kỳ khóa VII, Ủy ban
Khoa học và Kỹ thuật đã
được Hội đồng Nhà nước giao nhiệm vụ xem xét và
báo cáo về việc ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ
thuật đối với các ngành lương thực, thực phẩm
hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Vì thế, Ủy ban
đã chọn việc thúc đẩy, hỗ trợ soạn thảo và trình
duyệt “Pháp lệnh lòng đất”, sau đó chuyển thành
“ Pháp lệnh tài nguyên khoáng sản”. Pháp lệnh
này do một tiểu ban của Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Chính phủ) soạn thảo. Ủy ban cũng đã nghiên
cứu góp ý kiến bước đầu về nội dung “ Pháp lệnh
tài nguyên nước”.
Để khai thác và phát huy thế mạnh về chuyên môn
của mọi thành viên, đồng thời để theo dõi, đôn
đốc cơ quan soạn thảo các dự án Luật, Pháp lệnh
thuộc lĩnh vực mà Ủy ban chủ trì thẩm tra,
Thường trực lập ra các tiểu ban với sự giúp việc
của chuyên viên theo dõi sát sao, kết quả là đã
làm cho chất lượng của dự thảo được nâng lên và
đảm bảo đúng tiến độ do Quốc hội và Hội đồng Nhà
nước đề ra. Nhiệm kỳ khóa VIII, Ủy ban đã chủ
trì thẩm tra và đã được Quốc hội thông qua Luật
bảo vệ và phát triển rừng và Hội đồng Nhà nước
thông qua các pháp lệnh: Pháp lệnh bảo vệ và
phát triển nguồn lợi thủy sản, Pháp lệnh tài
nguyên khoáng sản, Pháp lệnh đo lường, Pháp lệnh
thú y, Pháp lệnh chất lượng hàng hóa, Pháp lệnh
bảo vệ thực vật, Pháp lệnh đê điều, Pháp lệnh
phòng chống lụt, bão.
Giai đoạn này, mặc dù trong Ủy ban chưa có thành
viên nào có nghiệp vụ chuyên ngành về pháp luật,
nhưng do biết huy động trí tuệ của các thành
viên, biết khai thác, thu thập ý kiến đóng góp
của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà
quản lý, của đội ngũ chuyên viên giúp việc, cho
nên các Luật, Pháp lệnh được Quốc hội và Hội
đồng Nhà nước thông qua đạt chất lượng tốt,
đúng tiến độ quy định, khả thi trong cuộc sống.
Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế, nhất
là sau khi có Nghị quyết 26 của Bộ chính trị về
khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mơiá,
thì việc xây dựng những văn bản pháp lý bảo đảm
cho các hoạt động khoa học, công nghệ và môi
trường ngày càng trở nên cấp thiết. Trong nhiệm
kỳ khóa IX, Ủy ban đã chủ trì thẩm tra và đã
chuẩn bị giúp Quốc hội thông qua 2 luật: Luật
bảo vệ môi trường (1993), Luật khoáng sản
(1996); Chủ trì thẩm tra và trình Ủy ban thường
vụ Quốc hội thông qua 7 Pháp lệnh: Pháp lệnh thú
y, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Pháp
lệnh phòng, chống lụt bão, Pháp lệnh bảo vệ và
khai thác công trình thủy lợi, Pháp lệnh bảo vệ
công trình giao thông, Pháp lệnh khai thác và
bảo vệ công trình khí tượng thủy văn, Pháp lệnh
an toàn và kiểm soát bức xạ. Ngoài ra , Ủy ban
còn được giao chuẩn bị chủ trì thẩm tra một số
luật, pháp lệnh để trình thông qua vào các kỳ
họp tiếp theo của Quốc hội, Ủy ban thường vụ
Quốc hội và tham gia ý kiến vào các dự án luật ,
pháp lệnh khác có liên quan đến khoa học, công
nghệ và bảo vệ môi trường.
Trong nhiệm kỳ khóa X, Ủy ban đã chủ trì thẩm
tra và đã chuẩn bị giúp Quốc hội, Ủy ban thường
vụ Quốc hội thông qua 2 luật là Luật Tài nguyên
nước, Luật Khoa học và công nghệ và 8 Pháp lệnh
là: Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,
Pháp lệnh Đo lường (sửa đổi), Pháp lệnh Chất
lượng hàng hóa (sửa đổi), Pháp lệnh Thủ đô Hà
Nội, Pháp lệnh Đê điều (sửa đổi), Pháp lệnh sửa
đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Phòng,
chống lụt bão, Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ
công trình thủy lợi (sửa đổi) Pháp lệnh Bảo vệ
và kiểm dịch thực vật (sửa đổi).
Trong nhiệm kỳ khóa XI (tính đến hết năm 2005),
Ủy ban đã chủ trì thẩm tra và soạn thảo, chuẩn
bị giúp Quốc hội thông qua 10 luật là: Luật Thủy
sản, Luật Xây dựng, Luật giao thông đường thủy
nội địa, Luật Điện lực, Luật bảo vệ và phát
triển rừng (sửa đổi), Luật đường sắt Việt Nam,
Luật sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật khoáng sản và Ủy ban lần đầu
tiên đề xuất sáng kiến pháp luật được Quốc hội
chấp thuậnvà giao Ủy ban chủ trì soạn thảo Luật
giao dịch điện tử, đã được Quốc hội thông qua
tại kỳ họp thứ 8 , ngày 29.11.2005; Đồng thời Ủy
ban đang chủ trì thẩm tra dự án Luật công nghệ
thông tin, Luật tiêu chuẩn hóa, Luật đê điều,
Luật chuyển giao công nghệ dự kiến trình Quốc
hội xem xét thông qua vào kỳ họp thứ 9 và kỳ họp
thứ 10 của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI. Như vậy,
Ủy ban đã và đang chủ trì thẩm tra, soạn thảo 14
dự án luật, đã được Quốc hội thông qua 10 luật,
còn lại 4 dự án luật sẽ được Quốc hội xem xét
thông qua trong năm 2006.Ủy ban đã chủ trì thẩm
tra và đã chuẩn bị giúp Ủy ban thường vụ Quốc
hội thông qua các pháp lệnh: Pháp lệnh vệ sinh
an toàn thực phẩm, Pháp lệnh giống cây trồng,
Pháp lệnh giống vật nuôi, Pháp lệnh thú y, (sửa
đổi ); Đồng thời Ủy ban tiếp tục đề xuất sáng
kiến pháp luật, được Quốc hội chấp nhận và giao
Ủy ban chủ trì soạn thảo dự án Pháp lệnh công
nghệ cao, dự kiến trình Ủy ban thường vụ Quốc
hội xem xét, thông qua vào cuối năm 2006.
Về công tác giám sát
Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Khóa VII đã chọn 2
nội dung chính (trong 2 năm 1983 và 1986) giám
sát về tổ chức, nội dung hoạt động của hệ thống
nghiên cứu khoa học và kỹ thuật; Các năm còn lại
của nhiệm kỳ Khóa VII, Ủy ban đã giám sát việc
ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật trong một
số lĩnh vực như nông lâm, ngư nghiệp, năng
lượng, sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu, chủ
yếu đi vào trọng tâm là vấn đề điều tra cơ bản,
quy trình công nghệ, sáng kiến cải tiến, chất
lượng sản phẩm, trình độ trang thiết bị ... Việc
lựa chọn những chuyên đề giám sát của nhiệm kỳ
này Ủy ban đã đi vào khảo sát, góp phần tháo gỡ
những vướng mắc lớn trong lĩnh vực khoa học và
kỹ thuật cũng như những yêu cầu trọng điểm của
nền kinh tế quốc dân thời kỳ này. Các đoàn công
tác giám sát, khảo sát của Ủy ban đã góp phần
giải quyết được một số việc cụ thể và tăng cường
mối liên hệ của Ủy ban với các địa phương, các
cơ sở sản xuất, nghiên cứu và đông đảo lực lượng
cán bộ khoa học và kỹ thuật .
Nhiệm kỳ Khóa VIII, trong những năm 1987, 1988,
1999, trọng tâm công tác giám sát của Ủy ban là
bám sát các mục tiêu của 3 chương trình kinh tế
lớn do Đại hội Đảng VI đề ra, Nghị quyết 37 của
Bộ Chính trị về khoa học và kỹ thuật mà xem xét
việc ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật
trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, năng
lượng, công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng
và xuất khẩu. Các năm còn lại của nhiệm kỳ, Ủy
ban đã xem xét vấn đề đổi mới thiết bị và công
nghệ để đáp ứng với cơ chế kinh tế mới trong các
ngành kinh tế then chốt ở thời kỳ đó.
Nhiệm kỳ IX, Ủy ban đã tập trung giám sát các
lĩnh vực: Giám sát việc thực hiện luật, pháp
lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ và
bảo vệ môi trường; giám sát việc thực hiện ngân
sách cho công tác khoa học, công nghệ và bảo vệ
môi trường trong các kế hoạch 5 năm và hàng năm
phục vụ chương trình phát triển KT - XH của đất
nước, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và
xây dựng tiềm lực khoa học, công nghệ, cải thiện
môi trường...
Nhiệm kỳ X, Ủy ban đã tổ chức các loại hình giám
sát: Giám sát thường xuyên về việc thực hiện
Nghị quyết của Quốc hội, các văn bản pháp luật
trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi
trường, tại các bộ, ngành và địa phương; Giám
sát việc thực hiện triển khai các hoạt động khoa
học, công nghệ của các bộ, ngành, các viện,
trường, theo các kế hoạch đã được Quốc họi thông
qua; Giám sát các vụ, việc xuất hiện đột xuất về
khoa học, công nghệ và môi trường; Giám sát theo
chuyên đề trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và
môi trường có ý nghĩa quan trọng.
Nhìn chung, công tác giám sát của Ủy ban nhiệm
kỳ X đã có bước tiến bộ mới, thúc đẩy hoạt động
trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi
trường, góp phần phát triển KT- XH.
Nhiệm kỳ XI, Ủy ban đã tổ chức các loại hình
giám sát: Giám sát thường xuyên về việc thực
hiện Nghị quyết của Quốc hội, các văn bản pháp
luật trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi
trường tại các bộ, ngành và địa phương; Giám sát
việc thực hiện triển khai các hoạt động khoa
học, công nghệ và môi trường của các bộ, ngành,
các viện, trường; Giám sát các vụ, việc xuất
hiện đột xuất về khoa học, công nghệ và môi
trường; Giám sát theo chuyên đề trong lĩnh vực
khoa học, công nghệ và môi trường có ý nghĩa
quan trọng.
Công tác giám sát được tập trung vào các công
trình quan trọng quốc gia như: dự án Khí- Điện-
Đạm tại Bà Rịa- Vũng Tàu, dự án Nhà máy Lọc dầu
số 1 Dung Quất, dự án Thủy điện Sơn La, dự án
đường Hồ Chí Minh, dự án Khí – Điện – Đạm Cà
Mau, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Ngoài ra
Ủy ban định kỳ giám sát tình hình thực hiện
nhiệm vụ, ngân sách cho khoa học, công nghệ và
môi trường; Việc ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật liên quan đến khoa học, công nghệ và
môi trường ...
Ngoài ra, ở tất cả các nhiệm kỳ, Ủy ban đã hoàn
thành tốt các nhiệm vụ khác theo quy định của
Luật Tổ chức Quốc hội và nhiệm vụ được Ủy ban
Thường vụ Quốc hội giao, góp phần vào kết quả
hoạt động chung của Quốc hội.
Thẩm tra Nghị quyết về công trình quan trọng
quốc gia
Đây là việc làm mới trong hoạt động của Quốc
hội, thực sự là một bước chuyển biến lớn, thiết
thực để nâng cao vai trò của cơ quan lập pháp
trong việc quyết định các vấn đề quan trọng phát
triển đất nước. Ủy ban đã tiến hành thẩm tra
đúng quy trình, không những là kinh nghiệm của
nhiệm kỳ này mà còn cho các nhiệm kỳ sau. Một
trong những văn bản pháp luật quan trọng mà Ủy
ban đã chủ trì thẩm tra là Nghị quyết về tiêu
chuẩn các công trình quan trọng quốc gia trình
Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư.
Bằng việc thông qua Nghị quyết này, Quốc hội đã
ban hành hệ thống tiêu chuẩn, trong đó có tiêu
chuẩn về bảo vệ môi trường của các công trình có
ảnh hương lớn mà Chính phủ phải trình Quốc hội
xem xét thông qua. Nhiệm kỳ X, Ủy ban đã chủ trì
thẩm tra: Nghị quyết về Tiêu chuẩn các công
trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội xem
xét, quyết định chủ trương đầu tư, Nghị quyết về
dự án Khí- Điện- Đạm tại Bà Rịa- Vũng Tàu, Nghị
quyết về dự án Nhà máy Lọc dầu số 1 Dung Quất,
Nghị quyết về dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng,
Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án Nhà máy
Thủy điện Sơn La. Và, Quốc hội Khóa XI ban hành
Nghị quyết về phương án xây dựng công trình Thủy
điện Sơn La (Nghị quyết số 13/2002/QH11).
Nhiệm kỳ XI, Ủy ban chủ trì thẩm tra dự án đường
Hồ Chí Minh, dự án Khí – Điện- Đạm Cà Mau.
Có thể bước đầu rút ra nhận xét rằng, do được
tăng cường về số lượng đại biểu chuyên trách,
cán bộ, chuyên viên giúp việc của Vụ khoa học,
công nghệ và môi trường, các điều kiện, phương
tiện làm việc được tăng cường, kinh phí hoạt
động của Ủy ban dần dần được tăng lên; Nhất là
sự đổi mới hoạt động của Quốc hội, của Ủy ban và
do yêu cầu thực tiễn của đất nước cũng như yêu
cầu hội nhập kinh tế đòi hỏi... nên các hoạt
động của Ủy ban ngày càng hiệu quả trên mọi
mặt.
Sự đổi mới và phát triển của Ủy ban qua các
nhiệm kỳ khóa IX, X và XI
Cùng với sự phát triển của đất nước theo đường
lối đổi mới bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng đề
ra, hoạt động của Quốc hội nói chung, của Hội
đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội nói riêng
đã từng bước đổi mới và phát triển qua từng
nhiệm kỳ của Quốc hội. Trong đó có sự đổi mới và
phát triển của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật của
Quốc hội.
Hiến pháp năm 1992 đã có những đổi mới quan
trọng, trong đó có các quy định: khoa học và
công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Hội
đồng dân tộc, mỗi Ủy ban của Quốc hội có một số
thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách...
Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 cụ thể hóa những
quy định của Hiến pháp năm 1992, đã có những quy
định cần thiết để làm cơ sở pháp lý cho việc đổi
mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong đó
quy định Quốc hội thành lập Ủy ban Khoa học,
Công nghệ và Môi trường
Bắt đầu từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX, Ủy ban
Khoa học và Kỹ thuật của Quốc hội.được Quốc hội
đổi tên thành Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi
trường của Quốc hội. Sự đổi tên này không chỉ có
ý nghĩa của tên gọi mới mà còn thể hiện sự đổi
mới và sự phát triển của Ủy ban trong thời kỳ
phát triển mới của đất nước.
Một số kinh nghiệm bước đầu và kiến nghị nhằm
tăng cường hoạt động của Ủy ban Khoa học, Công
nghệ và Môi trường
Trên cơ sở tìm hiểu và khái quát quá trình thành
lập và phát triển của Ủy ban Khoa học, Công
nghệ và Môi trường của Quốc hội trải qua gần 5
nhiệm kỳ, bắt đầu từ khi được Quốc hội thành lập
cho đến nay, bước đầu tôi xin nêu một số kinh
nghiệm và xin đề xuất một số kiến nghị như sau:
Trước hết, đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội và
Quốc hội trong các nhiệm kỳ tiếp theo, nghiên
cứu từng bước tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội
chuyên trách hoạt động tại Ủy ban Khoa học, Công
nghệ và Môi trường theo hướng số đại biểu chuyên
trách hoạt động trong Ủy ban chiếm tỷ lệ khoảng
từ 30% đến 50% tổng số đại biểu của Ủy ban. Cơ
cấu của thành viên Ủy ban cần bảo đảm một tỷ lệ
hợp lý giữa các lĩnh vực: Khoa học kỹ thuật và
công nghệ, Khoa học tự nhiên, Khoa học quản lý,
Khoa học xã hội và nhân văn, Khoa học pháp
lý..., giảm dần các thành viên là giám đốc,
tổng giám đốc các doanh nghiệp vì các thành viên
này rất bận rộn với công việc quản lý tại cơ
sở, do đó quỹ thời gian quá eo hẹp cho các hoạt
động của Ủy ban.
Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của Ủy
ban, từng bước ứng dụng luật giao dịch điện tử
vào các hoạt động của Ủy ban, ví dụ như: lấy ý
kiến đóng góp vào các văn bản , trong đó có việc
góp ý kiến vào các dự án luật, phpá lệnh...
thông qua phương tiện điện tử. Tăng cường trang
bị phương tiện điện tử cho thành viên Ủy ban
Khoa học, Công nghệ và Môi trường cũng như các
cơ quan khác của Quốc hội.
Để từng bước khắc phục tình trạng luật đã được
ban hành nhưng chưa được thực hiện vì phải chờ
Nghị định hướng dẫn thi hành, thì cần phấn đấu
giảm dần luật khung, soạn thảo luật tương đối
chi tiết, nếu còn những điều nào cần Chính phủ
hướng dẫn thi hành thì nên quy định ngay vào
Điều hướng dẫn thi hành của luật đó, đồng thời
quy định thời gian có hiệu lực thi hành của
luật đồng thời là thời gian có hiệu lực thi hành
của Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành một số
điều đã được quy định ngay trong luật đó.
Đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội khuyến khích,
chỉ đạo
Hội đồng dân tộc,
các
Ủy ban của
Quốc
hội, Ban công tác lập pháp của
Ủy ban thường vụ Quốc hội
chủ trì soạn thảo một số dự án luật, pháp lệnh,
góp phần đẩy
nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng xây dựng
luật, pháp lệnh; tạo quan hệ phối hợp, hiểu biết
lẫn nhau giữa các cơ quan của Quốc hội với các
cơ quan của Chính phủ và các tổ chức khác.
Thực tế của việc soạn thảo dự án Luật giao dịch
điện tử chứng minh rằng các cơ quan của Quốc
hội
có thể chủ trì soạn thảo thành công các dự án
luật, pháp lệnh; có thể phối hợp với các cơ quan
Chính phủ và phi chính phủ, tập hợp các chuyên
gia trong và ngoài nước vào việc soạn thảo Luật,
pháp lệnh; có thế mạnh trong việc soạn thảo các
dự án luật, pháp lệnh liên quan đến nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực; khách quan trong việc luật hóa
các cơ chế, chính sách.
Đề nghị sớm xây dựng định mức và có kinh phí cấp
cho việc soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh
theo tinh thần quy định tại khoản 4 Điều 25 Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật: “Cơ quan,
tổ chức chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm bảo
đảm các điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo”.
Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân số 254, 256,
257 |