Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Vài nét về tổ chức và hoạt động của UB Văn hoá,

Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng 

Nguyễn Viết Lểnh

 Vụ trưởng Vụ Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng

 

Tại Quốc hội Khoá III (1964-1971), cùng với hai Ủy ban đã được hình thành từ  Khoá II, Quốc hội đã thành lập thêm hai Ủy ban là Ủy ban Dân tộc và Ủy ban Văn hoá và Xã hội. Việc thành lập Ủy ban Văn hoá và Xã hội đã được Quốc hội Khoá III khẳng định tại Nghị quyết ngày 3.7.1964. Tại Khoá VI (1976-1981), Quốc hội tách Ủy ban Văn hoá và Xã hội thành Ủy ban Văn hoá và Giáo dục và Ủy ban Y tế và Xã hội. Đến Quốc hội Khoá VII (1981-1987), Quốc hội lại tách Ủy ban Văn hoá và Giáo dục thành 3 Ủy ban, bao gồm: Ủy ban Văn hoá và Giáo dục, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật, Ủy ban Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng. Sang Khoá IX, Quốc hội sáp nhập Ủy ban Văn hoá và Giáo dục với Ủy ban Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, tạo nên một Ủy ban có tên Văn hóa, Giáo dục, TN-TN và NĐ ghi danh hai lĩnh vực (văn hoá, giáo dục) và hai đối tượng (thanh niên và trẻ em). Ngoài ra, Ủy ban còn có nhiệm vụ phụ trách cả lĩnh vực thể dục thể thao, phát thanh truyền hình - dù không được ghi trong tên của Ủy ban.

1. Về tổ chức của Ủy ban

Khoá IX, số thành viên Ủy ban được Quốc hội bầu là 30, trong đó có Chủ nhiệm, 4 Phó Chủ nhiệm (2 Phó Chủ nhiệm chuyên trách, 2 Phó Chủ nhiệm kiêm nhiệm). Về cơ cấu thành viên Ủy ban có: 10 thành viên hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - nghệ thuật; 9 thành viên hoạt động trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo; 7 thành viên hoạt động trên lĩnh vực thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; 4 thành viên hoạt động trên lĩnh vực chính trị - xã hội. Trong số thành viên Ủy ban, có 14 đại biểu nữ, 5 đại biểu là người dân tộc thiểu số, 5 đại biểu có học hàm, học vị Phó Giáo sư, Phó Tiến sĩ, 6 đại biểu là văn nghệ sĩ. Ủy ban không thành lập các tiểu ban.

Khoá X, số thành viên Ủy ban được Quốc hội bầu là 34 (14 nữ, 20 nam) trong đó có Chủ nhiệm, 3 Phó Chủ nhiệm (2 Phó Chủ nhiệm chuyên trách, 1 Phó Chủ nhiệm kiêm nhiệm). Chủ nhiệm và các Phó Chủ nhiệm Ủy ban hợp thành Thường trực Ủy ban. Về cơ cấu thành viên Ủy ban có:  6 thành viên hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - nghệ thuật;  15 thành viên hoạt động trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo; 7 thành viên hoạt động trên lĩnh vực thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; 6 thành viên hoạt động trên lĩnh vực chính trị - xã hội.

Các thành viên Ủy ban đều có trình độ đại học trở lên, trong đó có 9 người là Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, 3 người là Thạc sĩ.

Khoá XI, số thành viên Ủy ban được Quốc hội bầu là 37 (16 nữ, 21 nam) trong đó có Chủ nhiệm, 4 Phó Chủ nhiệm. Về cơ cấu thành viên Ủy ban có: 7 thành viên hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - nghệ thuật; 13 thành viên hoạt động trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo; 10 thành viên hoạt động trên lĩnh vực thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; 7 thành viên hoạt động trên lĩnh vực chính trị - xã hội. Các thành viên Ủy ban đều có trình độ đại học trở lên, trong đó có 7 người là Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, 7 người là Thạc sĩ. Ủy ban có 15 thành viên hoạt động chuyên trách, trong đó có 6 đồng chí trong Thường trực Ủy ban và 9 đồng chí là Phó Đoàn đại biểu Quốc hội của các tỉnh (từ tháng 1/2006, một đồng chí sẽ chuyển từ Phó Đoàn đại biểu của tỉnh về Thường trực Ủy ban). Tại Khoá này, Ủy ban đã thành lập 4 tiểu ban, do 4 Phó Chủ nhiệm Ủy ban là Trưởng Tiểu ban, bao gồm: Tiểu ban Văn hoá - Thông tin; Tiểu ban Đào tạo; Tiểu ban Giáo dục Phổ thông và Mầm non; Tiểu ban Thanh Thiếu Nhi và Thể thao.

Về bộ máy giúp việc, nếu như vào đầu Khoá IX, Vụ chuyên môn của Ủy ban chỉ là một nhóm nhỏ tách ra từ Vụ Hội đồng và các Ủy ban của Văn phòng Quốc hội thì đến nhiệm kỳ Khoá XI của Quốc hội, Vụ chuyên môn của Ủy ban được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Vụ chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Thường trực Ủy ban và phối hợp với các đơn vị khác trong Văn phòng Quốc hội trong việc phục vụ các hoạt động của Ủy ban. Nhìn chung, công tác tham mưu, phục vụ của Vụ đã đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản trong việc tổ chức các hoạt động của Ủy ban và tham gia phục vụ các công tác khác của Văn phòng và của Quốc hội. Tuy nhiên, so với yêu cầu của tình hình mới, Vụ cần được bổ sung về biên chế và bồi dưỡng thêm về trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho một số đồng chí. 

2. Về hoạt động của Ủy ban

Về công tác lập pháp

Từ khoá I X đến  kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá XI, Ủy ban đã chủ trì thẩm tra và tham gia xây dựng để Quốc hội thông qua 8 luật và 4 pháp lệnh. Cụ thể là, tại khoá IX có Luật Xuất bản (1993), Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả (1994); tại Khoá X có Luật Giáo dục (1998), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí (1999), Pháp lệnh Thể dục thể thao (2000), Pháp lệnh Thư viện (2000), Luật Di sản văn hoá (2001), Pháp lệnh Quảng cáo (2001); tại khoá XI có ba luật sửa đổi là Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004), Luật Xuật bản (2004), Luật Giáo dục (2005) và một mới là Luật Thanh niên (2005). Tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá XI, Ủy ban đã thẩm tra để Quốc hội cho ý kiên lần thứ nhất đối với Dự án Luật Điện ảnh. Đồng thời, Ủy ban đã tham gia ý kiến đối với các dự án luật do các Ủy ban khác chủ trì thẩm tra để góp phần cải tiến phương thức, nâng cao chất lượng và đẩy mạnh tiến độ xây dựng pháp luật của Quốc hội.

Để hoàn thành được nhiệm vụ chủ trì thẩm tra và tham gia xây dựng luật, pháp lệnh như trên, Thường trực Ủy ban của các khoá Quốc hội đã có sự nghiên cứu, không ngừng cải tiến phương thức thu thập thông tin, ý kiến của cử tri, đặc biệt là các cử tri có liên quan trực tiếp đến từng dự án luật, pháp lệnh. Ví dụ: Đối với Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, qua nghiên cứu nội dung Dự án và qua kết quả khảo sát của 3 đoàn của Thường trực Ủy ban tại 15 cơ quan báo chí Trung ­ương và địa phư­ơng, Thường trực Ủy ban nhận thấy, về cơ bản, Luật báo chí năm 1989 vẫn đang điều chỉnh có hiệu quả các hoạt động báo chí của đất n­ước, chỉ có một số nội dung tại một số điều cần đ­ược sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của sự nghiệp báo chí trong tình hình mới và xu thế chung của thời đại. Vì vậy, Thư­ờng trực Ủy ban đã đề nghị Ủy ban th­ường vụ Quốc hội chỉ nên trình Quốc hội Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí.

Để thẩm tra Dự án Luật Di sản văn hoá, Thường trực Ủy ban đã tổ chức khảo sát tại 12 tỉnh, thành phố; tổ chức cuộc Hội thảo với các nhà khoa học, các nhà quản lý di sản văn hoá và pháp luật; phối hợp với Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức lấy ý kiến các nhà chuyên môn, các hội viên của các hội nói trên về Dự án Luật... Có thể nói rằng, nếu đem so sánh các bản dự thảo luật, pháp lệnh từ khi Chính phủ trình lần thứ nhất lên Quốc hội với bản dự thảo trình để Quốc hội xem xét, thông qua lần cuối cùng sẽ thấy đựơc vai trò và tinh thần trách của Quốc hội, của Ủy ban nói chung, của Thường trực Ủy ban - mà tiêu biểu là vai trò cầm trịch của Chủ nhiệm Ủy ban - nói riêng đối với từng quy phạm, từng câu chữ của mỗi văn bản pháp luật.

 Trong hai nhiệm kỳ sau (Khoá X và Khoá XI), Ủy ban đã thẩm tra tờ trình của Chính phủ để Quốc hội xem xét, thông qua ba bản nghị quyết quan trọng, chứa đựng nhiều quy phạm pháp luật, đó là Nghị quyết Về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, Nghị quyết Về phổ cập trung học cơ sở và Nghị quyết Về giáo dục. Để đi đến việc Quốc hội thông qua các nghị quyết nói trên, vai trò, trách nhiệm của Ủy ban cũng rất đáng được ghi nhận. Xin được nêu cụ thể như sau:

Thông qua công tác giám sát và căn cứ vào Luật Giáo dục, Luật tổ chức Quốc hội, Thường trực Ủy ban nhận thấy chủ trương phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông là những chủ trương lớn, quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục nên đã đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội nghe báo cáo hai vấn đề nói trên và cần trình Quốc hội để Quốc hội quyết định. Tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá X, Chính phủ đã trình Quốc hội về Chủ trương phổ cập giáo dục trung học cơ sở (2000-2010) Chủ trương đổi mới chương trình và sách giáo khoa của giáo dục phổ thông. Ủy ban đã tổ chức thẩm tra hai văn bản nói trên và có báo cáo (số 368 và 369 BC/VH-GD-TTN, ngày 15.11.2000) trình bày trước Quốc hội. Sau khi thảo luận, cân nhắc các ý kiến trình bày của Chính phủ và của Ủy ban, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết số 40/2000/QH10 Về đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông và Nghị quyết số 41/2000/QH10 Về phổ cập giáo dục trung học cơ sở tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội Khoá X.

Về công tác giám sát

Trong gần ba nhiệm kỳ Quốc hội, Th­ường trực Ủy ban đã tổ chức 24 cuộc làm việc để nghe đại diện lãnh đạo các bộ, ngành hữu quan báo cáo và nhiều lần đến làm việc với các bộ, ngành, tổ chức hữu quan như: Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Giáo dục - Đào tạo, Ủy ban Thể dục thể thao, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, nhiều cơ quan báo chí, xuất bản, Trung ­ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một số hội văn học - nghệ thuật, Hội Khoa học - Kỹ thuật, các liên đoàn thể thao ... Đối với các bộ, ngành là đối tượng giám sát chính của Ủy ban, Ủy ban còn nhận đ­ược báo cáo công tác thường xuyên về hoạt động của bộ, ngành đó.

            Để công tác giám sát có chất lượng, hiệu quả và rút kinh nghiệm thực tế từ công tác giám sát, từ năm 1993, hằng năm Ủy ban đã xem xét và quyết định một số chuyên đề khảo sát có tính nghiên cứu nhằm có tư liệu phục vụ một cách hệ thống công tác giám sát của Ủy ban. Công việc này, Ủy ban giao cho Thường trực Ủy ban và Vụ chuyên môn thực hiện, có sự tham gia của các thành viên Ủy ban, có báo cáo kết quả trước Ủy ban.  Về văn hoá - thông tin, Ủy ban đã thực hiện khảo sát 5 chuyên đề (Tình hình hoạt động của hệ thống phát thanh, truyền hình; Tình hình tổ chức và xây dựng đời sống văn hoá cơ sở; Tình hình và biện pháp để giữ gìn, phát triển và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong sự nghiệp đổi mới đất nước; Tình hình bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh; Tình hình bảo tồn di sản văn hoá truyền thống trong xây dựng nếp sống); Về giáo dục - đào tạo, đã thực hiện khảo sát 6 chuyên đề (Tình hình xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; Chính sách phổ cập giáo dục tiểu học ở những vùng khó khăn; Chế độ, chính sách đối với giáo viên phổ thông; Tình hình tổ chức và hoạt động các loại hình trường bán công, dân lập, tư thục; Tình hình và mạng lưới các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề hiện nay; Tình hình các trường trung học chuyên nghiệp); Về thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, đã thực hiện khảo sát 2 chuyên đề (Tình hình thanh thiếu niên phạm pháp và biện pháp phòng ngừa, giáo dục; Thực trạng về điều kiện vui chơi giải trí của thanh, thiếu niên).

            Rút kinh nghiệm hoạt động của Ủy ban tại nhiệm kỳ khoá IX của Quốc hội, trong nhiệm kỳ khoá X, Ủy ban tiếp tục lựa chọn một số chuyên đề khảo sát có tính nghiên cứu nhằm có tư liệu một cách hệ thống  phục vụ cho công tác giám sát của Ủy ban, như: Thường trực Ủy ban đã khảo sát Tình hình thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động văn hoá - thông tin, giáo dục - đào tạo, thể dục thể thao (1998); Tình hình và các biện pháp nâng cao chất l­ượng giáo dục không chính quy; Tình hình và những giải pháp cơ bản về trẻ em lang thang; Về tổ chức và hoạt động phát thanh, truyền hình (1999); Cơ sở lý luận và khảo sát thực tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá (2000); Tình hình triển khai thí điểm chương trình tiểu học và chương trình lớp 6 trung học cơ sở; Tình hình huy động thanh niên tham gia phát triển kinh tế-xã hội; Tình hình văn hoá cơ sở, trong đó có việc tổ chức thực hiện Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" (2001)...

Một trong những hoạt động giám sát tiêu biểu của nhiệm kỳ Khoá XI của Ủy ban là, căn cứ vào quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, Ủy ban có thêm nhiệm vụ giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (trước đây nhiệm vụ này do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đảm nhiệm). Ngoài các hoạt động giám sát thường xuyên hàng năm (chủ yếu là giao cho chuyên viên rà soát các văn bản mới ban hành), thực hiện Kế hoạch số 324/UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về "Giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao", Ủy ban đã thành lập Đoàn giám sát đến làm việc với đại diện lãnh đạo và các đơn vị trực thuộc của Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Văn hoá - Thông tin, Ủy ban Thể dục thể thao, Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em để nghe báo cáo về tình hình xây dựng trình Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở nghe báo cáo và tổng hợp, nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, Ủy ban nói trên, ngày 19/7/2005, Ủy ban đã gửi tới Ủy ban thường vụ Quốc hội bản báo cáo số 921 BC/VH-GD-TTN về kết quả của đợt giám sát. Kết quả hoạt động giám sát này đã góp phần vào kết quả báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội tại kỳ họp thứ 8. 

Các công tác khác

Ngoài hai nhiệm vụ quan trọng nhất của Ủy  ban là tham gia xây dựng pháp luật và giám sát việc thi hành pháp luật, Ủy ban còn tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khác do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, như công tác dân nguyện, công tác đối ngoại...

 Về công tác dân nguyện,  ở mỗi khoá Quốc hội, Ủy ban đã nhận được hàng trăm đơn thư khiếu nại, tố cáo và phản ánh nguyện vọng của công dân. Thường trực Ủy ban đã nghiên cứu, xem xét đơn thư và phối hợp với Văn phòng Quốc hội về cách giải quyết; có công văn gứi tới chính quyền, cơ quan chủ quản, cơ quan chức năng, đồng thời thông báo đến tập thể, cá nhân có đơn thư; đối với một số trường hợp, Thường trực Ủy ban cử người trực tiếp nghe đương sự  trình bày hoặc đến làm việc với các cơ quan chức năng để tìm hiểu tình hình thực tế để bàn cách giải quyết.

Mặc dù Ủy ban đã góp phần giải quyết dứt điểm một số vụ việc (như Vụ kiện kéo dài diễn ra tại Đài truyền hình Việt Nam; một số vụ kiện về chiếm dụng trái phép di tích lịch sử, văn hoá; về giải quyết chế độ đối với giáo viên; một số vụ việc xâm hại tính mạng, thân thể trẻ em ...) và đã nhận được công văn trả nghiêm túc của một số bộ, ngành, địa phương liên quan, nhưng kết quả giám sát việc thi hành theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo vẫn còn hạn chế, cần được đổi mới trong thời gian tới.

 Về hoạt động đối ngoại, theo chương trình hoạt động đối ngoại của từng nhệm kỳ, từng năm của Quốc hội và sự phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Ủy ban đã tổ chức đón tiếp và làm việc với các đoàn đại biểu của các Ủy ban tương ứng của quốc hội các nước, của các tổ chức quốc tế hữu quan đến thăm và làm việc tại Việt Nam; tổ chức các đoàn đại biểu Ủy ban đi thăm và trao đổi kinh nghiệm về các vấn đề liên quan đến hoạt động của Ủy ban. Nhìn chung, các Đoàn đi công tác nư­ớc ngoài của Ủy ban đã đ­ược chuẩn bị kỹ, xác định rõ mục tiêu, nội dung dự kiến tìm hiểu và các cơ quan, tổ chức cần làm việc nên đã giúp cho các đoàn nghiên cứu, tìm hiểu đư­ợc những kinh nghiệm của bạn trong lĩnh vực Ủy ban phụ trách.

Ngoài ra, Thường trực Ủy ban của các khoá đều có những hoạt động phối hợp tích cực với các tổ chức quốc tế, tiêu biểu là Quỹ Nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF), Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP), Ban điều hành một số dự án của Văn phòng Quốc hội và các Ủy ban của Quốc hội để tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị tập huấn nâng cao năng lực lập pháp và giám sát cho các thành viên Ủy ban, các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các địa phương.

Báo Người đại biểu nhân dân số 246, 247

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện