|
Vài nét về tổ chức và hoạt
động của UB Văn hoá,
Giáo dục, Thanh niên,
Thiếu niên và Nhi đồng
Nguyễn Viết Lểnh
Vụ trưởng Vụ Văn hoá,
Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng
Tại
Quốc hội Khoá III (1964-1971), cùng với
hai Ủy ban đã được hình thành từ Khoá II, Quốc
hội đã thành lập thêm hai Ủy ban là Ủy ban Dân
tộc và Ủy ban Văn hoá và Xã hội. Việc thành lập
Ủy ban Văn hoá và Xã hội đã được Quốc hội Khoá
III khẳng định tại Nghị quyết ngày 3.7.1964. Tại
Khoá VI (1976-1981), Quốc hội tách Ủy ban
Văn hoá và Xã hội thành Ủy ban Văn hoá và Giáo
dục và Ủy ban Y tế và Xã hội. Đến Quốc hội Khoá
VII (1981-1987), Quốc hội lại tách Ủy ban
Văn hoá và Giáo dục thành 3 Ủy ban, bao gồm: Ủy
ban Văn hoá và Giáo dục, Ủy ban Khoa học và Kỹ
thuật, Ủy ban Thanh niên, Thiếu niên và Nhi
đồng. Sang Khoá IX, Quốc hội sáp nhập Ủy ban Văn
hoá và Giáo dục với Ủy ban Thanh niên, Thiếu
niên và Nhi đồng, tạo nên một Ủy ban có tên Văn
hóa, Giáo dục, TN-TN và NĐ ghi danh hai lĩnh vực
(văn hoá, giáo dục) và hai đối tượng (thanh niên
và trẻ em). Ngoài ra, Ủy ban còn có nhiệm vụ phụ
trách cả lĩnh vực thể dục thể thao, phát thanh
truyền hình - dù không được ghi trong tên của Ủy
ban.
1. Về tổ chức của
Ủy ban
Khoá IX,
số thành viên Ủy ban được Quốc hội bầu là 30,
trong đó có Chủ nhiệm, 4 Phó Chủ nhiệm (2 Phó
Chủ nhiệm chuyên trách, 2 Phó Chủ nhiệm kiêm
nhiệm). Về cơ cấu thành viên Ủy ban có: 10 thành
viên hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - nghệ
thuật; 9 thành viên hoạt động trên lĩnh vực giáo
dục - đào tạo; 7 thành viên hoạt động trên lĩnh
vực thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; 4 thành
viên hoạt động trên lĩnh vực chính trị - xã hội.
Trong số thành viên Ủy ban, có 14 đại biểu nữ, 5
đại biểu là người dân tộc thiểu số, 5 đại biểu
có học hàm, học vị Phó Giáo sư, Phó Tiến sĩ, 6
đại biểu là văn nghệ sĩ. Ủy ban không thành lập
các tiểu ban.
Khoá X,
số thành viên Ủy ban được Quốc hội bầu là 34 (14
nữ, 20 nam) trong đó có Chủ nhiệm, 3 Phó Chủ
nhiệm (2 Phó Chủ nhiệm chuyên trách, 1 Phó Chủ
nhiệm kiêm nhiệm). Chủ nhiệm và các Phó Chủ
nhiệm Ủy ban hợp thành Thường trực Ủy ban. Về cơ
cấu thành viên Ủy ban có: 6 thành viên hoạt
động trên lĩnh vực văn hoá - nghệ thuật; 15
thành viên hoạt động trên lĩnh vực giáo dục -
đào tạo; 7 thành viên hoạt động trên lĩnh vực
thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; 6 thành viên
hoạt động trên lĩnh vực chính trị - xã hội.
Các thành viên Ủy
ban đều có trình độ đại học trở lên, trong đó có
9 người là Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, 3
người là Thạc sĩ.
Khoá XI,
số thành viên Ủy ban được Quốc hội bầu là 37 (16
nữ, 21 nam) trong đó có Chủ nhiệm, 4 Phó Chủ
nhiệm. Về cơ cấu thành viên Ủy ban có: 7 thành
viên hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - nghệ
thuật; 13 thành viên hoạt động trên lĩnh vực
giáo dục - đào tạo;
10 thành viên hoạt động trên lĩnh vực thanh
niên, thiếu niên và nhi đồng; 7 thành
viên hoạt động trên lĩnh vực chính trị - xã hội.
Các thành viên Ủy ban đều có trình độ đại học
trở lên, trong đó có 7 người là Giáo sư, Phó
Giáo sư, Tiến sĩ, 7 người là Thạc sĩ. Ủy ban có
15 thành viên hoạt động chuyên trách, trong đó
có 6 đồng chí trong Thường trực Ủy ban và 9 đồng
chí là Phó Đoàn đại biểu Quốc hội của các tỉnh
(từ tháng 1/2006, một đồng chí sẽ chuyển từ Phó
Đoàn đại biểu của tỉnh về Thường trực Ủy ban).
Tại Khoá này, Ủy ban đã thành lập 4 tiểu ban, do
4 Phó Chủ nhiệm Ủy ban là Trưởng Tiểu ban, bao
gồm: Tiểu ban Văn hoá - Thông tin; Tiểu ban Đào
tạo; Tiểu ban Giáo dục Phổ thông và Mầm non;
Tiểu ban Thanh Thiếu Nhi và Thể thao.
Về bộ máy giúp việc,
nếu như vào đầu Khoá IX, Vụ chuyên môn của Ủy
ban chỉ là một nhóm nhỏ tách ra từ Vụ Hội đồng
và các Ủy ban của Văn phòng Quốc hội thì đến
nhiệm kỳ Khoá XI của Quốc hội, Vụ chuyên môn của
Ủy ban được tăng cường cả về số lượng và chất
lượng. Theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc
hội, Vụ chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của
Thường trực Ủy ban và phối hợp với các đơn vị
khác trong Văn phòng Quốc hội trong việc phục vụ
các hoạt động của Ủy ban. Nhìn chung, công tác
tham mưu, phục vụ của Vụ đã đã đáp ứng được
những yêu cầu cơ bản trong việc tổ chức các hoạt
động của Ủy ban và tham gia phục vụ các công tác
khác của Văn phòng và của Quốc hội. Tuy nhiên,
so với yêu cầu của tình hình mới, Vụ cần được bổ
sung về biên chế và bồi dưỡng thêm về trình độ
nghiệp vụ chuyên môn cho một số đồng chí.
2. Về hoạt động
của Ủy ban
Về công tác lập
pháp
Từ khoá I X đến
kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá XI, Ủy ban đã chủ
trì thẩm tra và tham gia xây dựng để Quốc hội
thông qua 8 luật và 4 pháp lệnh. Cụ thể là, tại
khoá IX có Luật Xuất bản (1993), Pháp lệnh Bảo
hộ quyền tác giả (1994); tại Khoá X có Luật Giáo
dục (1998), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Báo chí (1999), Pháp lệnh Thể dục thể
thao (2000), Pháp lệnh Thư viện (2000), Luật Di
sản văn hoá (2001), Pháp lệnh Quảng cáo (2001);
tại khoá XI có ba luật sửa đổi là Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004), Luật Xuật
bản (2004), Luật Giáo dục (2005) và một mới là
Luật Thanh niên (2005). Tại kỳ họp thứ 8 của
Quốc hội khoá XI, Ủy ban đã thẩm tra để Quốc hội
cho ý kiên lần thứ nhất đối với Dự án Luật Điện
ảnh. Đồng thời, Ủy ban đã tham gia ý kiến đối
với các dự án luật do các Ủy ban khác chủ trì
thẩm tra để góp phần cải tiến phương thức, nâng
cao chất lượng và đẩy mạnh tiến độ xây dựng pháp
luật của Quốc hội.
Để
hoàn thành được nhiệm vụ chủ trì thẩm tra và
tham gia xây dựng luật, pháp lệnh như trên,
Thường trực Ủy ban của các khoá Quốc hội đã có
sự nghiên cứu, không ngừng cải tiến phương thức
thu thập thông tin, ý kiến của cử tri, đặc biệt
là các cử tri có liên quan trực tiếp đến từng dự
án luật, pháp lệnh. Ví dụ: Đối với Dự án
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Báo chí, qua nghiên cứu nội dung Dự án và
qua kết quả khảo sát của 3 đoàn của Thường trực
Ủy ban tại 15 cơ quan báo chí Trung ương và địa
phương, Thường trực Ủy ban nhận thấy, về cơ
bản, Luật báo chí năm 1989 vẫn đang điều chỉnh
có hiệu quả các hoạt động báo chí của đất nước,
chỉ có một số nội dung tại một số điều cần được
sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển
của sự nghiệp báo chí trong tình hình mới và xu
thế chung của thời đại. Vì vậy, Thường trực Ủy
ban đã đề nghị Ủy ban
thường vụ
Quốc hội chỉ nên trình Quốc hội Dự án Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí.
Để
thẩm tra Dự án Luật Di sản văn hoá, Thường trực Ủy ban đã tổ chức khảo sát tại 12
tỉnh, thành phố; tổ chức cuộc Hội thảo với các
nhà khoa học, các nhà quản lý di sản
văn hoá và
pháp luật; phối hợp với Hội Văn nghệ dân gian
Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức lấy ý
kiến các nhà chuyên môn, các hội viên của các
hội nói trên về Dự án Luật... Có thể nói
rằng, nếu đem so sánh các bản dự thảo luật, pháp
lệnh từ khi Chính phủ trình lần thứ nhất lên
Quốc hội với bản dự thảo trình để Quốc hội xem
xét, thông qua lần cuối cùng sẽ thấy đựơc vai
trò và tinh thần trách của Quốc hội, của Ủy ban
nói chung, của Thường trực Ủy ban - mà tiêu biểu
là vai trò cầm trịch của Chủ nhiệm Ủy ban - nói
riêng đối với từng quy phạm, từng câu chữ của
mỗi văn bản pháp luật.
Trong hai nhiệm
kỳ sau (Khoá X và Khoá XI), Ủy ban đã thẩm tra
tờ trình của Chính phủ để Quốc hội xem xét,
thông qua ba bản nghị quyết quan trọng, chứa
đựng nhiều quy phạm pháp luật, đó là Nghị quyết
Về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông,
Nghị quyết Về phổ cập trung học cơ sở và
Nghị quyết Về giáo dục. Để đi đến việc
Quốc hội thông qua các nghị quyết nói trên, vai
trò, trách nhiệm của Ủy ban cũng rất đáng được
ghi nhận. Xin được nêu cụ thể như sau:
Thông qua công tác giám sát và
căn cứ vào Luật
Giáo dục, Luật tổ chức Quốc hội, Thường trực Ủy
ban nhận thấy chủ trương phổ cập giáo dục trung
học cơ sở và đổi mới chương trình, sách giáo
khoa phổ thông là những chủ trương lớn, quan
trọng đối với sự nghiệp giáo dục nên đã đề nghị
Ủy ban thường vụ Quốc hội nghe báo cáo hai vấn
đề nói trên và cần trình Quốc hội để Quốc hội
quyết định. Tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá
X, Chính phủ đã trình Quốc hội về Chủ trương
phổ cập giáo dục trung học cơ sở (2000-2010)
và Chủ trương đổi mới chương trình và sách
giáo khoa của giáo dục phổ thông.
Ủy ban đã tổ
chức thẩm tra hai văn bản nói trên và có báo cáo
(số 368 và 369 BC/VH-GD-TTN, ngày 15.11.2000)
trình bày trước Quốc hội. Sau khi thảo luận, cân
nhắc các ý kiến trình bày của Chính phủ và của
Ủy ban, Quốc hội đã biểu quyết thông qua
Nghị quyết số 40/2000/QH10 Về đổi mới Chương
trình giáo dục phổ thông và Nghị quyết số
41/2000/QH10 Về phổ cập giáo dục trung học cơ
sở tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội Khoá X.
Về công tác giám
sát
Trong gần ba
nhiệm kỳ Quốc hội, Thường trực Ủy ban đã tổ
chức 24 cuộc làm việc để nghe đại diện lãnh đạo
các bộ, ngành hữu quan báo cáo và nhiều lần đến
làm việc với các bộ, ngành, tổ chức hữu quan
như: Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Giáo dục - Đào
tạo, Ủy ban Thể dục thể thao, Ủy ban Bảo vệ và
Chăm sóc trẻ em Việt Nam, Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Đài Tiếng nói Việt
Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, nhiều cơ quan báo
chí, xuất bản, Trung ương Đoàn thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một
số hội văn học - nghệ thuật, Hội Khoa học - Kỹ
thuật, các liên đoàn thể thao ... Đối với các
bộ, ngành là đối tượng giám sát chính của Ủy
ban, Ủy ban còn nhận được báo cáo công tác
thường xuyên về hoạt động của bộ, ngành đó.
Để công tác giám sát có chất lượng,
hiệu quả và rút kinh nghiệm thực tế từ công tác
giám sát, từ năm 1993, hằng năm Ủy ban đã xem
xét và quyết định một số chuyên đề khảo sát có
tính nghiên cứu nhằm có tư liệu phục vụ một cách
hệ thống công tác giám sát của Ủy ban. Công việc
này, Ủy ban giao cho Thường trực Ủy ban và Vụ
chuyên môn thực hiện, có sự tham gia của các
thành viên Ủy ban, có báo cáo kết quả trước Ủy
ban. Về văn hoá - thông tin, Ủy ban đã
thực hiện khảo sát 5 chuyên đề (Tình hình
hoạt động của hệ thống phát thanh, truyền hình;
Tình hình tổ chức và xây dựng đời sống văn hoá
cơ sở; Tình hình và biện pháp để giữ gìn, phát
triển và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong
sự nghiệp đổi mới đất nước; Tình hình bảo vệ và
sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam,
thắng cảnh; Tình hình bảo tồn di sản văn hoá
truyền thống trong xây dựng nếp sống); Về
giáo dục - đào tạo, đã thực hiện khảo sát
6 chuyên đề (Tình hình xoá mù chữ và phổ cập
giáo dục tiểu học; Chính sách phổ cập giáo dục
tiểu học ở những vùng khó khăn; Chế độ, chính
sách đối với giáo viên phổ thông; Tình hình tổ
chức và hoạt động các loại hình trường bán công,
dân lập, tư thục; Tình hình và mạng lưới các
trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy
nghề hiện nay; Tình hình các trường trung học
chuyên nghiệp); Về thanh niên, thiếu niên và
nhi đồng, đã thực hiện khảo sát 2 chuyên
đề (Tình hình thanh
thiếu niên phạm pháp và biện pháp phòng ngừa,
giáo dục; Thực trạng về điều kiện vui chơi giải
trí của thanh, thiếu niên).
Rút
kinh nghiệm hoạt động của Ủy ban tại nhiệm kỳ
khoá IX của Quốc hội, trong nhiệm kỳ khoá X, Ủy
ban tiếp tục lựa chọn một số chuyên đề khảo sát
có tính nghiên cứu nhằm có tư liệu một cách hệ
thống phục vụ cho công tác giám sát của Ủy ban,
như: Thường trực Ủy ban đã khảo sát Tình hình
thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động văn
hoá - thông tin, giáo dục - đào tạo, thể dục thể
thao (1998); Tình hình và các biện pháp nâng cao
chất lượng giáo dục không chính quy; Tình hình
và những giải pháp cơ bản về trẻ em lang thang;
Về tổ chức và hoạt động phát thanh, truyền hình
(1999); Cơ sở lý luận và khảo sát thực tế
về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá
(2000); Tình hình triển khai thí điểm chương
trình tiểu học và chương trình lớp 6 trung học
cơ sở; Tình hình huy động thanh niên tham gia
phát triển kinh tế-xã hội; Tình hình văn hoá cơ
sở, trong đó có việc tổ chức thực hiện Cuộc vận
động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá" (2001)...
Một trong những
hoạt động giám sát tiêu biểu của nhiệm kỳ Khoá
XI của Ủy ban là, căn cứ vào quy định của Luật
Tổ chức Quốc hội năm 2001, Ủy ban có thêm nhiệm
vụ giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật (trước đây nhiệm vụ này do Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao đảm nhiệm). Ngoài các hoạt
động giám sát thường xuyên hàng năm (chủ yếu là
giao cho chuyên viên rà soát các văn bản mới ban
hành), thực hiện Kế hoạch số 324/UBTVQH11 ngày
02/4/2005 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về
"Giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ,
cơ quan ngang bộ, Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao, Toà án nhân dân tối cao", Ủy ban đã
thành lập Đoàn giám sát đến làm việc với đại
diện lãnh đạo và các đơn vị trực thuộc của Bộ
Giáo dục - Đào tạo, Bộ Văn hoá - Thông tin, Ủy
ban Thể dục thể thao, Ủy ban Dân số - Gia đình
và Trẻ em để nghe báo cáo về tình hình xây dựng
trình Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm
quyền các văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở
nghe báo cáo và tổng hợp, nghiên cứu các văn bản
quy phạm pháp luật của các bộ, Ủy ban nói trên,
ngày 19/7/2005, Ủy ban đã gửi tới Ủy ban thường
vụ Quốc hội bản báo cáo số 921 BC/VH-GD-TTN về
kết quả của đợt giám sát. Kết quả hoạt động giám
sát này đã góp phần vào kết quả báo cáo của Ủy
ban thường vụ Quốc hội tại kỳ họp thứ 8.
Các công tác khác
Ngoài hai nhiệm
vụ quan trọng nhất của Ủy ban là tham gia xây
dựng pháp luật và giám sát việc thi hành pháp
luật, Ủy ban còn tổ chức thực hiện các nhiệm vụ
khác do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, như
công tác dân nguyện, công tác đối ngoại...
Về công tác dân nguyện,
ở mỗi khoá Quốc hội, Ủy ban đã nhận được hàng
trăm đơn thư khiếu nại, tố cáo và phản ánh
nguyện vọng của công dân. Thường trực Ủy ban đã
nghiên cứu, xem xét đơn thư và phối hợp với Văn
phòng Quốc hội về cách giải quyết; có công văn
gứi tới chính quyền, cơ quan chủ quản, cơ quan
chức năng, đồng thời thông báo đến tập thể, cá
nhân có đơn thư; đối với một số trường hợp,
Thường trực Ủy ban cử người trực tiếp nghe đương
sự trình bày hoặc đến làm việc với các cơ quan
chức năng để tìm hiểu tình hình thực tế để bàn
cách giải quyết.
Mặc dù Ủy ban đã
góp phần giải quyết dứt điểm một số vụ việc (như
Vụ kiện kéo dài diễn ra tại Đài truyền hình Việt
Nam; một số vụ kiện về chiếm dụng trái phép di
tích lịch sử, văn hoá; về giải quyết chế độ đối
với giáo viên; một số vụ việc xâm hại tính mạng,
thân thể trẻ em ...) và đã nhận được công văn
trả nghiêm túc của một số bộ, ngành, địa phương
liên quan, nhưng kết quả giám sát việc thi hành
theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo vẫn còn
hạn chế, cần được đổi mới trong thời gian tới.
Về hoạt động đối ngoại,
theo chương trình hoạt động đối ngoại của từng
nhệm kỳ, từng năm của Quốc hội và sự phân công
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Ủy
ban đã tổ chức đón tiếp và làm việc với các đoàn
đại biểu của các Ủy ban tương ứng của quốc hội
các nước, của các tổ chức quốc tế hữu quan đến
thăm và làm việc tại Việt Nam; tổ chức các đoàn
đại biểu Ủy ban đi thăm và trao đổi kinh nghiệm
về các vấn đề liên quan đến hoạt động của Ủy
ban. Nhìn chung, các Đoàn đi công tác nước
ngoài của Ủy ban đã được chuẩn bị kỹ, xác định
rõ mục tiêu, nội dung dự kiến tìm hiểu và các cơ
quan, tổ chức cần làm việc nên đã giúp cho các
đoàn nghiên cứu, tìm hiểu được những kinh
nghiệm của bạn trong lĩnh vực Ủy ban phụ trách.
Ngoài ra, Thường
trực Ủy ban của các khoá đều có những hoạt động
phối hợp tích cực với các tổ chức quốc tế, tiêu
biểu là Quỹ Nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF),
Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc tại
Việt Nam (UNDP), Ban điều hành một số dự án của
Văn phòng Quốc hội và các Ủy ban của Quốc hội để
tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị tập huấn
nâng cao năng lực lập pháp và giám sát cho các
thành viên Ủy ban, các đại biểu Quốc hội và đại
biểu Hội đồng nhân dân các địa phương.
Báo Người đại biểu nhân dân số 246, 247 |