|
Uỷ ban
về các vấn đề xã hội của Quốc hội
- Quá trình hình
thành và phát triển
Lương Phan Cừ
Phó Chủ nhiệm UB Về các vấn đề xã hội
Để có được uy tín trong lòng nhân dân, cử tri,
QH đã có những bước đổi mới, chuyển mình trong
quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ do
Hiến pháp, luật tổ chức QH quy định. Đó là cả
một thời gian dài trăn trở của các thế hệ lãnh
đạo Đảng, Nhà nước cũng như của các cơ quan của
QH, các vị đại biểu QH. Trong những thành tựu mà
QH đạt được trong thời gian qua, có sự đóng góp
của quá trình chuyển mình, đổi mới, nâng cao
chất lượng hoạt động của HĐDT và các Uỷ ban của
QH trong đó có Uỷ ban về các vấn đề xã hội. Điều
4 Luật tổ chức QH ghi rõ: Hiệu quả hoạt động
của QH được bảo đảm bằng kỳ họp QH, hoạt động
của UBTVQH, hoạt động của Hội đồng dân tộc, Uỷ
ban của QH, Đoàn đại biểu QH và các đại biểu QH.
Uỷ ban về các vấn đề xã hội được QH khoá VI
thành lập lần đầu tiên năm 1976 với tên gọi là
Uỷ ban y tế – xã hội và đến kỳ họp thứ nhất QH
khoá IX( 1992) được đổi mang tên Uỷ ban về các
vấn đề xã hội. Là một trong 7 Uỷ ban thường trực
của QH có chức năng nhiệm vụ : thẩm tra các dự
án luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực lao động, y tế,
xã hội, tôn giáo và các dự án khác do QH, UBTV
QH giao; giám sát việc thực hiện luật, nghị
quyết của QH, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH;
giám sát hoạt động của Chính phủ, các Bộ, cơ
quan ngang bộ và giám sát văn bản quy phạm pháp
luật trong lĩnh vực các vấn đề xã hội; và kiến
nghị về những vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt
động của các cơ quan hữu quan và các chính sách,
biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội.
Mặc dù cho đến nay, Uỷ ban mới có 9 đại biểu
chuyên trách trên tổng số 36 thành viên (Thành
lập từ QH khoá VI năm 1976 mà mãi cho đến QH
khoá IX năm 1992 thì mới có chủ nhiệm và 1 phó
chủ nhiệm chuyên trách ; đến khoá X năm 1997
cũng chỉ mới có 4 chuyên trách trong đó có chủ
nhiệm, 2 phó chủ nhiệm và 1 uỷ viên chuyên
trách) và Vụ chuyên môn chỉ mới được thành lập
năm 1993 lúc đầu chỉ có 4 cán bộ, chuyên viên
(trước đó chỉ có 1 chuyên viên chuyên theo dõi,
phục vụ nằm trong một Vụ của Văn phòng QH và
HĐNN có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, tham
mưu, tổ chức phục vụ hoạt động của HĐDT và 5 Uỷ
ban với tổng số 12 cán bộ, chuyên viên; Thời kỳ
này, riêng Uỷ ban pháp luật và Uỷ ban đối ngoại,
mỗi Uỷ ban có một Vụ chuyên môn phục vụ) và đến
nay cũng mới chỉ có 14 cán bộ chuyên viên nhưng
đã hoàn thành nhiệm vụ với việc đảm nhận một
khối lượng công việc ngày càng lớn, đòi hỏi chất
lượng ngày càng cao trên 6 lĩnh vực chuyên môn
bao quát: Lao động, việc làm, thu nhập; Y tế,
chăm sóc sức khoẻ nhân dân; Dân số – KHHGĐ (Dân
số – phát triển); Chính sách người có công và
bảo trợ xã hội; Giới (Phụ nữ) và tôn giáo; Phòng
chống ma tuý và các tệ nạn xã hội khác.
Trong quá trình hình thành và phát triển 30 năm
qua, Uỷ ban về các vấn đề xã hội của QH đã từng
bước phát triển, không ngừng đổi mới phương
thức, nâng cao số lượng và chất lượng hoạt động
để thực hiện có hiệu quả chức năng nhiệm vụ được
giao, góp một phần quan trong vào quá trình đổi
mới của QH, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của QH.
Hoạt động xây dựng, thẩm tra dự án Luật là nhiệm
vụ hết sức quan trọng của Uỷ ban. Mọi hoạt động
của Uỷ ban đều xoay quanh phục vụ cho việc tham
gia xây dựng và thẩm tra các dự án Luật được
QH, UBTVQH phân công chủ trì thẩm tra và tham
gia thẩm tra. Để thực hiện được điều này, Uỷ ban
đã có một thời gian dài trăn trở. Mặc dù được
thành lập từ năm 1976 (QH khoá VI) và được giao
nhiệm vụ thẩm tra Luật, pháp lệnh, nhưng mãi cho
tới cuối những năm 80, cuối nhiệm kỳ QH khoá VII
( 1989) thì Uỷ ban y tế - xã hội mới được giao
cho nhiệm vụ chủ trì thẩm tra dự án Luật bảo vệ
sức khoẻ nhân dân. Trước thời điểm này việc thẩm
tra các dự án luật hầu như đều do Uỷ ban pháp
luật đảm nhiệm. Riêng một số dự án liên quan đến
thuế thì mới giao cho Uỷ ban kinh tế – kế hoạch
và ngân sách chủ trì thẩm tra. Mặc dù theo quy
định của Luật, các Uỷ ban đều có chức năng,
nhiệm vụ như nhau, trong đó có nhiệm vụ thẩm tra
dự án luật song hầu như tất cả các luật trình
QH, UBTVQH ( HĐNN) đều do Uỷ ban pháp luật chủ
trì thẩm tra, còn các Uỷ ban khác và Hội đồng
dân tộc chỉ làm nhiệm vụ tham gia thẩm tra. Vai
trò tham gia xây dựng và thẩm tra Luật, pháp
lệnh của HĐDT và các Uỷ ban trong một thời gian
dài hết sức mờ nhạt, mang nặng tính hình thức.
Thời gian này, tồn tại ý kiến cho rằng các dự
án pháp luật trình QH chỉ do Uỷ ban pháp luật
chủ trì, các Uỷ ban khác chỉ tham gia. Với trách
nhiệm của mình, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ
được pháp luật giao, Uỷ ban Y tế – xã hội cho
rằng các Uỷ ban chuyên môn khác cũng phải tham
gia xây dựng, chủ trì thẩm tra những dự án luật
thuộc lĩnh vực chuyên môn mà Uỷ ban phụ trách,
có như vậy mới nâng cao chất lượng những dự án
mang tính chuyên môn, đẩy nhanh tiến độ xây
dựng, xem xét, thông qua các dự án luật. Cùng
với các Uỷ ban chuyên môn khắc, càng ngày Uỷ ban
về các vấn đề xã hội được giao cho chủ trì thẩm
tra nhiều dự án Luật hơn. Hầu hết các dự án luật
liên quan đến lĩnh vực Uỷ ban phụ trách như: Bộ
luật lao động, Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân,
Luật phòng chống ma túy, Pháp lệnh hành nghề y
dược tư nhân, Pháp lệnh phòng chống HIV/AIDS,
Pháp lệnh người cao tuổi, người tàn tật, pháp
lệnh dân số ... được giao cho Uỷ ban về các vấn
đề xã hội chủ trì thẩm tra. Và hoạt động này
được QH, đại biểu QH đánh giá tốt. Nếu ở nhiệm
kỳ QH khoá VIII Uỷ ban về các vấn đề xã hội chỉ
chủ trì thẩm tra một dự án Luật, thì đến khoá
IX, khoá X đã chủ trì thẩm tra mỗi khoá 1 luật
và 5 Pháp lệnh; Nhiệm kỳ QH khoá XI chỉ mới có 8
kỳ họp mà Uỷ ban đã chủ trì thẩm tra 3 luật và 6
pháp lệnh và ngoài ra còn đang tiến hành các
hoạt động chuẩn bị thẩm tra nhiều Luật, pháp
lệnh khác. Điều đó càng ngày càng khẳng định
việc HĐDT và các Uỷ ban khác trong đó có Uỷ ban
về các vấn đề xã hội tham gia xây dựng và chủ
trì thẩm tra các đạo luật là cần thiết và chính
điều đó đã đổi mới việc xây dựng, xem xét, thông
qua luật của QH, góp phần thúc đẩy tăng nhanh số
lượng và chất lượng ban hành Luật , pháp lệnh
của QH, UBTVQH như ngày hôm nay.
Để thẩm tra dự án luật Uỷ ban đã tiến hành nhiều
hoạt động nhằm nâng cao chất lượng thẩm tra,
cùng với cơ quan soạn thảo xây dựng, hoàn thiện
dự án trước khi trình QH, UBTVQH thông qua. Hoạt
động này đã có bước phát triển, nếu như trong
nhiệm kỳ QH khoá VIII, để thẩm tra dự án Luật
bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Uỷ ban chỉ tổ chức
một số đoàn nghe ý kiến của nhân dân, đại điện
một số cơ quan, đoàn thể ở một số địa phương và
một vài lần nghe cơ quan soạn thảo báo cáo (
mang tính hình thức nhiều hơn) thì đến nay quy
trình này đã phát triển thông qua nhiều hoạt
động bổ trợ như: Tổ chức nhiều cuộc hội thảo,
hội nghị lấy ý kiến chuyên gia, nhà quản lý, đối
tượng bị tác động trực tiếp; Nghe cơ quan soạn
thảo báo cáo nội dung dự thảo nhiều lần và Uỷ
ban cũng tổ chức cung cấp khá đầy đủ thông tin
cho các thành viên, tổ chức nhiều hoạt động
trong thường trực Uỷ ban, thường trực mở rông và
toàn thể Uỷ ban để đóng góp, xây dựng dự án Luật,
pháp lệnh và báo cáo thẩm tra, cũng như phối
hợp với Ban soạn thảo và các cơ quan chức năng
chuẩn bị báo caó giải trình tiếp thụ, chỉnh lý
dự án trình UBTVQH, QH trong quá trình xem xét,
cho ý kiến để hoàn thiện dự án trước khi QH,
UBTVQH thông qua. Với quy trình xây dựng, thông
qua Luật được đổi mới, hoạt động thẩm tra của Uỷ
ban về các vấn đề xã hội cũng đổi mới thông qua
nhiều hoạt động tập trung khai thác mọi trí tuệ,
tập hợp rộng rãi các ý kiến đóng góp từ các địa
phương, các ngành hữu quan, các đoàn thể, các
chuyên gia, các nhà quản lý hoạt động thực tiễn
cũng như trí tuệ của cả tập thể Uỷ ban để bàn
bạc, thảo luận kỹ từng vấn đề mà dự án Luật,
pháp lệnh đặt ra. Từ đó nầng cao chất lượng xây
dựng, thẩm tra, góp phần nâng cao chất lượng dự
án trình QH, UBTVQH. Có thể nói hoạt động xây
dựng, thẩm tra dự án Luật, pháp lệnh của Uỷ ban
về các vấn đề xã hội đã góp một phần không nhỏ
vào việc giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp,
bức xúc do mặt trái của cơ chế thị trường sinh
ra trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới,
cũng như góp phần tăng nhanh số lượng và chất
lượng Luật, pháp lệnh được thông qua trong
những nhiệm kỳ QH gần đây.
>Trang [2]
Báo Người đại biểu nhân dân số 239, ngày
06-12-2005 |