|
(tiếp theo và hết)
Bên cạnh hoạt động xây dựng và thẩm tra, Hoạt
động giám sát cũng là hoạt động không kém phần
quan trọng được Uỷ ban chú ý, quan tâm thực hiện
và ngày càng thiết thực hơn. Trong nhiệm kỳ QH
khoá VII, Uỷ ban chỉ tiến hành 12 phiên họp toàn
thể Uỷ ban và tổ chức 28 Đoàn công tác, đã xây
dựng 8 báo cáo chuyên đề trước HĐNN và 6 lần
thuyết trình trước QH với những nội dung liên
quan đến chuyên môn mà Uỷ ban phụ trách. Đến QH
khoá X, khoá XI Uỷ ban về các vấn đề xã hội đã
tổ chức nhiều hội nghị toàn thể Uỷ ban, hội nghị
thường trực mở rộng, hội nghị thường trực; Tổ
chức nhiều hội nghị, hội thảo với nhiều cấp độ
khác nhau; tổ chức nhiều đoàn giám sát, khảo sát,
nhiều cuộc nghiên cứu. Riêng nhiệm kỳ QH khoá X,
Uỷ ban đã tiến hành 88 cuộc giám sát, khảo sát ở
55 tỉnh, thành phố; đã tổ chức hơn 30 cuộc làm
việc với các Bộ, ngành TƯ; đã tổ chức 27 cuộc
Hội nghị, hội thảo khu vực, quốc gia về nhiều
lĩnh vực liên quan đến lĩnh vực chuyên môn Uỷ
ban phụ trách. Ngoài ra Uỷ ban còn tham gia
nhiều hội nghị quốc tế, tiếp và làm việc với
nhiều đoàn Uỷ ban tương ứng của Quốc hội một số
nước, nhiều tổ chức quốc tế đến thăm và trao đổi
kinh nghiệm. Nhiều kiến nghị lớn của Uỷ ban đã
được Chính phủ, các Bộ, ngành tiếp thụ, xử lý ví
dụ như: Việc chuyển nội dung chương trình dân
số – kế hoạch hoá gia đình thành nội dung dân
số và phát triển. Việc chuyển trọng tâm giảm
sinh là chủ yếu (những năm trước 2000) sang việc
nâng cao chất lượng sống, gắn kết công tác kế
hoạch hoá với sự phát triển bền vững, quan tâm
tới sức khoẻ sinh sản, chăm sóc sức khoẻ Bà mẹ,
trẻ em, quan tâm đến giáo dục giới tính, môi
trường sống...Hoặc kiến nghị liên quan đến di
dân tái định cư. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế
mà là vấn đề kinh tế xã hội lớn. Kiến nghị này
được tiếp thụ và được vận dụng vào việc di dân
tái định cư đối với công trình thuỷ điện Sơn La
(coi di dân là một phần quan trọng của công
trình, dự án), quan tâm tới người di cư tự do,
phân công trách nhiệm cho chính quyền cả nơi đi
và nơi đến nhằm ổn định nhanh đời sống cho đối
tượng này.
Phải nói rằng, càng ngày hoạt động thực hiện
chức năng nhiệm vụ của Uỷ ban về các vấn đề xã
hội càng tốt hơn được xã hội, nhiều cơ quan ở
địa phương, cơ quan TƯ cũng như QH, đại biểu QH
thừa nhận và đánh giá cao. Thường trực HĐND,
ban văn hoá xã hội của HĐND nhiều tỉnh, thành
phố và một số cơ quan, tổ chức khác đã tiếp nhận
những kinh nghiệm, thông tin, kiến thức mà Uỷ
ban về các vấn đề xã hội chuyển tải để áp dụng
trong việc nâng cao chất lượng hoạt động, thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong quá
trình tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật
của Nhà nước về lĩnh vực xã hội. Qua đó đã tác
động làm cho việc thực hiện nhiều vấn đề xã hội
được tốt hơn. Ví dụ: trước tình hình phát triển
dân số mất cân đối quá lớn với phát triển kinh
tế, gây ra nhiều hậu quả xấu về kinh tế, việc
làm, môi trường... Uỷ ban đã nhiều lần phát biểu
đề cập đến vấn đề này với QH, HĐNN, Chính phủ.
Nhờ vậy mà đã góp phần thúc đẩy sự ra đời của Uỷ
ban quốc gia dân số năm 1984, Chiến lược dân số
– kế hoạch hoá gia đình và chiến lược truyền
thông dân số – kế hoạch hoá gia đình năm 1993.
Sau đó Uỷ ban đã tiến hành hàng loạt hoạt động,
phối hợp cùng Uỷ ban quốc gia về dân số – kế
hoạch hoá gia đình tuyên truyền nâng cao nhận
thức, đặc biệt là nhận thức của cản bộ, đảng
viên chủ chốt ở trung ương và địa phương. Nhiều
hội nghị “ đại biểu dân cử với chính sách dân số
– kế hoạch hoá gia đình “ được Uỷ ban tổ chức ở
nhiều địa phương, trong một thời gian khá dài.
Điều đó đã góp phần quan trọng vào những thành
tựu mà chương trình dân số – kế hoạch hoá gia
đình đạt được trong những năm qua, đưa tỷ lệ
phát triển dân số xuóng mức hợp lý hơn.
Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ với khối
lượng và chất lượng như đã nêu ở trên, Uỷ ban
cũng như vụ chuyên môn đã từng bước cải tiến
hoạt động của mình để thực hiện ngày càng tốt
hơn chức năng, nhiệm vụ cũng như đòi hỏi đổi mới
hoạt động của QH, các cơ quan của QH với kinh
nghiệm:
Trước hết, Uỷ ban luôn nắm
chắc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thể hiện
qua chương trình công tác, có trọng tâm, trọng
điểm theo từng thời gian. Các vấn đề xã hội rất
rộng, hầu như đụng đến việc gì cũng có yếu tố xã
hội, nhưng Uỷ ban cũng đã xác định tập trung
hoạt động vào 6 loại công việc có tính bao quát
như đã nêu ở trên, điều này cũng phù hợp với
Điều 27 Luật tổ chức QH quy định. Uỷ ban đã tập
trung phần lớn công, sức, thời gian cho việc
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ với các nội
dung 6 loại công việc này. Các “sản phẩm” lập
pháp và giám sát của Uỷ ban đã bao quát được hầu
hết 6 mảng công việc đã xác định.
Thứ hai
là luôn chú ý tới công việc trước
mắt và lâu dài; mối quan hệ hữu cơ giữa công tác
lập pháp và giám sát cũng như với các mảng công
tác khác, lấy công tác xây dựng, thẩm tra dự án
Luật, Pháp lệnh làm trọng tâm. Ví dụ: khi tiến
hành một loạt hoạt động giám sát, hội nghị, hội
thảo về lao động, việc làm, đình công, BHXH, BĐG...,
thì chính những kết quả hoạt động đó là chất
liệu phục vụ cho việc tham gia xây dựng và thẩm
tra Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật lao động, Luật bảo hiểm xã hội, Luật Bình
đẳng giới. Những cuộc giám sát việc thực hiện
chính sách và pháp luật tôn giáo là chất liệu
cho việc tham gia xây dựng và thẩm tra Pháp lệnh
tôn giáo. Có thể nói một cách tổng quát, kết quả
giám sát, hội nghị, hội thảo là “ tư liệu sống”
để tham gia xây dựng và thẩm tra Luật, Pháp lệnh.
Nói cách khác là Uỷ ban đã gắn bó chặt chẽ giữa
công tác nghiên cứu, giám sát và công tác lập
pháp với nhau, trong đó lấy công tác tham gia
xây dựng và thẩm tra Luật, Pháp lệnh làm trung
tâm.
Thứ ba là luôn kế thừa, lấy
bài học kinh nghiệm của khoá trước, kể cả về
chuyên môn và kinh nghiệm hoạt động để nâng cao
chất lượng hoạt động của Uỷ ban khoá tiếp theo.
Một đặc điểm rất quan trọng về mặt tổ chức, đó
là thành viên của Uỷ ban không thật ổn định,
theo luật cứ 5 năm thay đổi một lần, vì vậy tính
liên tục, ổn định, tính kế thừa thường bị hạn
chế. Thời gian cuối nhiệm kỳ là thời gian các
thành viên rút được kinh nghiệm, tích luỹ được
nhiều thông tin, kiến thức, hoạt động có hiệu
quả hơn thì lại chuẩn bị kết thúc, sang khoá sau
thành viên Uỷ ban lại gần như mới. Từ thực tiễn
đó, khi chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ QH khoá VII,
Uỷ ban đã đề xuất và tiến hành tổng kết nhiệm kỳ
và từ đó cho đến nay cứ chuẩn bị kết thúc nhiệm
kỳ, Uỷ ban lại tiến hành tổng kết, đáng giá hoạt
động và rút kinh nghiệm mặt được và tồn tại cho
cả nhiệm kỳ. Trên cơ sở kinh nghiệm về chuyên
môn và hoạt động, Uỷ ban mới tiếp tục phát huy
và thực hiện ngày một tốt hơn. Ngoài ra thông
qua Bộ phận giúp việc chuyên môn, các cán bộ,
chuyên môn ổn định, làm việc lâu dài ở Văn phòng
QH, trực tiếp phục vụ chuyên môn, các vấn đề
thuộc lĩnh vực hoạt động của Uỷ ban các khoá
trước được tích luỹ và kế thừa vào hoạt động của
nhiệm kỳ tiếp theo. Chính đièu đó đã góp phần
giúp Uỷ ban ngày càng hoàn thiện hoạt động thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Thứ tư
là phải tổ chức và huy động được trí tuệ
của chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý,
hoạt động thực tiễn cũng như trí tuệ của các
thành viên của Uỷ ban; Phối hợp và phát huy trí
tuệ, mối quan hệ công tác với HĐND, các ban của
HĐND. Mỗi một nội dung, mỗi một chuyên đề Thường
trực Uỷ ban đã cố gắng điều hành chương trình
một cách linh hoạt trong những hoàn cảnh cụ thể
và khai thác, lồng nghép tốt các hoạt động, sử
dụng được trí tuệ chuyên gia, của nhiều ngành,
nhiều địa phương. Ví dụ: trong lĩnh vực dân số,
lĩnh vực giới, BHXH... Uỷ ban đã tổ chức nhiều
hội nghị, hội thảo với sự tham gia của nhiều
chuyên gia trong nước và nước ngoài am hiểu sâu
về lĩnh vực này trình bày, cung cấp thông tin,
bình luận các dự thảo, qua đó nâng cao chất
lượng hoạt động giám sát, thẩm tra của Uỷ ban và
tạo điều kiện cho ĐBQH, HĐND (Đặc biệt là nữ đại
biểu) tham gia các hoạt động, có thêm nhiều
thông tin, kinh nghiệm hoạt động nhất là công
tác giám sát trong lĩnh vực xã hội. Các hoạt
động nnày được nhiều ĐBQH, HĐND và các cơ quan
có liên quan đánh giá tốt.
Thứ năm là
thường xuyên quan tâm việc hoàn thiện về tổ chức,
xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn. Có sự phối hợp
và chủ động trong việc thực hiện những công việc
có tính ráp ranh giữa các Uỷ ban. Tăng cường mối
quan hệ công tác với các cơ quan có liên quan
của Chính phủ, các Bộ, ngành trên cơ sở lấy công
việc, chất lượng công việc là chính.
Báo Người đại biểu nhân
dân số 240, ngày 07-12-2005 |