Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 (tiếp theo và hết) 

Bên cạnh hoạt động xây dựng và thẩm tra, Hoạt động giám sát cũng là hoạt động không kém phần quan trọng được Uỷ ban chú ý, quan tâm thực hiện và ngày càng thiết thực hơn. Trong nhiệm kỳ QH khoá VII, Uỷ ban chỉ tiến hành 12 phiên họp toàn thể Uỷ ban và tổ chức 28 Đoàn công tác, đã xây dựng 8 báo cáo chuyên đề trước HĐNN và 6 lần thuyết trình trước QH với những nội dung liên quan đến chuyên môn mà Uỷ ban phụ trách. Đến QH  khoá X, khoá XI Uỷ ban về các vấn đề xã hội đã tổ chức nhiều hội nghị toàn thể Uỷ ban, hội nghị thường trực mở rộng, hội nghị thường trực; Tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo với nhiều cấp độ khác nhau; tổ chức nhiều đoàn giám sát, khảo sát, nhiều cuộc nghiên cứu. Riêng nhiệm kỳ QH khoá X, Uỷ ban đã tiến hành 88 cuộc giám sát, khảo sát ở 55 tỉnh, thành phố; đã tổ chức hơn 30 cuộc làm việc với các Bộ, ngành TƯ; đã tổ chức 27 cuộc Hội nghị, hội thảo khu vực, quốc gia về nhiều lĩnh vực liên quan đến lĩnh vực chuyên môn Uỷ ban phụ trách. Ngoài ra Uỷ ban còn tham gia nhiều hội nghị quốc tế, tiếp và làm việc với nhiều đoàn Uỷ ban tương ứng của Quốc hội một số nước, nhiều tổ chức quốc tế đến thăm và trao đổi kinh nghiệm. Nhiều kiến nghị lớn của Uỷ ban đã được Chính phủ, các Bộ, ngành tiếp thụ, xử lý ví dụ như: Việc chuyển nội dung  chương trình dân số – kế hoạch hoá gia đình thành nội dung  dân số và phát triển. Việc chuyển trọng tâm giảm sinh là chủ yếu (những năm trước 2000) sang việc nâng cao chất lượng sống, gắn kết công tác kế hoạch hoá với sự phát triển bền vững, quan tâm tới sức khoẻ sinh sản, chăm sóc sức khoẻ Bà mẹ, trẻ em, quan tâm đến giáo dục giới tính, môi trường sống...Hoặc kiến nghị liên quan đến di dân tái định cư. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế mà là vấn đề kinh tế xã hội lớn. Kiến nghị này được tiếp thụ và được vận dụng vào việc di dân tái định cư đối với công trình thuỷ điện Sơn La (coi di dân là một phần quan trọng của công trình, dự án), quan tâm tới người di cư tự do, phân công trách nhiệm cho chính quyền cả nơi đi và nơi đến nhằm ổn định nhanh đời sống cho đối tượng này.

Phải nói rằng, càng ngày hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ của Uỷ ban về các vấn đề xã hội càng tốt hơn được xã hội, nhiều cơ quan ở địa phương, cơ quan TƯ cũng như QH, đại biểu QH thừa nhận và đánh giá cao.  Thường trực HĐND, ban văn hoá xã hội của HĐND nhiều tỉnh, thành phố và một số cơ quan, tổ chức khác đã tiếp nhận những kinh nghiệm, thông tin, kiến thức mà Uỷ ban về các vấn đề xã hội chuyển tải để áp dụng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực xã hội. Qua đó đã tác động làm cho việc thực hiện nhiều vấn đề xã hội được tốt hơn. Ví dụ: trước tình hình phát triển dân số mất cân đối quá lớn với phát triển kinh tế, gây ra nhiều hậu quả xấu về kinh tế, việc làm, môi trường... Uỷ ban đã nhiều lần phát biểu đề cập đến vấn đề này với QH, HĐNN, Chính phủ. Nhờ vậy mà đã góp phần thúc đẩy sự ra đời của Uỷ ban quốc gia dân số  năm 1984, Chiến lược dân số – kế hoạch hoá gia đình và chiến lược truyền thông dân số – kế hoạch hoá gia đình năm 1993. Sau đó Uỷ ban đã tiến hành hàng loạt hoạt động, phối hợp cùng Uỷ ban quốc gia về dân số – kế hoạch hoá gia đình tuyên truyền nâng cao nhận thức, đặc biệt là nhận thức của cản bộ, đảng viên chủ chốt ở trung ương và địa phương. Nhiều hội nghị “ đại biểu dân cử với chính sách dân số – kế hoạch hoá gia đình “ được Uỷ ban tổ chức ở nhiều địa phương, trong một thời gian khá dài. Điều đó đã góp phần quan trọng vào những thành tựu mà chương trình dân số – kế hoạch hoá gia đình đạt được trong những năm qua, đưa tỷ lệ phát triển dân số xuóng mức hợp lý hơn.

Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ với khối lượng và chất lượng như đã nêu ở trên, Uỷ ban cũng như vụ chuyên môn đã từng bước cải tiến hoạt động của mình để thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng, nhiệm vụ cũng như đòi hỏi đổi mới hoạt động của QH, các cơ quan của QH với kinh nghiệm:

Trước hết, Uỷ ban luôn nắm chắc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thể hiện qua chương trình công tác, có trọng tâm, trọng điểm theo từng thời gian. Các vấn đề xã hội rất rộng, hầu như đụng đến việc gì cũng có yếu tố xã hội, nhưng Uỷ ban cũng đã xác định tập trung hoạt động vào 6 loại công việc có tính bao quát như đã nêu ở trên, điều này cũng phù hợp với Điều 27 Luật tổ chức QH quy định. Uỷ ban đã tập trung phần lớn công, sức, thời gian cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ với các nội dung 6 loại công việc này. Các “sản phẩm” lập pháp và giám sát của Uỷ ban đã bao quát được hầu hết 6 mảng công việc đã xác định.

Thứ hai luôn chú ý tới công việc trước mắt và lâu dài; mối quan hệ hữu cơ giữa công tác lập pháp và giám sát cũng như với các mảng công tác khác, lấy công tác xây dựng, thẩm tra dự án Luật, Pháp lệnh làm trọng tâm. Ví dụ: khi tiến hành một loạt hoạt động giám sát, hội nghị, hội thảo về lao động, việc làm, đình công, BHXH, BĐG..., thì chính những kết quả hoạt động đó là chất liệu phục vụ cho việc tham gia xây dựng và thẩm tra Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động, Luật bảo hiểm xã hội, Luật Bình đẳng giới. Những cuộc giám sát việc thực hiện chính sách và pháp luật tôn giáo là chất liệu cho việc tham gia xây dựng và thẩm tra Pháp lệnh tôn giáo. Có thể nói một cách tổng quát, kết quả giám sát, hội nghị, hội thảo là “ tư liệu sống” để tham gia xây dựng và thẩm tra Luật, Pháp lệnh. Nói cách khác là Uỷ ban đã gắn bó chặt chẽ giữa công tác nghiên cứu, giám sát và công tác lập pháp với nhau, trong đó lấy công tác tham gia xây dựng và thẩm tra Luật, Pháp lệnh làm trung tâm.

Thứ ba là luôn kế thừa, lấy bài học kinh nghiệm của khoá trước, kể cả về chuyên môn và kinh nghiệm hoạt động để nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban khoá tiếp theo. Một đặc điểm rất quan trọng về mặt tổ chức, đó là thành viên của Uỷ ban không thật ổn định, theo luật cứ 5 năm thay đổi một lần, vì vậy tính liên tục, ổn định, tính kế thừa thường bị hạn chế. Thời gian cuối nhiệm kỳ là thời gian các thành viên rút được kinh nghiệm, tích luỹ được nhiều thông tin, kiến thức, hoạt động có hiệu quả hơn thì lại chuẩn bị kết thúc, sang khoá sau thành viên Uỷ ban lại gần như mới. Từ thực tiễn đó, khi chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ QH khoá VII, Uỷ ban đã đề xuất và tiến hành tổng kết nhiệm kỳ và từ đó cho đến nay cứ chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ, Uỷ ban lại tiến hành tổng kết, đáng giá hoạt động và rút kinh nghiệm mặt được và tồn tại cho cả  nhiệm kỳ. Trên cơ sở kinh nghiệm về chuyên môn và  hoạt động, Uỷ ban mới tiếp tục phát huy và thực hiện ngày một tốt hơn. Ngoài ra thông qua Bộ phận giúp việc chuyên môn, các cán bộ, chuyên môn ổn định, làm việc lâu dài ở Văn phòng QH, trực tiếp phục vụ chuyên môn, các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của Uỷ ban các khoá trước được tích luỹ và kế thừa vào hoạt động của nhiệm kỳ tiếp theo. Chính đièu đó đã góp phần giúp Uỷ ban ngày càng hoàn thiện hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

Thứ tư là phải tổ chức và huy động được trí tuệ của chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý, hoạt động thực tiễn cũng như trí tuệ của các thành viên của Uỷ ban; Phối hợp và phát huy trí tuệ, mối quan hệ công tác với HĐND, các ban của HĐND. Mỗi một nội dung, mỗi một chuyên đề Thường trực Uỷ ban đã cố gắng điều hành chương trình một cách linh hoạt trong những hoàn cảnh cụ thể và khai thác, lồng nghép tốt các hoạt động, sử dụng được trí tuệ chuyên gia, của nhiều ngành, nhiều địa phương. Ví dụ: trong lĩnh vực dân số, lĩnh vực giới, BHXH... Uỷ ban đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo với sự tham gia của nhiều chuyên gia trong nước và nước ngoài am hiểu sâu về lĩnh vực này trình bày, cung cấp thông tin, bình luận các dự thảo, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, thẩm tra của Uỷ ban và tạo điều kiện cho ĐBQH, HĐND (Đặc biệt là nữ đại biểu) tham gia các hoạt động, có thêm nhiều thông tin, kinh nghiệm hoạt động nhất là công tác giám sát trong lĩnh vực xã hội. Các hoạt động nnày được nhiều ĐBQH, HĐND và các cơ quan có liên quan đánh giá tốt.

Thứ năm là thường xuyên quan tâm việc hoàn thiện về tổ chức, xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn. Có sự phối hợp và chủ động trong việc thực hiện những công việc có tính ráp ranh giữa các Uỷ ban. Tăng cường mối quan hệ công tác với các cơ quan có liên quan của Chính phủ, các Bộ, ngành trên cơ sở lấy công việc, chất lượng công việc là chính.

Báo Người đại biểu nhân dân số 240, ngày 07-12-2005 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện