|
Tiến
trình cải cách lập pháp
Nguyễn
Quốc Thắng
Cải cách lập pháp là cách đề cập tới tiến trình
đổi mới toàn diện, sâu sắc, liên tục trong tổ
chức và hoạt động của Quốc hội, đồng thời xác
định đúng vị trí, vai trò của tiến trình này
trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong những năm qua, chúng ta đã tiến hành cải
cách hành chính, cải cách tư pháp. Đối với cơ
quan lập pháp đã có bước đổi mới, khẳng định vai
trò của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân
trong đời sống chính trị của đất nước. Tuy nhiên,
những kết quả khiêm tốn trong cải cách hành
chính, cải cách tư pháp đang đặt ra cho cơ quan
lập pháp nhiệm vụ cải cách mạnh mẽ hơn nữa. Cải
cách lập pháp phải là sự khởi đầu, song hành và
thúc đẩy cải cách hành chính và tư pháp.
Sự vận động của hệ thống pháp luật Việt Nam.
Đề
cập đến sự vận động của hệ thống pháp luật nhìn
từ kết quả lập pháp và theo các mốc lịch sử lập
hiến. Và trên cơ sở xem xét số lượng luật, pháp
lệnh được ban hành, lĩnh vực được điều chỉnh,
mối quan hệ giữa công dân và cơ quan quản lý nhà
nước, về kỹ thuật văn bản có thể thấy mục tiêu,
trình độ và xu hướng phát triển của hệ thống
pháp luật.
Khởi đầu bằng cuộc tổng tuyên cử đầu tiên của
nước Việt nam độc lập, sự ra đời của Quốc hội
lập hiến, của Chính phủ kháng chiến do Quốc hội
phê chuẩn. Trong giai đoạn từ Hiến pháp 1946
đến Hiến pháp 1959 Quốc hội ban hành được 10
luật, Ban thường trực Quốc hội không ban hành
pháp lệnh. Luật đầu tiên được khoá Quốc hội ban
hành là Luật cải cách ruộng đất năm 1953 phục vụ
cho cách mạng dân tộc, dân chủ và đấu tranh với
tàn tích phong kiến, mang lại công bằng và khơi
dậy nguồn lực cách mạng cho sự nghiệp kháng
chiến, kiến quốc. Các đạo luật còn lại tập trung
chủ yếu vào lĩnh vực bảo đảm quyền tự do, dân
chủ trong xã hội mới thoát thai từ chế độ xã hội
thực dân phong kiến như Luật về chế chế độ báo
chí, đảm bảo quyền tự do thân thể, về quyền tự
do hội họp, lập hội... Trong giai đoạn đầu của
nhà nước non trẻ, hầu hết các lĩnh vực của đời
sống xã hội được điều chỉnh bằng các sắc lệnh.
Theo số liệu thống kê đã có 1703 văn bản pháp
luật gồm 621 sắc lệnh, 655 nghị định, 413 thông
tư. Các luật, sắc lệnh thời kỳ này o quy định
quyền lợi, trách nhiệm cụ thể, đáp ứng yêu cầu
quản lý thời chiến. Nhưng cũng thể hiện rõ tính
dân chủ, công khai trong hoạt động của bộ máy
chính quyền. Gần 15 năm với 10 đạo luật không
phản ánh đầy đủ vai trò lập pháp của Quốc hội.
Nhưng nó đánh dấu quãng thời gian lịch sử của
Quốc hội đầu tiên với những bước đi ban đầu
hình thành hệ thống pháp luật của một nước Việt
nam độc lập.
Tròn hai thập kỷ từ Hiến pháp 1959 đến Hiến pháp
1980 là quãng thời gian tập trung cho nhiệm vụ
đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng cơ sở
ban đầu của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong quãng
thời gian này, Quốc hội ban hành 9 luật, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội ban hành 21 pháp lệnh. Một
đặc điểm lớn của hoạt động lập pháp trong giai
đoạn này là tất cả các luật được ban hành đều
tập trung củng cố tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước mà sau Hiến pháp 1946 chưa thể hình
thành. Các luật đó là tổ chức Quốc hội, Hội đồng
Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính...
Hầu hết các pháp lệnh tập trung bổ sung, cụ thể
hoá các lĩnh vực hoạt động của bộ máy nhà nước
và trừng trị các tội phạm hình sự nguy hiểm như
xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tài sản xã
hội chủ nghĩa, hối lộ... Nhìn ở cấp độ lập pháp,
sau khi ban hành Hiến pháp 1959, chúng ta mới cơ
bản hình thành hệ thống pháp luật về tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình các
nước xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Các lĩnh vực
dân sự, hành chính, kinh tế... chưa vươn tới để
điều chỉnh bằng luật.
Sau
đại thắng mùa xuân 1975, chúng ta xây dựng lại
đất nước trong bối cảnh tình hình thế giới có
nhiều biến động, hậu quả chiến tranh nặng nề,
nền kinh tế chỉ huy phụ thuộc vào viện trợ,
chiến tranh biên giới chi phối sức người, sức
của... Trong bối cảnh đó Hiến pháp 1980 được ban
hành. Và từ đó đến Hiến pháp1992 Quốc hội ban
hành 41 luật, Hội đồng nhà nước ban hành 60 pháp
lệnh. Các luật ban hành trong giai đoạn này vẫn
chủ yếu xoay quanh mô hình tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Điểm đáng
lưu ý là vào thới điểm năm1986 khi đất nước tiến
hành công cuộc đổi mới, thì các đạo luật điều
chỉnh về lĩnh vực kinh tế được quan tâm ban hành
và bắt đầu chiếm vai trò quan trọng trong công
tác lập pháp. Luật đất đai, Luật đầu tư nước
ngoài, các Luật thuế, Luật công ty, Luật doanh
nghiệp tư nhân, Luật hàng hải, Luật hàng
không... ra đời báo hiệu sự thay đổi cơ cấu hệ
thống pháp luật phục vụ công cuộc phát triển
kinh tế. 60 pháp lệnh trong 12 năm là số lương
không nhỏ các văn bản pháp lý được Hội đồng nhà
nước thông qua trong giai đoạn này. Pháp lệnh
bước đầu góp phần điều chỉnh toàn diện các lĩnh
vực của đời sống xã hội củng cố bộ máy nhà nước,
hình sự, dân sự, kinh tế, xã hội và đối ngoại...
Các pháp lệnh này là cơ sở hình thành hệ thống
pháp luật toàn diện sau này.
Từ
sau Hiến pháp 1992 đến nay thực sự là một cuộc
cánh mang lập pháp nhằm đáp ứng công cuộc đổi
mới. Quốc hội ban hành 123 luật, Uỷ ban thường
vụ Quốc hội ban hành 112 pháp lệnh. Các luật
ban hành trong giai đoạn này đã đi sâu điều
chỉnh mọi mặt của đời sống xã hội, tập trung
nhiều vào lĩnh vực kinh tế, tổ chức bộ máy nhà
nước và đáp ứng yêu cầu chuyển mạnh sang quản lý
xã hội bằng pháp luật. Tuy nhiên, số luật mới
không nhiều, riêng số lượng luật sửa đổi bổ
sung một số điều chiếm gần 1/3 tổng số các đạo
luật. Trong đó Luật đất đai ban hành và sửa đổi
bổ sung 4 lần, Luật hình sự và Luật đầu tư nước
ngoài sửa đổi, bổ sung 3 lần... Có nhiều đạo
luật được sửa đổi cơ bản, nhiều đạo luật được
nâng lên từ pháp lệnh. Bên cạnh đó, số lương
pháp lệnh được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông
qua tương đối lớn, gần tương đương với số lương
luật được Quốc hội thông qua trong giai đoạn này.
Có thể nói hệ thống pháp luật hiện hành với gần
240 luật, pháp lệnh điều chỉnh các quan hệ xã
hội ra đời sau Hiến pháp 1992. Đây là hệ thống
pháp luật của quá trình chuyển đổi nền kinh tế,
đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước,
mở rộng dân chủ trong đời sống chính trị xã hội
và hội nhập với quốc tế.
Hệ
thống luật, pháp lệnh hiện hành đã có đóng góp
đáng kể trong tiến trình đổi mới nhưng cũng đứng
trước những bất ổn lớn là : Chưa đồng bộ, thiếu
thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc
sống, tồn tại nhiều quy định khung, nhiều quy
định thiếu cụ thể, thiếu minh bạch về quyền và
nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ xã hội,
khả năng phản ứng với những thay đổi của thực
tiễn còn chậm chạp, việc giải thích luật, pháp
lệnh hầu như không được tiến hành, tỷ lệ văn bản
pháp lệnh trong hệ thống còn quá lớn, tỷ lệ văn
bản hướng dẫn quá nhiều, ban hành chậm, thâm chí
còn trái với luật, Hiến pháp... Những điểm tồn
tại, cùng với xu hướng ban hành luật với các quy
định cụ thể, giảm dần việc ban hành pháp lệnh,
tỷ lệ luật sửa đổi bổ sung một số điều ngày càng
nhiều, các luật về lĩnh vực kinh tế ,dân sự
chiêm vị trong tâm... Chính là vấn đề đặt ra cho
công tác lập pháp những nhiệm kỳ tới.
>Trang [2]
Báo Người đại biểu nhân dân số 235, ngày
01-12-2005 |