Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 

Tiến trình cải cách lập pháp

 Nguyễn Quốc Thắng 

Cải cách lập pháp là cách đề cập tới tiến trình đổi mới toàn diện, sâu sắc, liên tục trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đồng thời xác định đúng vị trí, vai trò của tiến trình này trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

 Trong những năm qua, chúng ta đã tiến hành cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Đối với cơ quan lập pháp đã có bước đổi mới, khẳng định vai trò của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân trong đời sống chính trị của đất nước. Tuy nhiên, những  kết quả khiêm tốn trong cải cách hành chính, cải cách tư pháp đang đặt ra cho cơ quan lập pháp nhiệm vụ cải cách mạnh mẽ hơn nữa. Cải cách lập pháp phải là sự khởi đầu, song hành và thúc đẩy cải cách hành chính và tư pháp.

 Sự vận động của hệ thống pháp luật Việt Nam.

Đề cập đến sự vận động của hệ thống pháp luật  nhìn từ kết quả lập pháp và theo các mốc lịch sử lập hiến. Và trên cơ sở xem xét số lượng luật, pháp lệnh được ban hành, lĩnh vực được điều chỉnh, mối quan hệ giữa công dân và cơ quan quản lý nhà nước, về kỹ thuật văn bản  có thể thấy mục tiêu, trình độ và xu hướng phát triển  của hệ thống pháp luật.

Khởi đầu bằng cuộc tổng tuyên cử đầu tiên của nước Việt nam độc lập, sự ra đời của Quốc hội lập hiến, của Chính phủ kháng chiến do Quốc hội phê chuẩn. Trong giai đoạn từ  Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1959 Quốc hội ban hành được 10 luật, Ban thường trực Quốc hội  không ban hành pháp lệnh. Luật đầu tiên được khoá Quốc hội  ban hành là Luật cải cách ruộng đất năm 1953 phục vụ cho cách mạng dân tộc, dân chủ và đấu tranh với tàn tích phong kiến, mang lại công bằng và khơi dậy nguồn lực cách mạng cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Các đạo luật còn lại tập trung chủ yếu vào lĩnh vực bảo đảm quyền tự do, dân chủ trong xã hội mới thoát thai từ chế độ xã hội thực dân phong kiến như Luật về chế chế độ báo chí, đảm bảo quyền tự do thân thể, về quyền tự do hội họp, lập hội... Trong giai đoạn  đầu của nhà nước non trẻ, hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội được điều chỉnh bằng các sắc lệnh. Theo số liệu thống kê đã có 1703 văn bản pháp luật gồm 621 sắc lệnh, 655 nghị định, 413 thông tư. Các luật, sắc lệnh thời kỳ này o quy định quyền lợi, trách nhiệm cụ thể, đáp ứng yêu cầu quản lý thời chiến. Nhưng cũng thể hiện rõ tính dân chủ, công khai trong hoạt động của bộ máy chính quyền. Gần 15 năm với 10 đạo luật  không phản ánh đầy đủ vai trò lập pháp của Quốc hội. Nhưng nó  đánh dấu quãng thời gian lịch sử của Quốc hội  đầu tiên với  những bước đi ban đầu hình thành hệ thống pháp luật của một nước Việt nam độc lập.

Tròn hai thập kỷ từ Hiến pháp 1959 đến Hiến pháp 1980 là quãng thời gian tập trung cho nhiệm vụ đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng cơ sở  ban đầu của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong quãng thời gian này,  Quốc hội ban hành 9 luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành 21 pháp lệnh. Một đặc điểm lớn của hoạt động lập pháp  trong giai đoạn này là tất cả các luật được ban hành đều tập trung củng cố tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước mà sau Hiến pháp 1946 chưa thể hình thành. Các luật đó là tổ chức Quốc hội, Hội đồng Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính...  Hầu hết các pháp lệnh tập trung  bổ sung, cụ thể hoá các lĩnh vực hoạt động của bộ máy nhà nước và trừng trị các tội phạm hình sự nguy hiểm như xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, hối lộ... Nhìn ở cấp độ lập pháp, sau khi ban hành Hiến pháp 1959, chúng ta mới cơ bản hình thành hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình các nước xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.  Các lĩnh vực dân sự, hành chính, kinh tế... chưa vươn tới để điều chỉnh bằng  luật.

Sau đại thắng mùa xuân 1975, chúng ta xây dựng lại đất nước trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, hậu quả chiến tranh nặng nề,   nền kinh tế chỉ huy  phụ thuộc vào viện trợ,  chiến tranh biên giới chi phối sức người, sức của... Trong bối cảnh đó Hiến pháp 1980 được ban hành. Và từ đó đến Hiến pháp1992 Quốc hội ban hành 41 luật, Hội đồng nhà nước ban hành 60 pháp lệnh.  Các luật ban hành trong giai đoạn này vẫn chủ yếu xoay quanh mô hình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Điểm đáng lưu ý là vào thới điểm năm1986 khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, thì các đạo luật điều chỉnh về lĩnh vực kinh tế được quan tâm ban hành và  bắt đầu chiếm vai trò quan trọng trong công tác lập pháp.  Luật đất đai, Luật đầu tư nước ngoài, các Luật thuế, Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật hàng hải, Luật hàng không... ra đời báo hiệu sự thay đổi cơ cấu hệ thống pháp luật phục vụ công cuộc phát triển kinh tế.  60 pháp lệnh trong 12 năm là số lương không nhỏ các văn bản pháp lý được Hội đồng nhà nước thông qua trong giai đoạn này. Pháp lệnh bước đầu góp phần  điều chỉnh toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội củng cố bộ máy nhà nước, hình sự, dân sự, kinh tế, xã hội và đối ngoại... Các pháp lệnh này là cơ sở hình thành hệ thống pháp luật toàn diện sau này.

Từ sau Hiến pháp 1992 đến nay thực sự là một cuộc cánh mang lập pháp nhằm đáp ứng công cuộc đổi mới. Quốc hội ban hành 123 luật,  Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành  112 pháp lệnh. Các luật ban hành trong giai đoạn này đã đi sâu điều chỉnh mọi mặt của đời sống xã hội,  tập trung nhiều vào lĩnh vực kinh tế, tổ chức bộ máy nhà nước và đáp ứng yêu cầu chuyển mạnh sang quản lý xã hội bằng pháp luật.  Tuy nhiên, số luật mới không nhiều,  riêng số lượng luật sửa đổi bổ sung một số điều chiếm gần 1/3 tổng số các đạo luật. Trong đó Luật đất đai ban hành và sửa đổi bổ sung 4 lần, Luật hình sự và Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi, bổ sung 3 lần... Có nhiều đạo luật được sửa đổi cơ bản, nhiều đạo luật được nâng lên từ pháp lệnh. Bên cạnh đó, số lương pháp lệnh được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua tương đối lớn, gần tương đương với số lương luật được Quốc hội thông qua trong giai đoạn này. Có thể nói hệ thống pháp luật hiện hành với gần 240  luật, pháp lệnh điều chỉnh các quan hệ xã hội ra đời sau Hiến pháp 1992. Đây là hệ thống pháp luật của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước,  mở rộng  dân chủ trong đời sống chính trị xã hội và hội nhập với quốc tế.

Hệ thống  luật, pháp lệnh hiện hành đã có đóng góp đáng kể trong tiến trình đổi mới nhưng cũng đứng trước những bất ổn lớn là : Chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống, tồn tại nhiều quy định khung, nhiều quy định thiếu cụ thể, thiếu minh bạch về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ xã hội,  khả năng  phản ứng với những thay đổi của thực tiễn còn chậm chạp, việc giải thích luật, pháp lệnh hầu như không được tiến hành, tỷ lệ văn bản pháp lệnh trong hệ thống còn quá lớn,  tỷ lệ văn bản hướng dẫn quá nhiều, ban hành chậm, thâm chí còn trái với luật, Hiến pháp... Những điểm tồn tại, cùng với xu hướng ban hành luật với các quy định cụ thể, giảm dần việc ban hành pháp lệnh,  tỷ lệ luật sửa đổi bổ sung một số điều ngày càng nhiều, các luật về lĩnh vực kinh tế ,dân sự chiêm vị trong tâm... Chính là vấn đề đặt ra cho công tác lập pháp những nhiệm kỳ tới. 

>Trang [2]

Báo Người đại biểu nhân dân số 235, ngày 01-12-2005 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện