Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"..

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 (tiếp theo)

II. Tổ chức hoạt động của Quốc hội và nhiệm vụ lập pháp.

Sự vận động của hệ thống pháp luật phản ánh sự chuyển đổi kinh tế, xã hội và phương thức, trình độ quản lý xã hội bằng pháp luật. Là kết quả quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. ở đây xin đề cập đến những chuyển động trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội  tác động qua lại với quá trình  thực hiện chức năng lập pháp.

Trước hết là vấn đề bầu cử.  Cho đến nay chúng ta có 5 đạo  luật về bầu cử đại biểu Quốc hội ban hành vào các năm 1959,1980,1992,1997 và  sửa đổi bổ sung  một số điều năm 2001. Luật bầu cử đầu tiên ban hành năm 1959 thay thế Sắc lênh 51-SL về bầu cử ban hành 17.10.1945. Luật này đã căn cứ dân số của mỗi đơn vị bầu cử, khu vực công nghiệp, thành phố… để tính tỷ lệ  đại biểu Quốc hội. Không ấn định tròn số 450 hay 500 như các luật sau này. Đồng thời quy định: ở mỗi đơn vị bầu cử, các chính đảng, các đoàn thể nhân dân có thể riêng biết hoạc liên hiệp với nhau mà giới thiệu người ra ứng cử. Cá nhân có quyền tự ứng cử. Đến năm 1976 khi hiệp thương thống nhất hai miền thì xác định tổng số đại biểu bầu không quá 500 người, cử khoảng 100.000 dân thì cử một đại biểu. Trong giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc vào thời chiến,  đấu tranh giải phóng miền nam,  thì cơ cấu thành phần đại biểu có ý nghĩa quan trọng đoàn kết toàn dân tập trung cho mục tiêu thống nhất đất nước. Thời kỳ này nhiệm vụ lập pháp chưa phải là thách thức lớn đối với Quốc hội. Trong quãng thời gian 20 năm Quốc hội ban hành được 9 luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành được 21 pháp lệnh.

Năm 1980  ban hành luật bâu cử mới trong đó quy định tổng số đại biểu không quá 500 người và số đại biểu của mỗi đơn vị bầu cử do Hội đồng nhà nước ấn định cho mỗi khoá. Đây là sự thay đổi cánh tính số lượng đại biểu không hoàn toàn theo nguyên tắc dân số. Mặt khác luật này cũng không ghi rõ quyền tự ứng cử của cá nhân.  Uỷ ban Mặt trận tổ quốc ở mỗi đơn vị bầu cử hiệp thương với các chính đảng , đoàn thể nhân dân giới thiêu danh sách những người ứng cử. Đây cũng là giai đoạn  các đại biểu Quốc hội bắt đầu thăm gia công tác lập pháp nhiều hơn, trực tiếp hơn. Hơn 10 năm Quốc hội đã ban hành được 41 luật. Đặc biệt là Hội đồng nhà nước đã ban hành 60 pháp lệnh. Hoạt động lập pháp thời kỳ này bắt đầu có những chuyển động  theo tư duy mới.  Và kết quả lập pháp   cho thấy yêu cầu mới về nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu để Quốc hội không còn hoạt động hình thức. Chính yêu cầu này đã tác động đến sự thay đổi của luật bầu cử đại biểu Quốc hội 1992 với việc lần đầu tiên ra đời quy định về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội : Đại biểu Quốc hội phải là người trung thành với tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới làm cho dân giầu, nước mạnh, có trình độ hiểu biết và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, thăm gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành  pháp luật, được nhân dân tín nhiệm. Vấn đề tự ứng cử cũng được đề cập trở lại nhằm phát huy dân chủ,  đại diện và tìm kiếm rộng rãi những người đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu. Sau Hiến pháp 1992, sức ép lập pháp tăng lên không ngừng, yêu cầu Quốc hội hoạt động thường xuyên hơn, hiệu quả hơn. Điều này dẫn đến việc bổ sung quy định  tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội ở luật 1997 là : Có điều kiên thăm gia các hoạt động của Quốc hội.  Luật bầu cử  1997 và sửa đổi bổ sung năm 2001 tiếp  tục nguyên tắc tính đại biểu theo đơn vị hành chính tỉnh, thành phố và cơ cấu thành phần, của các tổ chức chính trị, xã hội, cơ quan nhà nước trung ương, địa phương, của giới... Điều này  gây khó khăn cho việc tìm kiếm đại biểu có điều kiện thăm gia các hoạt động của Quốc hội, vì cơ cấu thành phần sẽ lấn át tính đại diện theo dân số và tiêu chuẩn đại biểu. ở một mức độ nào đó cách lựa chọn giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội mang tính mặt trận nhiều hơn tính đại diện, tính chuyên nghiệp để tập trung thực hiện chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Tiêu chuẩn, số lương và cách thức bầu cử đại biểu Quốc hội liên quan chặt chẽ tới trách nhiệm, năng lực thực hiện nhiệm vụ của đại biểu, đến những giới hạn trong đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đặc biệt là trong việc thực hiện chức năng lập pháp.

Năm 1959 luật tổ chức Quốc hội đầu tiên được ban hành. Lúc đầu kỳ họp Quốc hội chỉ 2-3 ngày,  một số nhiệm vụ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định giữa hai kỳ họp. Qua mỗi khoá thời gian họp tănglên,  các Uỷ ban chuyên môn được thành lập thêm và tăng cường vai trò và  nhiệm vụ của các Uỷ ban . Quốc hội khoá II có 4 Uỷ ban là Uỷ ban dự án pháp luật, Uỷ ban kinh tế và ngân sách, Uỷ ban dân tộc, Uỷ ban thống nhất.  Việc thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh đều do Uỷ ban dự án pháp luật đảm nhiệm. Vào cuối giai đoạn này không còn Uỷ ban thống nhất nữa và thành lập thêm Uỷ ban văn hoá và giáo dục, Uỷ ban y tế và xã hội, Uỷ ban đối ngoại. Tuy nhiên, nhiệm vụ thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh vẫn chủ yếu tập trung vào Uỷ ban pháp luật của Quốc hội vì chủ yếu ban hành các luật về tổ chức bộ máy nhà nước.

Hiến pháp 1980 ra đời  và tồn tại trong hoàn cảnh đặc biệt sau khi thống nhất đất nước, chiến tranh biến giới sảy; tiếp đó là sự khủng hoảng của hệ thống xã hội chủ nghĩa, công cuộc đổi mới đất nước được bắt đầu. Lúc này Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước có Hội đồng quốc phòng, Hội đồng dân tộc và 7 Uỷ ban. Nhiệm vụ, quyền han của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban được quy định rõ hơn, chuyên sâu hơn. Người đứng đầu Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban dần dần chuyển sang chế độ hoạt động chuyên trách, bộ máy giúp việc trực tiếp cho các cơ quan này được hình thành. Mặc dù có những bước đổi mới những chưa có đại biểu hoạt động chuyên trách nên hoạt động của Quốc hội vẫn nặng về hình thức, không thực quyền, thực chất. 

Khắc phục các hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội 1992 đã ghi nhận những thay đổi có tính đột phá với việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của từng Uỷ ban. Đặc biệt là lần đầu tiên đưa ra quy định : Trong số các đại biểu Quốc hội, có những đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách và những đại biểu làm việc theo chế độ không chuyên trách. Số lương đại biểu Quốc hội làm việc chuyên trách do Quốc hội quyết định. Quy định này đã mở đường cho việc củng cố tổ chức và hoạt động của Hội đồng và các Uỷ ban theo hướng chuyên nghiệp hơn, chuyên sâu hơn, thực hiện tốt hơn vai trò của mình từ đó góp phân nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của Quốc hội. Trong giai đoạn quy trình xây dựng luật, pháp lệnh được được đổi mới một bước. Tuy nhiên, năng lực lập pháp của Quốc hội không chỉ phụ thuộc vào quy trình lập pháp mà còn phụ thuộc vào cách cơ cấu đại biểu, vào khả năng làm việc của Hội đồng và các Uỷ ban của Quốc hội.

Luật tổ chức Quốc hội 2001 tiếp tục ghi nhận những bước đối mới trong cơ cấu tổ chức của Quốc hội làm nền tảng cho đổi mới hoạt động. Trước hết là việc quy định : Số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách có ít nhất là 25% tổng số đại biểu.  Đồng thời quy định rõ hơn, cụ thể hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban. Điều đáng tiếc xảy ra là Quốc hội khoá X đã không thành lập thêm các Uỷ ban trên cơ sở tách Uỷ ban pháp luật, Uỷ ban kinh tế ngân sách. Điều này đã hạn chế viêc nâng cao năng lực thực hiện nhiệm của các cơ quan của Quốc hội. 

Như vậy không phải chỉ có quy trình lập pháp mà cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách, số lượng các Uỷ ban của Quốc hội... có tác động rất lớn đến việc nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội, đến cải cách lập pháp.

 >Trang [1] >Trang [3]

Báo Người đại biểu nhân dân số 236, ngày 02-12-2005 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện