|
(tiếp theo)
II. Tổ chức hoạt động của Quốc hội và nhiệm vụ
lập pháp.
Sự vận động của hệ thống pháp luật phản ánh sự
chuyển đổi kinh tế, xã hội và phương thức, trình
độ quản lý xã hội bằng pháp luật. Là kết quả quá
trình đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước, trong đó có việc đổi mới tổ chức và
hoạt động của Quốc hội. ở đây xin đề cập đến
những chuyển động trong tổ chức và hoạt động của
Quốc hội tác động qua lại với quá trình thực
hiện chức năng lập pháp.
Trước hết là vấn đề bầu cử. Cho đến nay chúng
ta có 5 đạo luật về bầu cử đại biểu Quốc hội
ban hành vào các năm 1959,1980,1992,1997 và sửa
đổi bổ sung một số điều năm 2001. Luật bầu cử
đầu tiên ban hành năm 1959 thay thế Sắc lênh
51-SL về bầu cử ban hành 17.10.1945. Luật này đã
căn cứ dân số của mỗi đơn vị bầu cử, khu vực
công nghiệp, thành phố… để tính tỷ lệ đại biểu
Quốc hội. Không ấn định tròn số 450 hay 500 như
các luật sau này. Đồng thời quy định: ở mỗi
đơn vị bầu cử, các chính đảng, các đoàn thể nhân
dân có thể riêng biết hoạc liên hiệp với nhau mà
giới thiệu người ra ứng cử. Cá nhân có quyền tự
ứng cử. Đến năm 1976 khi hiệp thương
thống nhất hai miền thì xác định tổng số
đại biểu bầu không quá 500 người, cử khoảng
100.000 dân thì cử một đại biểu. Trong
giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
vào thời chiến, đấu tranh giải phóng miền nam,
thì cơ cấu thành phần đại biểu có ý nghĩa quan
trọng đoàn kết toàn dân tập trung cho mục tiêu
thống nhất đất nước. Thời kỳ này nhiệm vụ lập
pháp chưa phải là thách thức lớn đối với Quốc
hội. Trong quãng thời gian 20 năm Quốc hội ban
hành được 9 luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban
hành được 21 pháp lệnh.
Năm 1980 ban hành luật bâu cử mới trong đó quy
định tổng số đại biểu không quá 500 người và
số đại biểu của mỗi đơn vị bầu cử do Hội đồng
nhà nước ấn định cho mỗi khoá. Đây là sự
thay đổi cánh tính số lượng đại biểu không hoàn
toàn theo nguyên tắc dân số. Mặt khác luật này
cũng không ghi rõ quyền tự ứng cử của cá nhân.
Uỷ ban Mặt trận tổ quốc ở mỗi đơn vị bầu cử hiệp
thương với các chính đảng , đoàn thể nhân dân
giới thiêu danh sách những người ứng cử. Đây
cũng là giai đoạn các đại biểu Quốc hội bắt đầu
thăm gia công tác lập pháp nhiều hơn, trực tiếp
hơn. Hơn 10 năm Quốc hội đã ban hành được 41
luật. Đặc biệt là Hội đồng nhà nước đã ban hành
60 pháp lệnh. Hoạt động lập pháp thời kỳ này bắt
đầu có những chuyển động theo tư duy mới. Và
kết quả lập pháp cho thấy yêu cầu mới về nâng
cao năng lực hoạt động của đại biểu để Quốc hội
không còn hoạt động hình thức. Chính yêu cầu này
đã tác động đến sự thay đổi của luật bầu cử đại
biểu Quốc hội 1992 với việc lần đầu tiên ra đời
quy định về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội :
Đại biểu Quốc hội phải là người trung thành với
tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phấn đấu thực
hiện công cuộc đổi mới làm cho dân giầu, nước
mạnh, có trình độ hiểu biết và năng lực thực
hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, thăm gia quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước, có
phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp
luật, được nhân dân tín nhiệm. Vấn đề
tự ứng cử cũng được đề cập trở lại nhằm phát huy
dân chủ, đại diện và tìm kiếm rộng rãi những
người đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu.
Sau Hiến pháp 1992, sức ép lập pháp tăng lên
không ngừng, yêu cầu Quốc hội hoạt động thường
xuyên hơn, hiệu quả hơn. Điều này dẫn đến việc
bổ sung quy định tiêu chuẩn của đại biểu Quốc
hội ở luật 1997 là : Có điều kiên thăm gia
các hoạt động của Quốc hội. Luật bầu
cử 1997 và sửa đổi bổ sung năm 2001 tiếp tục
nguyên tắc tính đại biểu theo đơn vị hành chính
tỉnh, thành phố và cơ cấu thành phần, của các tổ
chức chính trị, xã hội, cơ quan nhà nước trung
ương, địa phương, của giới... Điều này gây khó
khăn cho việc tìm kiếm đại biểu có điều kiện
thăm gia các hoạt động của Quốc hội, vì cơ cấu
thành phần sẽ lấn át tính đại diện theo dân số
và tiêu chuẩn đại biểu. ở một mức độ nào đó cách
lựa chọn giới thiệu người ra ứng cử đại biểu
Quốc hội mang tính mặt trận nhiều hơn
tính đại diện, tính chuyên nghiệp
để tập trung thực hiện chức năng lập pháp, quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Tiêu chuẩn, số lương và cách thức bầu cử đại
biểu Quốc hội liên quan chặt chẽ tới trách
nhiệm, năng lực thực hiện nhiệm vụ của đại biểu,
đến những giới hạn trong đổi mới tổ chức và hoạt
động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đặc
biệt là trong việc thực hiện chức năng lập pháp.
Năm 1959 luật tổ chức Quốc hội đầu tiên được ban
hành. Lúc đầu kỳ họp Quốc hội chỉ 2-3 ngày, một
số nhiệm vụ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết
định giữa hai kỳ họp. Qua mỗi khoá thời gian họp
tănglên, các Uỷ ban chuyên môn được thành lập
thêm và tăng cường vai trò và nhiệm vụ của các
Uỷ ban . Quốc hội khoá II có 4 Uỷ ban là Uỷ ban
dự án pháp luật, Uỷ ban kinh tế và ngân sách, Uỷ
ban dân tộc, Uỷ ban thống nhất. Việc thẩm tra
các dự án luật, pháp lệnh đều do Uỷ ban dự án
pháp luật đảm nhiệm. Vào cuối giai đoạn này
không còn Uỷ ban thống nhất nữa và thành lập
thêm Uỷ ban văn hoá và giáo dục, Uỷ ban y tế và
xã hội, Uỷ ban đối ngoại. Tuy nhiên, nhiệm vụ
thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh vẫn chủ yếu
tập trung vào Uỷ ban pháp luật của Quốc hội vì
chủ yếu ban hành các luật về tổ chức bộ máy nhà
nước.
Hiến pháp 1980 ra đời và tồn tại trong hoàn
cảnh đặc biệt sau khi thống nhất đất nước, chiến
tranh biến giới sảy; tiếp đó là sự khủng hoảng
của hệ thống xã hội chủ nghĩa, công cuộc đổi mới
đất nước được bắt đầu. Lúc này Luật tổ chức Quốc
hội và Hội đồng nhà nước có Hội đồng quốc phòng,
Hội đồng dân tộc và 7 Uỷ ban. Nhiệm vụ, quyền
han của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban được quy
định rõ hơn, chuyên sâu hơn. Người đứng đầu Hội
đồng dân tộc và các Uỷ ban dần dần chuyển sang
chế độ hoạt động chuyên trách, bộ máy giúp việc
trực tiếp cho các cơ quan này được hình thành.
Mặc dù có những bước đổi mới những chưa có
đại biểu hoạt động chuyên trách nên hoạt
động của Quốc hội vẫn nặng về hình thức, không
thực quyền, thực chất.
Khắc phục các hạn chế trong tổ chức và hoạt động
của Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội 1992 đã ghi
nhận những thay đổi có tính đột phá với việc quy
định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của từng Uỷ ban.
Đặc biệt là lần đầu tiên đưa ra quy định :
Trong số các đại biểu Quốc hội, có những đại
biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách và những
đại biểu làm việc theo chế độ không chuyên trách.
Số lương đại biểu Quốc hội làm việc chuyên trách
do Quốc hội quyết định. Quy định này đã mở
đường cho việc củng cố tổ chức và hoạt động của
Hội đồng và các Uỷ ban theo hướng chuyên nghiệp
hơn, chuyên sâu hơn, thực hiện tốt hơn vai trò
của mình từ đó góp phân nâng cao hiệu quả, hiệu
lực hoạt động của Quốc hội. Trong giai đoạn quy
trình xây dựng luật, pháp lệnh được được đổi mới
một bước. Tuy nhiên, năng lực lập pháp của Quốc
hội không chỉ phụ thuộc vào quy trình lập pháp
mà còn phụ thuộc vào cách cơ cấu đại biểu, vào
khả năng làm việc của Hội đồng và các Uỷ ban của
Quốc hội.
Luật tổ chức Quốc hội 2001 tiếp tục ghi nhận
những bước đối mới trong cơ cấu tổ chức của Quốc
hội làm nền tảng cho đổi mới hoạt động. Trước
hết là việc quy định : Số lượng đại biểu
hoạt động chuyên trách có ít nhất là 25% tổng số
đại biểu. Đồng thời quy định rõ hơn, cụ
thể hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc
và các Uỷ ban. Điều đáng tiếc xảy ra là Quốc hội
khoá X đã không thành lập thêm các Uỷ ban trên
cơ sở tách Uỷ ban pháp luật, Uỷ ban kinh tế ngân
sách. Điều này đã hạn chế viêc nâng cao năng lực
thực hiện nhiệm của các cơ quan của Quốc hội.
Như vậy không phải chỉ có quy trình lập pháp mà
cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu hoạt động
chuyên trách, số lượng các Uỷ ban của Quốc hội...
có tác động rất lớn đến việc nâng cao năng lực
lập pháp của Quốc hội, đến cải cách lập pháp.
>Trang [1]
>Trang [3]
Báo Người đại biểu nhân dân số 236, ngày
02-12-2005 |