Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 (tiếp theo và hết)

 III. Những vấn đề đặt ra đối với cải cách lập pháp 

Trong giai đoạn cạnh tranh phát triển  khốc liệt,  tăng trưởng kinh tế cao, hội nhập  và mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực, mở rộng dân chủ, thiết lập trật tự kỷ cương trên nền tảng phát triển mới, thì việc hoàn thiện hệ thống pháp luật có vai trò hết sức quan trọng. Điều này đang đặt ra nhiệm vụ cho cả bộ máy nhà nước, cho Quốc hội nhiệm vụ cải cách lập pháp mạnh mẽ.  

Trước hết là : cải cách lập pháp phải  tiến hành đồng bộ với cải cách tư pháp và cải cách hành chính.  Hoạt động quản lý hành chính nhà nước, hoạt động tư pháp là hoạt động thường xuyên, liên tục, tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đến cá nhân từng tổ chức, con người... Vì vậy đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật đầy đủ, cụ thể,  điều chỉnh kịp thời khi cần thiết. Sự thiếu vắng, chậm trễ, không cụ thể, thiếu minh bạch về quyền và nghĩa vụ, sự khập khiễng của hệ thống pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội, cản trở tiến trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Nếu kéo dài tình trạng này, khi trình độ kinh tế - xã hội phát triển, thì hiệu lực, hiệu quả  quản lý không theo kịp, thậm chí gây rối loạn trong xã hội. Mặt khác nếu tiếp tục duy trì việc bộ máy hành chính, bộ máy tư pháp  vừa phải gánh vác nhiệm vụ lập pháp, vừa gánh vác nhiệm vụ lập quy,  vừa tổ chức thực hiện thì không tránh khỏi những lỗ hổng để tình trạng nhũng nhiễu, tham nhũng, lãng phí, tham ô, vô trách nhiệm có đất hoành hành. Và như vậy việc phân công thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp vẫn chưa rõ ràng... Trong khi đó, Quốc hội vẫn chủ yếu là đại biểu không chuyên trách, các cơ quan của Quốc hội còn thiếu và yếu so với yêu cầu nhiệm vụ, thời gian kỳ họp  bị giới hạn, năng lực lập pháp, giám sát hạn chế và nếu chỉ trông chờ vào đổi mới quy trình lập pháp thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Vì vậy, việc cải cách lập pháp phải được tiến hành mạnh mẽ hơn . 

Thứ hai là: Đổi mới về tổ chức phải toàn diện, có bước đột phá theo hướng Quốc hội ngày càng thực hiện quyền lập pháp đầy đủ hơn, thực chất  hơn.  Bắt đầu  từ việc bầu cử, hình thành cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu ra mình, mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt cho nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước. Quy định này cần thiết phải đưa vào Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội bên cạnh tiêu chuẩn đại biểu. Điều này giúp nhận thức rõ hơn: tiêu chuẩn phải gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Và làm cơ sở cho việc lựa chọn, giới thiệu người ra ứng cử. Tiến xa hơn là  xây dựng cơ chế tranh cử để tìm người thực sự đảm nhận tốt vai trò Đại biểu Quốc hội. Ngay từ những ngày đầu xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân,  tư tưởng Hồ Chí Minh về bầu cử, về nhà nước pháp quyền cũng hết sức cụ thể. Bác Hồ từng căn dặn : “Trong  tổng tuyển cử , hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền bầu cử”... Và  “làm việc nước bây giờ là hy sinh là phấn đấu quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung”.  

Thực tế làm nhiệm vụ đại biểu là thực hiện trách nhiệm đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong công tác làm luật, giám sát tối cao,  quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Và Đại biểu Quốc hội phải chịu trách nhiệm trước cử tri về kết quả, hiệu quả hoạt động đại diện của mình. Công việc làm đại diện không thể  là kiêm nhiệm, chịu sự ràng buộc về quản lý hành chính,  sự tác động  của cơ cấu thành phần. Vì nếu đại biểu không chuyên trách chiếm tỷ lệ lớn, thì khi đi vào hoạt động chỉ có một phần nhỏ đại biểu thực hiện thường xuyên, đầy đủ  nhiệm vụ cử tri giao phó. Chính điều này sẽ hạn chế việc đổi mới sâu sắc tổ chức và hoạt của Quốc hội.

Trên cơ sở đổi mới công tác bầu cử  lựa chọn được đại biểu thực sự có đủ năng lực, tăng cường đại biểu chuyên trách để đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội,  các cơ quan của Quốc hội. Trước hết là tăng thời gian làm việc của kỳ họp Quốc hội phục vụ cho hoạt động lập phá, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Việc tăng thời gian trong điều kiện tăng đại biểu chuyên trách sẽ không ảnh hưởng tới công việc thường xuyên của các đại biểu không chuyên trách  mà hiện nay chiếm tới 75% trên tổng số đại biểu. Đồng thời cần phát huy  trí tuệ, trách nhiệm của từng đại biểu để xây dựng và quyết định chính sách pháp luật và giám sát thực hiện luật.

Tập trung củng cố các cơ quan chuyên môn của Quốc hội theo hướng vừa tăng thêm các Ủy ban, vừa tăng thêm các đại biểu chuyên trách làm việc tại các Ủy ban. Đi theo hướng này sẽ phát huy vai trò của các Ủy ban, góp phần  khắc phục các hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội thời gian qua.  Trên cơ sở lĩnh vực công tác, khối lượng công việc tiếp tục nghiên cứu tách Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Kinh tế Ngân sách. Đồng thời  nghiên cứu tách Ủy ban Về các vấn đề xã hội, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục-Thanh niên- Thiếu niên và Nhi đồng. Số Ủy ban cần thành lập không nhất thiết phải tương ứng với số bộ của Chính phủ mà tương xứng với khối lượng công việc xây dựng pháp luật, thẩm tra, giám sát.

Bên cạch việc củng cố tổ chức Hội đồng và các Ủy ban của Quốc hội cần tập trung củng cố bộ máy giúp việc trực tiếp của các cơ quan này. Năng lực của bộ máy giúp việc rất quan trọng  trong việc phục vụ hoạt động của các đại biểu. Các thành viên của Ủy Uỷ ban  ngoài khả năng phát hiện và xây dựng chính sách pháp luật, thì còn phải  là người đưa ra các bài toán, yêu cầu để bộ máy giúp việc thực hiện. Bộ máy này không nhất thiết phải tăng cường nhiều công chức mà phải biết sử dụng ngân sách có hiệu quả để tổ chức giải quyết các nhiệm vụ đặt ra. Có như vậy mới không tăng biên chế và linh hoạt trong việc khai thác bộ máy giúp việc.

Thứ ba là : Đổi mới quy trình lập pháp. Hệ thống luật, pháp lệnh tiếp tục vận động theo hướng tập trung đi sâu vào các lĩnh vực kinh tế, dân sự, tổ chức bộ máy nhà nước, các luật sửa đổi bổ sung chiếm tỷ lệ lớn, số lượng pháp lệnh cần được nâng lên thành luật nhiều, các quy định của luật đòi hỏi phải cụ thể, minh bạch, yêu cầu số lượng luật được ban hành ngày càng nhiều... Đứng trước thách thức này, thì quy trình lập pháp như hiện nay không thể phục vụ tốt cho nhiệm vụ lập pháp.  Đơn cử với quy trình và cách thức làm luật như hiện nay, nếu Quốc hội chỉ dành thời gian  nâng 112 pháp lệnh lên thành luật mà không thực hiện nhiệm vụ gì cũng phải mất ít nhất một nhiệm kỳ là 5 năm. Việc đổi mới căn bản quy trình lập pháp phải dựa vào sự phân công rõ ràng hơn việc thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội. Điều này sẽ tác động đến cách thức tổ chức và huy động tiềm lực cho công tác lập pháp. Nếu đi theo hướng Quốc hội ngày càng thực hiện thực chất hơn chức năng lập pháp thì phải tập trung tăng cường năng lực lập pháp cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Chính phủ tập trung vào việc điều hành và chỉ đạo xây dựng các đạo luật lớn, nội dung sửa đổi hoàn toàn mới.

Những thay đổi, bổ sung  luật  trên cơ sở kết quả hoạt động giám sát hoạc quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính cần có sự phối hợp giữa các Ủy ban của Quốc hội, các Bộ, ngành chủ động xây dựng và đề xuất với Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội để chỉ đạo sửa đổi, bổ sung. Và vai trò của cơ quan thẩm tra không chỉ dừng ở tính chất phản biện mà còn thực sự đảm nhận được việc xây dựng, sửa chữa, hoàn thiện luật để Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội thông qua. Mặt khác tăng cường thực hiện chức năng giải thích luật, pháp lệnh; Giám sát, xử lý văn bản trái Hiến pháp, luật, pháp lệnh thiết lập sự thống nhất, nghiêm minh của hệ thống luật.  Và như vậy quy trình lập pháp sẽ sửa đổi theo hướng đơn giản hơn. Bất kỳ dự án luật nào cần thiết, giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội, thì  phải được các cơ quan có trách nhiệm tập trung chuẩn bị và nêu đạt được yêu cầu thì  trình Quốc hội thông qua bất cứ lúc nào. Nếu chuẩn bị chưa tốt, chất lượng kém thì dù cấp thiết đến đâu, dù được ưu tiên xếp hàng đầu cũng sẽ không được thông qua.

 

>Trang [1]  >Trang [2]

  

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện