|
(tiếp theo và hết)
III.
Những vấn đề đặt ra đối với cải cách lập pháp
Trong giai đoạn cạnh tranh phát triển khốc liệt,
tăng trưởng kinh tế cao, hội nhập và mở rộng
hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực, mở rộng dân
chủ, thiết lập trật tự kỷ cương trên nền tảng
phát triển mới, thì việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật có vai trò hết sức quan trọng. Điều
này đang đặt ra nhiệm vụ cho cả bộ máy nhà nước,
cho Quốc hội nhiệm vụ cải cách lập pháp mạnh mẽ.
Trước hết là : cải cách lập
pháp phải tiến hành đồng bộ với cải cách tư
pháp và cải cách hành chính. Hoạt động
quản lý hành chính nhà nước, hoạt động tư pháp
là hoạt động thường xuyên, liên tục, tác động
trực tiếp đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,
đến cá nhân từng tổ chức, con người... Vì vậy
đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật đầy đủ,
cụ thể, điều chỉnh kịp thời khi cần thiết. Sự
thiếu vắng, chậm trễ, không cụ thể, thiếu minh
bạch về quyền và nghĩa vụ, sự khập khiễng của hệ
thống pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển của xã
hội, cản trở tiến trình cải cách hành chính, cải
cách tư pháp. Nếu kéo dài tình trạng này, khi
trình độ kinh tế - xã hội phát triển, thì hiệu
lực, hiệu quả quản lý không theo kịp, thậm chí
gây rối loạn trong xã hội. Mặt khác nếu tiếp tục
duy trì việc bộ máy hành chính, bộ máy tư pháp
vừa phải gánh vác nhiệm vụ lập pháp, vừa gánh
vác nhiệm vụ lập quy, vừa tổ chức thực hiện thì
không tránh khỏi những lỗ hổng để tình trạng
nhũng nhiễu, tham nhũng, lãng phí, tham ô, vô
trách nhiệm có đất hoành hành. Và như vậy việc
phân công thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp vẫn chưa rõ ràng... Trong khi đó, Quốc
hội vẫn chủ yếu là đại biểu không chuyên trách,
các cơ quan của Quốc hội còn thiếu và yếu so với
yêu cầu nhiệm vụ, thời gian kỳ họp bị giới hạn,
năng lực lập pháp, giám sát hạn chế và nếu chỉ
trông chờ vào đổi mới quy trình lập pháp thì sẽ
không đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính,
cải cách tư pháp. Vì vậy, việc cải cách lập pháp
phải được tiến hành mạnh mẽ hơn .
Thứ hai là:
Đổi mới về tổ chức phải toàn diện, có bước
đột phá theo hướng Quốc hội ngày càng thực hiện
quyền lập pháp đầy đủ hơn, thực chất hơn.
Bắt đầu từ việc bầu cử, hình thành cơ cấu,
thành phần đại biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc
hội là người đại diện cho ý chí nguyện vọng của
nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn
vị bầu ra mình, mà còn đại diện cho nhân dân cả
nước; là người thay mặt cho nhân dân thực hiện
quyền lực nhà nước. Quy định này cần thiết
phải đưa vào Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội bên
cạnh tiêu chuẩn đại biểu. Điều này giúp nhận
thức rõ hơn: tiêu chuẩn phải gắn với việc thực
hiện chức năng, nhiệm vụ. Và làm cơ sở cho việc
lựa chọn, giới thiệu người ra ứng cử.
Tiến xa hơn là xây dựng cơ chế tranh cử
để tìm người thực sự đảm nhận tốt vai trò Đại
biểu Quốc hội. Ngay từ những ngày đầu xây dựng
Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tư tưởng Hồ
Chí Minh về bầu cử, về nhà nước pháp quyền cũng
hết sức cụ thể. Bác Hồ từng căn dặn : “Trong
tổng tuyển cử , hễ là những người muốn lo việc
nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân
thì đều có quyền bầu cử”... Và “làm việc
nước bây giờ là hy sinh là phấn đấu quên lợi
riêng mà nghĩ lợi chung”.
Thực tế làm nhiệm vụ đại biểu là thực hiện trách
nhiệm đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân
dân trong công tác làm luật, giám sát tối cao,
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Và Đại biểu Quốc hội phải chịu trách nhiệm trước
cử tri về kết quả, hiệu quả hoạt động đại diện
của mình. Công việc làm đại diện không thể
là kiêm nhiệm, chịu sự ràng buộc về quản lý hành
chính, sự tác động của cơ cấu thành
phần. Vì nếu đại biểu không chuyên trách chiếm
tỷ lệ lớn, thì khi đi vào hoạt động chỉ có một
phần nhỏ đại biểu thực hiện thường xuyên, đầy đủ
nhiệm vụ cử tri giao phó. Chính điều này sẽ hạn
chế việc đổi mới sâu sắc tổ chức và hoạt của
Quốc hội.
Trên cơ sở đổi mới công tác bầu cử lựa
chọn được đại biểu thực sự có đủ năng lực, tăng
cường đại biểu chuyên trách để đổi mới tổ chức
và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc
hội. Trước hết là tăng thời gian làm việc của kỳ
họp Quốc hội phục vụ cho hoạt động lập phá, giám
sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất
nước. Việc tăng thời gian trong điều kiện tăng
đại biểu chuyên trách sẽ không ảnh hưởng tới
công việc thường xuyên của các đại biểu không
chuyên trách mà hiện nay chiếm tới 75% trên
tổng số đại biểu. Đồng thời cần phát huy trí
tuệ, trách nhiệm của từng đại biểu để xây dựng
và quyết định chính sách pháp luật và giám sát
thực hiện luật.
Tập trung củng cố các cơ quan chuyên môn
của Quốc hội theo hướng vừa tăng thêm các Ủy
ban, vừa tăng thêm các đại biểu chuyên trách làm
việc tại các Ủy ban. Đi theo hướng này sẽ phát
huy vai trò của các Ủy ban, góp phần khắc phục
các hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Quốc
hội thời gian qua. Trên cơ sở lĩnh vực công tác,
khối lượng công việc tiếp tục nghiên cứu tách Ủy
ban Pháp luật, Ủy ban Kinh tế Ngân sách. Đồng
thời nghiên cứu tách Ủy ban Về các vấn đề xã
hội, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục-Thanh niên- Thiếu
niên và Nhi đồng. Số Ủy ban cần thành lập không
nhất thiết phải tương ứng với số bộ của Chính
phủ mà tương xứng với khối lượng công việc xây
dựng pháp luật, thẩm tra, giám sát.
Bên cạch việc củng cố tổ chức Hội đồng và
các Ủy ban của Quốc hội cần tập trung củng cố bộ
máy giúp việc trực tiếp của các cơ quan này.
Năng lực của bộ máy giúp việc rất quan trọng
trong việc phục vụ hoạt động của các đại biểu.
Các thành viên của Ủy Uỷ ban ngoài khả năng
phát hiện và xây dựng chính sách pháp luật, thì
còn phải là người đưa ra các bài toán, yêu cầu
để bộ máy giúp việc thực hiện. Bộ máy này không
nhất thiết phải tăng cường nhiều công chức mà
phải biết sử dụng ngân sách có hiệu quả để tổ
chức giải quyết các nhiệm vụ đặt ra. Có như vậy
mới không tăng biên chế và linh hoạt trong việc
khai thác bộ máy giúp việc.
Thứ ba là :
Đổi mới quy trình lập pháp. Hệ
thống luật, pháp lệnh tiếp tục vận động theo
hướng tập trung đi sâu vào các lĩnh vực kinh tế,
dân sự, tổ chức bộ máy nhà nước, các luật sửa
đổi bổ sung chiếm tỷ lệ lớn, số lượng pháp lệnh
cần được nâng lên thành luật nhiều, các quy định
của luật đòi hỏi phải cụ thể, minh bạch, yêu cầu
số lượng luật được ban hành ngày càng nhiều...
Đứng trước thách thức này, thì quy trình lập
pháp như hiện nay không thể phục vụ tốt cho
nhiệm vụ lập pháp. Đơn cử với quy trình và cách
thức làm luật như hiện nay, nếu Quốc hội chỉ
dành thời gian nâng 112 pháp lệnh lên thành
luật mà không thực hiện nhiệm vụ gì cũng phải
mất ít nhất một nhiệm kỳ là 5 năm. Việc đổi mới
căn bản quy trình lập pháp phải dựa vào sự phân
công rõ ràng hơn việc thực hiện quyền lập pháp
của Quốc hội. Điều này sẽ tác động đến cách thức
tổ chức và huy động tiềm lực cho công tác lập
pháp. Nếu đi theo hướng Quốc hội ngày càng thực
hiện thực chất hơn chức năng lập pháp thì phải
tập trung tăng cường năng lực lập pháp cho Quốc
hội, các cơ quan của Quốc hội. Chính phủ tập
trung vào việc điều hành và chỉ đạo xây dựng các
đạo luật lớn, nội dung sửa đổi hoàn toàn mới.
Những thay đổi, bổ sung luật trên cơ sở kết
quả hoạt động giám sát hoạc quá trình thực hiện
nhiệm vụ quản lý hành chính cần có sự phối hợp
giữa các Ủy ban của Quốc hội, các Bộ, ngành chủ
động xây dựng và đề xuất với Chính phủ, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội để chỉ đạo sửa đổi, bổ sung.
Và vai trò của cơ quan thẩm tra không chỉ dừng ở
tính chất phản biện mà còn thực sự đảm nhận được
việc xây dựng, sửa chữa, hoàn thiện luật để Ủy
ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội thông qua.
Mặt khác tăng cường thực hiện chức năng giải
thích luật, pháp lệnh; Giám sát, xử lý văn bản
trái Hiến pháp, luật, pháp lệnh thiết lập sự
thống nhất, nghiêm minh của hệ thống luật. Và
như vậy quy trình lập pháp sẽ sửa đổi theo hướng
đơn giản hơn. Bất kỳ dự án luật nào cần thiết,
giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội, thì
phải được các cơ quan có trách nhiệm tập trung
chuẩn bị và nêu đạt được yêu cầu thì trình Quốc
hội thông qua bất cứ lúc nào. Nếu chuẩn bị chưa
tốt, chất lượng kém thì dù cấp thiết đến đâu, dù
được ưu tiên xếp hàng đầu cũng sẽ không được
thông qua.
>Trang [1]
>Trang [2]
|