|
1. Lý do thiết yếu
Về mặt ngôn ngữ hay logic học, giải thích pháp luật là “làm cho hiểu rõ” pháp luật. Nhưng về mặt luật học thì không đơn giản như vậy. Pháp luật là lĩnh vực hệ trọng, nên giải thích pháp luật cũng hệ trọng không kém. Nói đến giải thích pháp luật là nói đến mục đích pháp lý của công việc, tính chất và hiệu lực pháp lý của sản phẩm giải thích. Xét về tính chất và hiệu lực pháp lý của sản phẩm giải thích, có giải thích pháp luật chính thức (giải thích của các chủ thể được Nhà nước trao quyền) và giải thích pháp luật không chính thức (giải thích của các chủ thể không được Nhà nước trao quyền). Trong giải thích pháp luật chính thức lại có giải thích của người làm luật (xây dựng pháp luật) và người dùng luật (thực hiện, áp dụng pháp luật). Người xây dựng pháp luật có thể giải thích ở nhiều thời điểm, nhiều chỗ trong quá trình xây dựng pháp luật, giải thích khi xác lập ý tưởng cho quy tắc xử sự, giải thích từ ngữ, khái niệm, giải thích những chỗ cảm thấy có thể bị hiểu sai, giải thích những chỗ thấy chưa thật rõ, chưa hết ý hoặc không thể nói được rõ hơn, đầy đủ hơn, thậm chí bổ sung những chỗ còn thiếu bằng một sự giải thích… Người áp dụng pháp luật giải thích khi thực hiện, nhất là khi áp dụng thấy có vướng mắc, phải cân nhắc để tìm một giải pháp hợp lý, đúng quy tắc xử sự, phù hợp ý chí của người làm luật thì đó là giải thích mang tính vụ việc, không có hiệu lực pháp lý bắt buộc chung mà chỉ có hiệu lực pháp lý đối với vụ việc cụ thể, trừ phi giải thích đó có thể trở thành án lệ và có quy định sử dụng án lệ. Như vậy, hiệu lực sản phẩm giải thích của người xây dựng pháp luật và hiệu lực sản phẩm giải thích của người áp dụng pháp luật là khác nhau. Giải thích của người xây dựng pháp luật thuộc quyền lực lập pháp, giải thích của người dùng luật không thuộc quyền lực lập pháp.
Quyền làm ra luật là quyền xác lập quy tắc xử sự, quyền thể hiện ý chí, còn quyền giải thích luật là quyền xác định quy tắc xử sự, quyền tìm hiểu ý chí đó. Hai quyền này có khả năng thâm nhập và can thiệp vào nhau nhưng là hai quyền khác nhau, độc lập.
Ở Việt Nam, pháp luật quy định chủ thể giải thích pháp luật là Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), cơ quan giúp việc giải thích cho UBTVQH là Văn phòng Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội. Cơ quan đề nghị UBTVQH giải thích là Chủ tịch nước, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận, đại biểu Quốc hội. Hệ thống các cơ quan này đều có quyền xây dựng pháp luật và hiếm có cơ hội giải thích pháp luật sau khi pháp luật đó đã có hiệu lực.
Nhiệm vụ giải thích pháp luật ở nước ta đã được nói đến lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 191 ngày 1/10/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa về việc thiết lập Nha Thanh tra Hành chính và Chính trị ở Bộ Nội vụ do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, sau đó được ghi nhận ở Hiến pháp năm 1959. Điều đó chứng tỏ Nhà nước ta đã thấy được vai trò to lớn của giải thích pháp luật. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện chưa được như mong muốn. Thực tế giải thích pháp luật ở nước ta hiện đang trong tình trạng như sau:
Một là, giải thích pháp luật chính thống của UBTVQH chưa được nhiều, sản phẩm chủ yếu là văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, bổ sung pháp luật. Cụ thể, trong những lần giải thích pháp luật của UBTVQH, chỉ có 2 lần Nghị quyết đề rõ là “giải thích”, đó là giải thích điểm c khoản 2 Điều 241 Luật Thương mại năm 1997 và giải thích khoản 6 Điều 19 Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2005, còn lại các Nghị quyết quy định về giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước 1/7/1991, trước 1/1/1991… là để quy định, hướng dẫn giải quyết những tranh chấp có liên quan.
Hai là, Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ… trong khi ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp luật, một mặt do yêu cầu tự nhiên, một mặt do thông lệ, cũng giải thích nhiều nội dung thuộc văn bản của cấp trên. Nội dung giải thích này hòa trộn trong văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện pháp luật, rất khó đánh giá, kiểm soát.
Ba là, Tòa án các cấp tuy không được trao thẩm quyền giải thích pháp luật, nhưng trong quá trình xét xử, Tòa án vẫn phải giải thích pháp luật để áp dụng. Sự giải thích này không được thừa nhận và cũng không bị kiểm soát.
Đứng ở góc độ của khoa học pháp lý thì công việc giải thích pháp luật ở nước ta hiện nay chưa quy củ, chưa đáp ứng được nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền trên phương diện xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nước ta đang trong quá trình sửa đổi Hiến pháp, thiết nghĩ, trao cho Tòa án thẩm quyền giải thích pháp luật sẽ có khả năng giải quyết toàn diện những vướng mắc của pháp luật khi áp dụng theo đúng bản chất của giải thích pháp luật.
2. Cơ sở lý luận
2.1. Đã có đủ điều kiện chủ quan để trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án
Hiện nay, có nhiều ý kiến băn khoăn là mô hình Tòa án giải thích pháp luật có phù hợp với chính thể tập quyền ở nước ta không? Trên thế giới, quốc gia nào tổ chức nhà nước theo lý thuyết phân chia quyền lực thì thường Tòa án có thẩm quyền giải thích pháp luật, quốc gia nào tổ chức nhà nước theo lý thuyết tập trung quyền lực thì thường cơ quan lập pháp có thẩm quyền giải thích pháp luật. Việt Nam tổ chức nhà nước theo lý thuyết tập quyền, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, UBTVQH đã được trao quyền giải thích pháp luật là theo lẽ đó. Tuy nhiên, giải pháp trao cho Tòa án thẩm quyền giải thích pháp luật ở Việt Nam để giải quyết thực trạng và nâng cao chất lượng hoạt động này không phải là không có cơ sở, mà ngược lại, Việt Nam đã và đang có đủ những điều kiện chủ quan để dẫn tới việc trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án, cụ thể:
Thứ nhất, ở nước ta đã có sự phân công từ đầu để cho mỗi nhánh quyền lực phát huy chức năng của mình. “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Nghĩa là về mặt lý thuyết, không phải Việt Nam tuyệt đối hóa chủ nghĩa tập trung quyền lực trong việc xây dựng các thiết chế.
Thứ hai, các cơ quan quyền lực nước ta đều được vận hành theo nguyên lý cơ bản “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Nghĩa là ba nhánh quyền lực ở Việt Nam cùng chung một nguồn gốc, một mục đích, có mối liên hệ hữu cơ, cùng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, do đó hoạt động của các cơ quan này có sự bổ trợ cho nhau. Việc Tòa án được trao quyền giải thích pháp luật là để Tòa án làm tròn nhiệm vụ do nhân dân giao phó, không có gì trở ngại.
Thứ ba, Nhà nước ta có nguyên tắc “thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” và lại đang có “Chiến lược cải cách tư pháp”. Đây có thể coi là điều kiện chủ quan trực tiếp, quyết định đối với việc trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án. Vì hiện nay Tòa án đang đảm đương một nhiệm vụ nặng nề là dùng pháp luật để xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và các vụ kiện tụng trong nhân dân mà Tòa án không có quyền giải thích pháp luật chính thức thì khác nào Tòa án được trang bị một “vũ khí” chuyên dụng mà lại không được phép khai thác hết tính năng của “vũ khí” đó. Và vấn đề quan trọng đặt ra là Tòa án phải có vị trí độc lập. Dù phân quyền hay tập quyền, Tòa án vốn dĩ ở vị trí độc lập với lập pháp và hành pháp. Tòa án không tham gia tổ chức mà chỉ giám sát sự tổ chức. Theo nghĩa đen, “tư pháp” là cai quản việc luật pháp. Đã cai quản việc pháp luật thì tất yếu phải hiểu thấu pháp luật (phải được giải thích pháp luật), đã được giải thích thì sẽ được phán quyết vi hiến hay hợp hiến, vi phạm pháp luật hay không vi phạm pháp luật.
2.2. Tòa án là cơ quan nhà nước có điều kiện giải thích pháp luật khi áp dụng pháp luật thuận lợi hơn cả
Một là, Tòa án tiếp nhận yêu cầu giải thích pháp luật một cách tự nhiên, trực tiếp, thường xuyên và tất yếu. “Một quy tắc của quy phạm có thể được hiểu ở nhiều giác độ khác nhau, các chủ thể có thể áp dụng theo cách hiểu đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để có được quyền lợi về mình. Một khi giữa họ không có mâu thuẫn về quyền lợi, thì là điều tốt. Nhưng một khi quyền lợi mâu thuẫn nhau trong cùng một việc áp dụng nội dung của quy phạm, thì họ phải nại ra Tòa, nơi duy nhất hiện nay được nhiều nước quy định có thẩm quyền phán xử sự đúng sai của mỗi bên”1.
Như vậy, có thể nói các yêu cầu của giải thích pháp luật đã tự nhiên dồn về Tòa án. Những hành vi vi phạm pháp luật, những vụ kiện tụng luôn xảy ra thì cũng có nghĩa là việc xét xử, việc áp dụng pháp luật cũng phải thường xuyên tiến hành. Dù muốn hay không, Tòa án chỉ có một cách duy nhất là nhân danh Nhà nước, dùng pháp luật để phân xử đúng sai, để đưa ra phán quyết. Để phán quyết đúng pháp luật, thỏa đáng, Tòa án phải tự mình áp dụng các quy định của pháp luật sao cho đúng đắn nhất, không thể thoái thác, không thể nhờ ai, cũng không thể cẩu thả, thiếu thận trọng, tức Tòa án phải giải thích pháp luật. Đó là một lẽ tất yếu. Giải thích pháp luật luôn xảy ra một cách bức thiết nhất tại Tòa án, trong quá trình áp dụng pháp luật.
Hai là, Tòa án có kỹ năng giải thích pháp luật chuyên nghiệp. Vì phải tìm tòi, trăn trở và tiếp xúc trực tiếp với các bản cáo trạng, các chi tiết của vụ việc, đồng thời lại có điều kiện trực tiếp tiếp xúc với các quy định của pháp luật, với “sự sống” cụ thể của từng quy phạm pháp luật (QPPL) trong sự vận hành của nó, việc áp dụng pháp luật của Tòa án đã thành một nghiệp vụ quen thuộc.
Nghiệp vụ xét xử của Tòa án sau khi xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc là lựa chọn những QPPL điều chỉnh tương ứng với vụ việc đó, để rồi đưa ra được những quyết định áp dụng pháp luật cụ thể (mà sản phẩm là các văn bản áp dụng pháp luật), đúng đắn - công đoạn quan trọng nhất của áp dụng pháp luật. Công việc ấy lặp đi, lặp lại nhiều lần đã làm cho hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án có tính chuyên nghiệp. Hạt nhân của tính chuyên nghiệp đó chính là kỹ năng giải thích pháp luật của thẩm phán. Người thẩm phán được trang bị kiến thức pháp lý, kiến thức xét xử qua đào tạo, sách vở, nhưng nó chỉ có ý nghĩa khi họ biết tìm kiếm giải pháp áp dụng, tìm kiếm QPPL, giải thích nó để áp dụng vào tình huống, vụ việc cụ thể đã diễn ra qua sự mô tả lại tại Tòa án. Đương nhiên để có kỹ năng giải thích pháp luật chuyên nghiệp, bản thân nó phải là sản phẩm của một quy trình và các nguyên tắc giải thích pháp luật do pháp luật quy định.
Ba là, Tòa án có điều kiện rèn luyện bản lĩnh giải thích pháp luật nhờ nguyên tắc xét xử độc lập, công khai. Nguyên tắc “thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là một nguyên tắc quan trọng. Nguyên tắc này tạo cho Tòa án một vị trí đặc biệt trong đời sống pháp lý, là lực lượng bảo hộ, đại diện cho công lý, gắn liền với công lý. Hoạt động giải thích pháp luật vốn chứa nhiều yếu tố phức tạp, có độ nhạy cảm, vì vấn đề được giải thích liên quan đến vận mệnh của người dân, của các chủ thể liên đới, do đó, mỗi lý lẽ giải thích pháp luật của thẩm phán phải là sản phẩm trí tuệ thật sự, hàm chứa nhiều giá trị cho sự áp dụng, đúng pháp luật, hợp lòng người và có thể có những đóng góp, kinh nghiệm cho áp dụng pháp luật về sau. Độc lập xét xử sẽ nâng cao tính trách nhiệm và bổn phận của thẩm phán và tạo cho thẩm phán sự tự tin, bản lĩnh nghề nghiệp, ý thức tự vươn lên và tự kiểm soát chính mình khi áp dụng pháp luật. Tòa án xét xử công khai, có nghĩa là Tòa án công khai hóa toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật của mình, trình bày công khai tất cả những kiến giải của mình về một nguyên tắc pháp luật, một QPPL, hay bất cứ một nguồn pháp luật nào đó được viện dẫn trong quá trình xét xử, quá trình áp dụng pháp luật. Công khai trong xét xử đã đặt sự giải thích của thẩm phán vào không khí dân chủ, chấp nhận thách thức trước dư luận, trước phản biện xã hội, đó là môi trường khách quan nhất có khả năng sàng lọc giá trị ở nhiều phương diện của sản phẩm giải thích pháp luật. “Nói đến áp dụng và giải thích pháp luật trên thực tế thì không có ai có một vị trí “tuyệt vời” để thực hiện như người thẩm phán. Có thể có sự khác nhau trong cách hiểu pháp luật và áp dụng pháp luật nhưng người thẩm phán được giao một đặc quyền và một trọng trách vô cùng to lớn là quyết định cuối cùng việc áp dụng pháp luật như thế nào. Cả xã hội nhìn vào việc áp dụng pháp luật của Tòa án để định hướng hành vi ứng xử của mình”2.
Bốn là, Tòa án có vị trí quyền lực thích hợp nhất với giải thích pháp luật. Dù cơ cấu quyền lực theo hình thức phân quyền hay tập quyền, thì cơ quan tư pháp (Tòa án) vẫn được xem ở nhánh thứ ba, độc lập với hai nhánh trên để giữ vai trò trọng tài, bản thân ít có khả năng lạm quyền nhất, và cũng là cơ quan có nhiều khả năng hạn chế sự lạm quyền nhất. Jean Jacques Rousseau đã từng nói về tính chất của Tòa án “là cơ quan không có một chút quyền lập pháp hay quyền hành pháp nào cả. Nhưng chính do đó mà cơ quan tư pháp có quyền cao hơn cả, vì nó không làm gì cả nhưng có thể ngăn cản tất cả... vì nó là người bảo vệ luật, mà luật là do cơ quan quyền lực tối cao ban hành và do Chính phủ chấp hành”.
Tòa án không có khả năng phân chia, tổ chức và chỉ huy quyền lực, Tòa án chỉ có nhiệm vụ cụ thể là giải thích pháp luật để phân xử đúng sai trong các tranh chấp, kiện tụng để ra phán quyết, là giải thích pháp luật (khi cần thiết) để xem một QPPL, một đạo luật… có hợp hiến, từ đó có thể ra phán quyết tuyên bố một QPPL hoặc một đạo luật là vi hiến. Những phán quyết đó không phải để củng cố quyền lực của Tòa án mà là để bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý.
Năm là, niềm tin. Đó là sự tin tưởng của Nhà nước và Nhân dân vào Tòa án. Không phải ngẫu nhiên mà người ta chọn cái cân đĩa ở trạng thái thăng bằng làm biểu tượng cho pháp luật, cho Tòa án. Công lý, công bằng là lý tưởng xã hội mà loài người từ thế hệ này sang thế hệ khác hằng mong ước và nỗ lực xây dựng. Pháp luật - xét đến cùng là những công cụ để điều hòa quyền lợi, để tìm công lý, công bằng. Người dân trông đợi công bằng đồng nghĩa với trông đợi ở Tòa án. Đó là một niềm tin. Vì vậy, nếu Tòa án (tức thẩm phán) tạo được một niềm tin trước nhân dân, không để nhân dân mất hoặc suy giảm niềm tin đối với Tòa án, thì đó là một điều kiện lớn để Tòa án nhận và hoàn thành sứ mệnh giải thích pháp luật chính thức.
3. Xây dựng mô hình
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn giải thích pháp luật ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, mô hình Tòa án giải thích pháp luật ở Việt Nam là phù hợp nhất, có thể phác thảo một cấu trúc như sau:
(i) Chủ thể giải thích pháp luật. Chủ thể này được phân làm hai cấp độ:
Thứ nhất, chủ thể giải thích Hiến pháp (Tòa án Hiến pháp). Do đặc điểm, vị trí của Hiến pháp, do tính chất của hoạt động giải thích Hiến pháp, chủ thể giải thích Hiến pháp ở Việt Nam phải là chủ thể có thẩm quyền bảo hiến. Một mô hình Tòa án Hiến pháp, độc lập cả với ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp là một mô hình cần có ở Việt Nam. Tòa án Hiến pháp sẽ là chủ thể có thẩm quyền giải thích Hiến pháp. Để làm được điều này, Quốc hội cần ban hành nguyên tắc, quy trình, thủ tục giải thích Hiến pháp. Quy trình này tuy đã được đề cập nhưng cho đến nay vẫn chưa được nhận thức và triển khai một cách đầy đủ. Theo Quy chế hoạt động của UBTVQH năm 2004, ban hành kèm theo Nghị quyết số 26/2004, thì quy trình, thủ tục của giải thích Hiến pháp lại được thực hiện như quy trình giải thích luật, pháp lệnh. Nhìn chung, nó giống quy trình, thủ tục ban hành Nghị quyết khác của UBTVQH, thậm chí còn đơn giản, rút gọn hơn. Vì vậy, quy trình giải thích Hiến pháp cần phải được quy định một cách chặt chẽ, đảm bảo để có các sản phẩm giải thích Hiến pháp có chất lượng, đúng với mục đích bảo vệ Hiến pháp. Theo đó, sản phẩm giải thích Hiến pháp cũng phải được xác định rõ về mặt hình thức văn bản cũng như giá trị pháp lý của nó trong hệ thống văn bản QPPL Việt Nam. Đương nhiên không nên hiểu đối tượng của hoạt động giải thích Hiến pháp chỉ bao gồm văn bản Hiến pháp.
Thứ hai, chủ thể giải thích pháp luật (trừ Hiến pháp - Tòa án nhân dân các cấp). Đối tượng của giải thích pháp luật sẽ là tất cả các văn bản QPPL có nhu cầu giải thích theo quy định của pháp luật hiện hành, trừ Hiến pháp sẽ theo quy trình và thủ tục giải thích Hiến pháp. Tất cả các Tòa án ở các cấp xét xử của Việt Nam đều có quyền và nghĩa vụ giải thích pháp luật trong quá trình áp dụng pháp luật của Tòa án. Giải thích của Tòa án có thể xuất phát từ nhu cầu tự thân của Tòa án khi tiến hành công việc xét xử và áp dụng pháp luật, cũng có thể là trên cơ sở yêu cầu giải thích của các chủ thể có thẩm quyền yêu cầu. Giải thích của Tòa án là giải thích chính thức đối với từng vụ việc, tình huống cụ thể. Sản phẩm giải thích pháp luật mang tính cụ thể của Tòa án sẽ có hiệu lực áp dụng đối với trường hợp, vụ việc cụ thể đó. Đối với các giải thích không thống nhất hoặc có mâu thuẫn giữa các Tòa án cùng cấp hoặc ở các cấp khác nhau thì giải thích của TANDTC sẽ là giải thích mang tính phán quyết. Giải thích của TANDTC nếu không tìm được sự đồng thuận hoặc giải thích không đúng thì bản thân giải thích này sẽ là đối tượng xem xét của một phiên tòa cao hơn, phiên tòa cuối cùng thuộc thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp.
(ii) Đối tượng của giải thích pháp luật. Đó phải là tất cả các văn bản QPPL theo pháp luật hiện hành, nếu như các văn bản đó bộc lộ khả năng phải giải thích, khi có nhu cầu giải thích chính đáng từ cuộc sống, đặc biệt trong quá trình áp dụng pháp luật, chứ không thể chỉ dừng lại ở Hiến pháp, luật, pháp lệnh như hiện nay. Cụ thể, phải bao gồm tất cả các văn bản QPPL hiện được ghi nhận tại Điều 1, 2 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008. Như vậy, đối tượng của giải thích pháp luật có thể là bất cứ văn bản QPPL nào, cũng có thể là cả chính sách pháp luật, các nguyên tắc pháp lý… chừng nào các đối tượng này bộc lộ khả năng phải giải thích. Đối tượng của giải thích pháp luật ở Việt Nam trong tương lai có thể còn phải mở rộng hơn nữa, điều này phụ thuộc vào việc hoàn thiện lý thuyết về hệ thống pháp luật, về hình thức và nguồn của pháp luật Việt Nam.
(iii) Hình thức văn bản của sản phẩm giải thích. Sản phẩm giải thích pháp luật phải được diễn giải trong các bản án hoặc quyết định của Tòa án. Những sản phẩm giải thích điển hình cần được tập hợp lại trong một hình thức văn bản pháp luật có giá trị pháp lý.
(iv) Quy trình giải thích pháp luật trực tiếp. Quy trình này gồm trực tiếp tiếp nhận yêu cầu, trực tiếp giải thích và trực tiếp tiếp nhận phản biện.
4. Một số biện pháp hỗ trợ việc trao thẩm quyền giải thích pháp luật chính thức cho Tòa án
Trao thẩm quyền giải thích pháp luật cho Tòa án là một giải pháp có tính cách mạng lớn. Tuy nhiên, mô hình này chỉ có thể thực hiện được khi có được các biện pháp hỗ trợ cụ thể như: ban hành một đạo luật về giải thích pháp luật, thành lập cơ quan bảo hiến độc lập, nâng cao đạo đức và năng lực giải thích pháp luật của thẩm phán, thừa nhận án lệ, đăng tải công khai các bản án và quyết định của Tòa án và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giải thích pháp luật.
4.1. Xây dựng và ban hành một đạo luật về giải thích pháp luật
Ở nước ta hiện đã có những quy định rất cơ bản cho hoạt động giải thích pháp luật như: quy định về chủ thể có thẩm quyền giải thích, chủ thể có quyền yêu cầu giải thích, quy trình giải thích pháp luật. Nhưng nhìn chung các quy định pháp lý đó chưa phù hợp và chưa đủ sức làm nền tảng cho hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam. Do vậy, việc xây dựng một đạo luật về giải thích pháp luật với đầy đủ những quy định cơ bản nhất, phản ánh các tính chất khoa học của hoạt động này là một nhiệm vụ lớn của cơ quan lập pháp. Theo đó, luật này sẽ có một số nội dung cơ bản là: mục đích, yêu cầu của giải thích pháp luật; quyền hạn và nhiệm vụ giải thích pháp luật; nguyên tắc giải thích pháp luật; các quy định cụ thể về giải thích Hiến pháp, giải thích các đạo luật, điều ước quốc tế và các văn bản khác; phương pháp và các kỹ thuật giải thích pháp luật; giải thích pháp luật của Tòa án; kiểm soát giải thích pháp luật... Tính cách mạng của luật này chính là việc tạo ra một hệ điều kiện, nguyên tắc, phương pháp để cho nền giải thích pháp luật Việt Nam phát triển, trở thành một động lực phát triển của hệ thống pháp luật của quốc gia.
4.2. Thành lập cơ quan bảo hiến độc lập
Giải pháp này sẽ hỗ trợ đắc lực đối với việc trao thẩm quyền giải thích pháp luật chính thức cho Tòa án. Để vai trò của bảo hiến phát huy được các giá trị của nó, phải có một thiết chế bảo hiến độc lập với các công cụ cần thiết cho việc bảo hiến. Các công cụ đó chính là quyền giải thích pháp luật và quyền xem xét giải quyết đối với các khiếu kiện của người dân liên quan đến tính hợp hiến và vi hiến.
Thiết chế bảo hiến, nếu được xây dựng, tác động của nó đối với giải thích pháp luật sẽ ở hai khía cạnh: (i) vì bảo hiến nên phải giải thích hiến pháp, một vấn đề hiện nay còn khuyết cả về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam; (ii) vì bảo hiến mà trong quá trình áp dụng pháp luật, các chủ thể áp dụng phải giải thích pháp luật để áp dụng cho chính xác và hiệu quả nếu không bản thân quyết định áp dụng pháp luật cũng có thể trở thành vi hiến, thành đối tượng cần xem xét của hoạt động bảo hiến.
4.3. Thừa nhận án lệ, đăng tải công khai các bản án, quyết định của Tòa án
Bản án, quyết định của Tòa án chính là: “Quan điểm chính thức của cơ quan duy nhất được trao quyền xét xử, giải quyết vụ việc có liên quan đến hầu hết mọi vấn đề phát sinh trong xã hội và nó có giá trị pháp lý sau cùng. Nó nói lên QPPL được áp dụng trong trường hợp cụ thể như thế nào. Hay nói cách khác, nếu QPPL đã được nhà làm luật xây dựng dựa trên sự dự liệu những quan hệ hay vấn đề phát sinh trong xã hội thì bản án phản ánh những dự liệu đó ứng dụng trong cuộc sống như thế nào. Như vậy, có thể nói ở góc độ nào đó, bản án là hình thức chuyển tải các QPPL ở trạng thái “tĩnh” sang trạng thái “động” của cuộc sống”3.
Đăng tải công khai bản án, quyết định của Tòa án góp phần làm cho việc áp dụng pháp luật được nhất quán, tránh tùy tiện, tránh phỏng đoán. Qua đó giúp chỉ ra những mâu thuẫn về việc hiểu, diễn giải sai các quy định pháp luật giữa các Tòa án, giữa các cấp Tòa án, đồng thời giúp tăng khả năng dự đoán kết quả tranh chấp hoặc giải quyết vụ việc, giúp làm sáng tỏ ý nghĩa những quy định pháp luật (phần lớn do tính không rõ ràng của quy định pháp luật mà dẫn đến tranh chấp). Sự đăng tải công khai bản án, quyết định còn góp phần nâng cao chất lượng các QPPL, tức là cơ quan ban hành văn bản QPPL có thể dựa vào các bản án được đăng tải công khai để kiểm định lại chất lượng văn bản QPPL mà mình đã ban hành, cũng như đối chiếu lại cách thức hiểu và áp dụng pháp luật mà mình đã dự liệu, nếu có vấn đề gì sẽ bổ sung, sửa đổi hoặc chỉ dẫn kịp thời và có thể xem đây là những động tác tiền thân của phương pháp dùng án lệ. Sự đăng tải công khai bản án, quyết định cũng sẽ tác động trực tiếp đến kỹ năng và chất lượng giải thích pháp luật của Tòa án, rèn luyện cho các thẩm phán một bản lĩnh chuyên môn (vì sao lại chọn quy phạm ấy, lại hiểu như thế, lại phán quyết như thế) từ đó có thể tác động trực tiếp đến việc “chọn mặt gửi vàng” cho Tòa án có thẩm quyền giải thích pháp luật trong tương lai.
4.4. Nâng cao đạo đức và năng lực giải thích pháp luật của thẩm phán
Hoạt động của Tòa án khi có thẩm quyền giải thích pháp luật được quyết định bởi năng lực, trách nhiệm, phẩm chất và hiệu quả làm việc của đội ngũ thẩm phán. Nâng cao đạo đức, năng lực thẩm phán là một giải pháp mang tính trực tiếp tác động đến việc nâng cao chất lượng giải thích pháp luật. Việc tuyển chọn một đội ngũ thẩm phán giỏi có kinh nghiệm giải thích pháp luật và chuyên sâu trong từng lĩnh vực của luật pháp là rất cần thiết. Theo giáo sư John Gillespie thì “Các thẩm phán của Tòa hiến pháp phải được chọn lựa căn cứ vào kiến thức về luật và các quy trình hiến pháp chứ không dựa trên kinh nghiệm xét xử nói chung”4. Lựa chọn thẩm phán có kiến thức pháp luật, kỹ năng xét xử, phẩm hạnh đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ để gánh vác nhiệm vụ giải thích pháp luật, bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý phải gắn liền với việc kiểm tra, giám sát về trách nhiệm cá nhân của họ, đồng thời phải có những chính sách đãi ngộ thỏa đáng, thích hợp để họ yên tâm công tác, trau dồi nghiệp vụ.
Sự quan ngại của nhân dân về đạo đức thẩm phán trong xét xử và phán quyết bấy lâu nay không phải không có lý do. Cho nên, ngay trong luật về giải thích pháp luật khi được xây dựng, mỗi khi có thể đều phải có chế tài để hạn chế cao nhất sự tùy tiện của thẩm phán.
4.5. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giải thích pháp luật
Tăng cường học tập và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giải thích pháp luật là một công việc quan trọng đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Giải pháp này một mặt góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về giải thích pháp luật trong nước, một mặt giúp nâng cao chất lượng của công tác giải thích điều ước quốc tế khi Việt Nam tham gia, ký kết hoặc thực hiện, giúp Việt Nam chủ động và có trách nhiệm hơn trong việc thực hiện các cam kết quốc tế. Việc học tập kinh nghiệm có thể được thực hiện bằng nhiều cách, ở nhiều mức độ:
Thứ nhất, cần ký kết, gia nhập các hiệp định quốc tế và khu vực về tương trợ pháp lý, tương trợ tư pháp. Với tốc độ phát triển phức tạp và nhanh chóng của các quan hệ xã hội cần điều chỉnh, các lĩnh vực pháp lý mới mẻ như hiện nay, Việt Nam phải tận dụng cơ hội để tiếp cận với các liên kết cộng đồng thế giới, khu vực về pháp luật. Qua đó sẽ giúp Việt Nam học tập được các kinh nghiệm, chia sẻ rủi ro cũng như phải tự phát triển để thích ứng với tình hình, với những gì đã cam kết khi gia nhập các điều ước quốc tế đó.
Thứ hai, phải có kế hoạch cử cán bộ đi nghiên cứu, học tập kinh nghiệm tại các nước có nền giải thích pháp luật, nền tư pháp phát triển. Các cán bộ làm công tác giải thích pháp luật dù là chuyên trách hay kiêm nhiệm cần phải được đào tạo bài bản, có kỹ năng chuyên nghiệp, có phẩm chất pháp lý và đạo đức tốt. Các thẩm phán Anh, Mỹ là những nhà giải thích pháp luật kỳ cựu, họ không những có kỹ năng giải thích pháp luật điêu luyện mà phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp của họ cũng là điều đáng phải học tập. Theo một tài liệu, tại Tòa án Tối cao của Anh, số các thẩm phán vi phạm hầu như không có, còn tại Mỹ, từ năm 1787 đến nay, số lượng thẩm phán bị xử lý vì vi phạm chỉ có khoảng 7, 8 người.
Thứ ba, phải xây dựng một đạo luật về giải thích pháp luật của Việt Nam mang bản sắc dân tộc và tiếp thu tinh hoa về giải thích pháp luật của nhân loại. Việc thuê những chuyên gia pháp luật để tư vấn, thiết kế, truyền bá kinh nghiệm để xây dựng một đạo luật giải thích pháp luật phù hợp là điều nên làm, để đạo luật đó vừa thể hiện được những đặc điểm cần thiết, chuyên nghiệp vừa phù hợp với yêu cầu và đặc điểm chính trị của Việt Nam. Tất nhiên, trong quá trình học hỏi kinh nghiệm, sự chủ động, linh hoạt và sắc sảo của các chuyên gia pháp lý Việt Nam cũng là một yêu cầu quan trọng, điều đó sẽ tránh được sự thái quá và dè dặt là hai thái cực không nên có.
Tóm lại, hoạt động giải thích pháp luật mà Hiến pháp Việt Nam đã quy định cho UBTVQH tại khoản 3 Điều 53 Hiến pháp năm 1959 và sau này là ở các Hiến pháp tiếp theo chính là hoạt động giải thích pháp luật nằm ở quá trình thực hiện pháp luật. Nếu đọc kỹ Hiến pháp thì thấy rằng, hoạt động giải thích pháp luật được nói ở đây thực sự không phải là hoạt động lập pháp, cũng không phải là hoạt động hướng dẫn, quy định chi tiết thi hành đối với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, mà là một hoạt động độc lập, khu biệt hẳn với hoạt động xây dựng pháp luật. Vì vậy, trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 1992, vấn đề giải thích pháp luật cần phải có những thay đổi nhất định, mà một trong đó phải là quy định “trao quyền giải thích pháp luật chính thức cho Tòa án”.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ rất quan trọng hiện nay ở nước ta. Nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện được khi quyền lực nhà nước được phân công một cách rõ ràng, khi vị trí và chức năng của ngành tư pháp, của Tòa án được ở đúng chỗ của nó, đó là “Khi vai trò của những nhà lập pháp và quan tòa được trao cho hai cơ quan khác nhau, sự quản lý tùy tiện sẽ không còn. Khi quyền làm luật được tách ra khỏi quyền hiểu và áp dụng luật, thì chính nền tảng của pháp quyền sẽ được tăng cường...” (Sandra Day O’ Connor - nguyên nữ thẩm phán của Tòa án tối cao Mỹ).
[1] Văn phòng Quốc hội Việt Nam, Văn phòng Dự án hỗ trợ cải cách pháp luật và tư pháp, Giải thích pháp luật, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Hồng Đức, 2009, tr.311.
[2] Tlđd, tr.503.
[3] Tlđd, tr.513 [4] Văn phòng Quốc hội, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế về Bảo hiến, Nxb.Thời đại, Hà Nội, 2009, tr. 401.
|