|
Tiêu chuẩn và cơ cấu Đại biểu Quốc hội - mối quan hệ hữu cơ trong tổ chức, hoạt động của cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất
Tiêu chuẩn Đại biểu Quốc hội là nội dung quan trọng trong Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội đã ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện và quy định cụ thể hơn. Với tính chất là cơ quan đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân trong xã hội, Quốc hội nước ta gồm các Đại biểu Quốc hội là những người do cử tri cả nước bầu ra, là người đại biểu, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Để làm tròn nhiệm vụ của người đại diện của nhân dân trong Quốc hội, Đại biểu Quốc hội trước hết phải là những người có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ để tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội: lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Để có được những đại biểu như vậy thì yêu cầu về mối quan hệ giữa tiêu chuẩn đại biểu và cơ cấu đại biểu phải được quan tâm đúng mức. Tiêu chuẩn và cơ cấu phải được xác định như hai mặt của vấn đề luôn được chú trọng như nhau. Trong nhiều thời kỳ trước đây, do điều kiện và hoàn cảnh đất nước, để phù hợp với giai đoạn cách mạng lúc đó, vấn đề tiêu chuẩn và cơ cấu chưa được giải quyết một cách hợp lý, thường nặng về cơ cấu, xem nhẹ tiêu chuẩn đại biểu, cho nên phần nào hoạt động của Quốc hội còn mang tính hình thức, chất lượng chưa cao. Tuy nhiên, trong những nhiệm kỳ Quốc hội gần đây, để đáp ứng yêu cầu đổi mới, tăng cường chất lượng đại biểu góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về bầu cử, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến yêu cầu bảo đảm tiêu chuẩn đại biểu, xác định tiêu chuẩn là chính và có cơ cấu hợp lý trên cơ sở tiêu chuẩn.
Trên cơ sở kinh nghiệm trong việc lựa chọn, giới thiệu và bầu cử Đại biểu Quốc hội các khóa trước đây, để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1997 đã quy định rõ 5 tiêu chuẩn đối với Đại biểu Quốc hội đó là: trung thành với tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành tốt các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đấu tranh chống mọi biểu hiện tham ô, tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật; có trình độ, năng lực thực hiện nhiệm vụ Đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; có điều kiện tham gia Quốc hội.
Thực hiện các quy định về tiêu chuẩn đại biểu, kết hợp hài hòa với yêu cầu về cơ cấu thành phần đại biểu trong quá trình chuẩn bị bầu cử nên chất lượng đại biểu Quốc hội đã ngày càng được nâng lên, ngày càng đáp ứng tốt vai trò của người đại biểu đại diện cho nhân dân trong Quốc hội.
Trong cơ cấu, tổ chức của Quốc hội, vấn đề Đại biểu Quốc hội chuyên trách cũng được quan tâm. Từ Quốc hội khóa X, XI, XII, số lượng Đại biểu Quốc hội chuyên trách đã tăng lên với tỷ lệ hợp lý, khóa sau nhiều hơn khóa trước (khóa XI, số lượng Đại biểu Quốc hội chuyên trách chiếm tỷ lệ 25% tổng số Đại biểu Quốc hội; khóa XII, số lượng Đại biểu Quốc hội chuyên trách chiếm tỷ lệ 29,41% tổng số Đại biểu Quốc hội). Việc tăng thêm một bước số lượng Đại biểu Quốc hội chuyên trách đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc sắp xếp, bố trí cán bộ, kiện toàn bộ máy của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban và các Đoàn Đại biểu Quốc hội. Các vị Đại biểu Quốc hội đã ngày càng khẳng định rõ vai trò là lực lượng nòng cốt trong các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội. Trong những khóa Quốc hội tới, cần tiếp tục tăng số lượng Đại biểu Quốc hội chuyên trách một cách hợp lý (lên khoảng 35 - 40% tổng số Đại biểu Quốc hội) để làm nòng cốt trong hoạt động của Quốc hội, góp phần tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, đáp ứng yêu cầu mới.
Phát huy dân chủ trong quá trình lựa chọn hiệp thương giới thiệu người ứng cử Đại biểu Quốc hội
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội quy định vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc tổ chức hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, theo một quy trình, cách thức, thủ tục tiến hành cụ thể, bảo đảm dân chủ, công khai, đúng tiến độ thời gian để giới thiệu dược những người đúng tiêu chuẩn xứng đáng làm Đại biểu Quốc hội.
Để việc thực hiện các bước hiệp thương giới thiệu người ứng cử Đại biểu Quốc hội được tiến hành dân chủ, thuận lợi, chu đáo, chất lượng, không vội vàng cập rập, trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội, quỹ thời gian để thực hiện các công tác chuẩn bị bầu cử dần dần được tăng lên. Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1997 quy định thời gian công bố ngày bầu cử chậm nhất là 90 ngày trước ngày bầu cử, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 2001 quy định thời gian công bố ngày bầu cử chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử. Đến luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội vừa được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ Tám, Quốc hội Khóa XII cũng đã đặc biệt quan tâm đến thời gian công bố ngày bầu cử theo hướng có thể công bố ngày bầu cử sớm hơn thời gian tối thiểu là 105 ngày như quy định trong Luật. Trong quy trình lựa chọn, hiệp thương giới thiệu người ứng cử Đại biểu Quốc hội, các quy định về Hội nghị cử tri nơi công tác, nơi cư trú, lấy ý kiến nhận xét của Hội nghị cử tri đối với người ứng cử Đại biểu Quốc hội, quy định việc xem xét, xác minh và trả lời về các vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử Đại biểu Quốc hội, cũng ngày càng được hoàn thiện, cụ thể hơn.
Quy định về tuyên truyền, vận động bầu cử phù hợp với yêu cầu giai đoạn hiện nay
Quy định về tuyên truyền, vận động bầu cử ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu dân chủ và sự phát triển của xã hội trong điều kiện dân trí ngày càng cao. Các Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội trước đây (1960, 1980, 1982) quy định về tuyên truyền, vận động bầu cử chưa được cụ thể, rõ ràng, chỉ có một điều rất chung chung. Đến Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1997 và Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 2001 đã có quy định tương đối cụ thể hơn về tuyên truyền và vận động bầu cử. Theo đó, người ứng cử Đại biểu Quốc hội thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri do Mặt trận Tổ quốc tổ chức hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương để báo cáo với cử tri dự kiến chương trình kế hoạch và việc thực hiện chương trình kế hoạch hoạt động của mình nếu được bầu làm Đại biểu Quốc hội.
Để vận động bầu cử có tính chất như hoạt động tranh cử (mức độ và phạm vi phù hợp với cơ chế, điều kiện của nước ta), pháp luật cần quy định cụ thể hơn về cơ chế, mở rộng hình thức vận động bầu cử, tạo điều kiện cho những người ứng cử có thể tranh cử trong phạm vi và điều kiện theo quy định, bảo đảm cơ chế vận động bầu cử vừa dân chủ, vừa công khai, vừa bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo để cử tri có thể hiểu biết nhiều hơn, nắm được ý tưởng, chương trình hành động của người ứng cử một cách tường tận, đầy đủ hơn làm cơ sở cho việc lựa chọn bầu được những người thực sự xứng đáng làm Đại biểu Quốc hội.
65 năm qua, với sự phát triển chung của đất nước, Quốc hội nước ta ngày càng trưởng thành, hoàn thiện, đổi mới về tổ chức và hoạt động, thực hiện ngày càng có hiệu quả, chất lượng hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Có được kết quả đó, trước hết là do có sự lãnh đạo, có đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước; có sự nghiên cứu hoàn thiện không ngừng đối với hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật về bầu cử, tạo hành lang pháp lý quan trọng để bầu được đại biểu, người đại diện xứng đáng của nhân dân, thay mặt nhân dân trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện có hiệu quả các chức năng quan trọng là lập pháp, giám sát tối cao, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Trong điều kiện mới, với yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn, chất lượng Đại biểu Quốc hội, thiết nghĩ các quy định về cơ chế bầu cử phải được tiếp tục nghiên cứu để có sửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiện hơn, phù hợp hơn.
|