|
Có một vấn đề ít được các nhà khoa học nghiên cứu là sau Tổng tuyển cử, tại phiên họp đầu tiên ngày 2.3.1946 của QH Khóa I, QH đã thông qua bản Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam (Văn kiện QH Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006, trang 53 – 54). Đây là văn kiện chính trị, pháp lý đầu tiên được QH ban hành trong hoàn cảnh đặc biệt, cách mạng đang đứng trước nguy cơ ngàn cân treo sợi tóc phải chống cả thù trong, giặc ngoài. Sau thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử, tình hình chính trị ở nước ta có nhiều diễn biến rất phức tạp. Ở miền Nam, thực dân Pháp mở lại cuộc chiến tranh xâm lược lan rộng đến cả Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và ráo riết chuẩn bị cuộc hành quân mạo hiểm tập kích ra miền Bắc hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng và chiếm lại toàn bộ nước ta. Ở miền Bắc, quân Anh đã rút khỏi nước ta, quân Tưởng vẫn đóng từ vĩ tuyến 16 trở ra. Quân Pháp từ Vân Nam trở lại chiếm một số nơi ở vùng Tây Bắc. Các tổ chức đảng Việt Quốc, Việt Cách lợi dụng hoàn cảnh khó khăn gây sức ép với chính quyền cách mạng. Đã có nhiều cuộc tiếp xúc giữa đại diện Chính phủ Việt Nam và đại diện Chính phủ Pháp nhưng không có được giải pháp pháp lý, dù là tạm thời. Dưới góc độ của công pháp quốc tế, Chính phủ Việt Nam vẫn chỉ là Chính phủ lâm thời được thành lập trên cơ sở cải tổ Ủy ban dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội ở Tân Trào cử ra. Trong quá trình đấu tranh, thương lượng với Việt Quốc, Việt Cách, Chính phủ lâm thời cũng đã tự cải tổ thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, mở rộng thành phần để thu hút thêm một số thành viên của Việt Quốc, Việt Cách. Cách mạng gặp muôn vàn khó khăn. Quan hệ Việt – Pháp đang đứng trước bên bờ vực của chiến tranh. Trước tình hình đó, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cố gắng hoàn tất mọi công việc để tiến hành khai mạc Kỳ họp thứ Nhất, QH Khóa I tại Nhà hát Lớn Hà Nội vào ngày 2.3.1946. Tại phiên họp chỉ kéo dài khoảng bốn giờ này, QH đã làm được nhiều việc quan trọng như: xem xét báo cáo của Chính phủ, đồng ý với thỉnh cầu của Chính phủ, “mở rộng số đại biểu thêm 70 người” là “các đồng chí ở hải ngoại về Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hội”, thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Cố vấn đoàn và Kháng chiến ủy viên hội, thành lập Ban Thường trực QH, bầu Ban dự thảo Hiến pháp đồng thời Quốc hội nghe thư ký đọc và thông qua Tuyên ngôn của Quốc hội. Tuyên ngôn rất ngắn gọn chỉ gồm 300 từ, khái quát nên những vấn đề chủ yếu nhất về đường hướng hoạt động của QH Việt Nam.
Tìm hiểu nội dung Tuyên ngôn của Quốc hội, có thể thấy các nhà lập pháp thế hệ đầu tiên của nước ta đã có tầm nhìn sáng suốt về sứ mệnh vẻ vang của cơ quan đại diện. Mặc dù Tuyên ngôn chỉ được chuẩn bị trong một thời gian rất gấp do sự thúc bách của hoàn cảnh nhưng các nhà lập pháp đã thông qua những nội dung quan trọng nhất mang tính nguyên tắc trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam. Tuyên ngôn của Quốc hội đã đề cập đến những vấn đề trọng đại sau đây:
Tuyên bố về việc lập nước
Đánh đổ ách thống trị của bọn thực dân đế quốc, giành độc lập cho dân tộc, thành lập nên nước Việt Nam độc lập là mục tiêu của cuộc cách mạng dân tộc đã được đề cập trong Chính cương vắn tắt của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo năm 1930. Để tập hợp mọi lực lượng, ngày 25.10.1941 Việt Nam độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) chính thức tuyên bố thành lập. Tuyên ngôn của Việt Minh nêu rõ “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương, đặng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, làm cho nước Việt Nam và cả xứ Đông Dương được hoàn toàn độc lập”. Tiếp đến Nghị quyết của Đảng cộng sản Đông Dương ngày 14, 15.8.1945 tiếp tục nêu rõ “Mục đích cuộc chiến đấu của ta lúc này giành quyền độc lập hoàn toàn”. Thực hiện chủ trương của Đảng về việc chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Quốc dân đại hội tại Tân trào ngày 16, 17.8.1945 cũng đã hiệu triệu nhân dân toàn quốc “giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập”. Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố với thế giới “khi Nhật đầu hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Ủng hộ quan điểm của Chính phủ lâm thời, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản Tuyên ngôn của Quốc hội đã viết “Từ khi chiến tranh phát sinh, thì nhân dân Việt Nam vẫn tiếp tục chiến đấu chống Nhật, bên cạnh Đồng minh. Đến khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa, giật chính quyền, lập nên nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa”. Tuyên bố của QH thể hiện sự nhất quán giữa Quốc hội và Chính phủ trong nhận định về sự kiện lập nước, theo đó dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, (nay là Đảng cộng sản Việt Nam), nhân dân ta đã tự giải phóng cho mình “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Việc lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy có yếu tố quốc tế thuận lợi là chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, nhưng yếu tố thực lực của nhân dân Việt Nam là yếu tố mang tính quyết định. Tuyên ngôn của Quốc hội cũng như Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2.9.1945 đã khẳng định địa vị pháp lý độc lập của nước Việt Nam trong giao bang quốc tế và trong giải quyết các vấn đề đối nội. Điều này là rất quan trọng trong hoàn cảnh lúc đó Việt Nam phải đối phó với nhiều lực lượng có dã tâm tiêu diệt cách mạng non trẻ của ta. Tuyên bố lập nước trong Tuyên ngôn độc lập, Tuyên ngôn của Quốc hội và việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến tại phiên họp đầu tiên của QH cũng là cơ sở để Chính phủ các nước phải thừa nhận tính pháp lý của nước Việt Nam, và phải giải quyết mọi vấn đề xung đột với Việt Nam với tư cách là một quốc gia độc lập.
Sau phiên họp đầu tiên của QH đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng trong hoạt động của Đảng và nhà nước để tìm giải pháp quyết tâm giữ gìn độc lập dân tộc. Ngày 3.3.1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã chọn giải pháp “hòa để tiến”; ngày 4.3.1946, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ liên hiệp kháng chiến cũng đã đã tuyên bố “cương quyết giữ quyền độc lập” và chỉ nhận điều đình với Chính phủ Pháp theo nguyên tắc “Dân tộc tự quyết” của Hiến Chương Đại Tây Dương; sáng ngày 6.3.1946 tại phiên họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo cáo về nội dung hiệp định sơ bộ và được hội nghị chấp thuận. Vào 16 giờ ngày 6.3.1946, trước mặt đại diện của các nước Trung Hoa, Anh, và Mỹ, đại diện Chính phủ Pháp đã phải ký với đại diện Chính phủ Việt Nam hiệp định sơ bộ, tạo điều kiện cho ta có thời gian chuẩn bị mọi mặt để chính chức tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong phạp vi toàn quốc từ ngày 19.12.1946 theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tuyên bố chính thể và chủ quyền
Tuyên bố chính thể cũng là một mục tiêu quan trọng của mọi cuộc cách mạng để kêu gọi, thuyết phục, lôi cuốn sự tham gia của quần chúng nhân dân. Trong lịch sử tư tưởng đấu tranh chính trị ở Việt Nam trước đây cũng có quan điểm tiến hành đấu tranh giành độc lập dân tộc bằng các phương thức khác nhau. Phan Bội Châu muốn dựa vào Nhật để làm cách mạng duy tân, thiết lập chế độ quân chủ. Phan Chu Trinh muốn dựa vào Pháp để “tiến hành cải cách ở Đông Dương, cho cải tổ lại luật pháp, lập các tòa án bổ sung và phân quyền: các quan chức ngạch hành chính lo việc cai trị, quan chức ngạch tư pháp coi xử việc pháp luật. Làm như vậy, những thiệt hại mà dân chúng phải gánh chịu sẽ ngày càng bớt đi”. Mặc dù các nhà chí sỹ yêu nước thời đó đã có những hoạt động tích cực nhất định để tập hợp lực lượng quần chúng nhân dân nhưng do hạn chế của phương pháp luận, không tiếp cận được với tư tưởng thời đại nên không thể đem đến thành công cho cách mạng. Vượt lên trên ý thức tư sản, phong kiến đương thời, năm 1927 khi viết tác phẩm Đường kách mệnh, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu cuộc cách mạng Mỹ năm 1776 và rút ra một kết luận quan trọng là “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người, thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Trong khi chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, tại Hội nghị ngày 14, 15.8.1945, Đảng Cộng sản Đông Dương đưa ra chủ trương thực hiện mười chính sách của Việt Minh, trong đó về chính thể cần: “Lập nên một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, hoàn toàn độc lập”. Về vấn đề này, Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu rõ trong Tuyên ngôn độc lập “ Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”. Để khẳng định con đường chính thể mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, Tuyên ngôn của Quốc hội đã viết rất rõ ràng rằng: “chính thể của nước Việt Nam là chính thể dân chủ cộng hòa, có nhiệm vụ bảo vệ tự do và mưu đồ hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân. Các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều có quyền hạn và nhiệm vụ ngang nhau”. Tuyên ngôn của Quốc hội còn phát triển cụ thể hơn nguyên tắc tổ chức quyền lực, theo đó “chủ quyền của nước Việt Nam độc lập thuộc về toàn thể dân Việt Nam”. Và “ vận mệnh quốc gia Việt Nam là ở trong tay Quốc hội Việt Nam”. Có thể khẳng định qua Tuyên ngôn độc lập và Tuyên ngôn của Quốc hội thì con đường chính thể ở Việt Nam là con đường của dân chủ, cộng hòa, con đường quyền lực thuộc về nhân dân. Quốc hội là cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân Việt Nam, quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước. Sau Cách mạng tháng Tám thành công, mọi ý tưởng về việc thiết lập chế độ có “vua” dù là “vua” hình thức theo kiểu quân chủ lập hiến hay “vua“ chuyên chế theo kiểu toàn trị đều không có cơ sở chính trị ở Việt Nam và cũng không phù hợp với ý chí, nguyên vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam.
|