|
Tuyên bố đoàn kết là cội nguồn sức mạnh của dân tộc
Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản năm 1848, C. Mác – Ph. Ăngghen đã nêu một khẩu hiệu nổi tiếng “vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” và khẩu hiệu này đã được các lãnh tụ cách mạng vô sản vận dụng rất linh hoạt, tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước. Phát triển tư tưởng của C. Mác – Ph. Ăngghen, sau cách mạng tháng Mười ở Nga, nhất là sau khi thành lập Quốc tế Ba, Lênin đã đưa ra lời hiệu triệu “vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.
Lời hiệu triệu của Lênin đã biến các nước thuộc địa - vốn là sân sau nuôi chủ nghĩa đế quốc thành nơi bùng nổ các cuộc đấu tranh quyết liệt làm tan rã chủ nghĩa thực dân. Nguyên lý đoàn kết vô sản của chủ nghĩa Mác – Lênin dễ dàng được tiếp nhận ở Việt Nam vì đoàn kết còn là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam. Nhờ biết đoàn kết mà dân tộc Việt Nam đã có sức mạnh vô địch để chiến thắng nhiều kẻ thù trong lịch sử. Thấu hiểu nguyên lý này, ngay từ năm 1941 khi tuyên truyền cho việc thực hiện thắng lợi mười chính sách của Việt Minh nhằm giành độc lập cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra biện pháp:
“Muốn làm đạt mục đích này,/Chúng ta trước phải ra tay kết đoàn./Sao cho từ Bắc chí Nam,/Việt Minh hội có muôn vàn hội viên”
Và:“Khuyên ai xin nhớ chữ đồng,/ Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.
Ngày 16.8.1945, Quốc dân đại hội ở Tân Trào đã cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong lời Tuyên ngôn của Ủy ban có viết “Ủy ban lâm thời giải phóng có lời hiệu triệu quốc dân chặt chẽ đoàn kết dưới lá cờ giải phóng. Đoàn kết là sống, không đoàn kết là chết”. Cũng trong thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa và vẫn tiếp tục đề cao ý nghĩa của vấn đề đoàn kết dân tộc. Theo Người, “cuộc đấu tranh của chúng ta còn gay go, dằng dai. Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do. Chúng ta vẫn phải ra sức phấn đấu. Chỉ có đoàn kết, phấn đấu, nước ta mới được độc lập…Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ lâm thời của ta lúc này, hãy đoàn kết chung quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển lịch sử dân tộc. Thắng lợi vĩ đại này có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nhưng Tuyên ngôn của Quốc hội đã ghi nhận tinh thần đoàn kết của toàn thể dân tộc Việt Nam là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất theo đó “nền độc lập và dân chủ đã lập nên, nhờ sự đoàn kết hy sinh và chiến đấu của toàn dân”. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhưng trong tuyên bố và hành động phải luôn luôn phản ánh được tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Đây cũng là nguyên nhân làm nên sự tín nhiệm của Quốc hội trước nhân dân trong lịch sử hoạt động của Quốc hội.
Tuyên bố kiên quyết bảo vệ độc lập
Lênin từng nói rằng một cuộc cách mạng chỉ có ý nghĩa khi nó biết cách tự bảo vệ. Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng đã biết cách tự bảo vệ trước sự đe dọa của thù trong, giặc ngoài. Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn lời của Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ năm 1776: tạo hóa đã cho mọi người có những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi trước thời đại, đã phát triển tư tưởng pháp lý từ quyền tự do của con người gắn liền với quyền tự do của dân tộc. “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: mọi dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Hai mươi năm sau, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Liên Hiệp Quốc ghi nhận trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), đánh dấu sự phát triển của pháp luật quốc tế; theo đó “tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”. Quyền tự do của con người, quyền tự do của dân tộc chỉ có thể được bảo đảm khi dân tộc được độc lập. Nếu dân tộc bị “vong quốc nô” thì quyền tự do của con người, quyền tự do của dân tộc cũng chỉ là “cái bánh vẽ”. Đó cũng là lý do tại sao trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một cách mạnh mẽ: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Quốc hội Việt Nam được nhân dân bầu ra trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên dù rất non trẻ, lại có sự mở rộng thêm bảy mươi đại biểu là thành phần rất khác nhau về quan điểm chính trị, giai cấp nhưng ngay từ phiên họp đầu tiên đã cũng đã cùng nhau tuyên bố trước quốc dân rằng:
“Quốc hội Việt Nam kiên quyết bảo vệ đến cùng nền độc lập và lãnh thổ của quốc gia và quyền tự do của nhân dân Việt Nam.
Quốc hội Việt Nam ra lệnh cho toàn thể quốc dân tận lực chống giữ giang sơn và xây dựng lại Tổ quốc để dân tộc Việt Nam tiến nhanh tới vinh quang, cường thịnh”.
Bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng quốc gia cường thịnh để nhân dân có được quyền tự do, sung sướng là mục tiêu được đặt ra trong Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam. Đó cũng là lời tuyên thệ của các vị đại biểu Quốc hội đầu tiên, đặt nền móng tư tưởng cho việc xây dựng phương hướng hoạt động của Quốc hội Việt Nam.
Ý nghĩa chính trị, pháp lý của Tuyên ngôn
65 năm đã qua, ngày nay đọc lại Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam vẫn thấy vang lên lời hiệu triệu của một thiết chế dân chủ đã gắn bó máu thịt với cử tri cả nước ngay từ những ngày đầu tiên. Thực hiện tư tưởng của Tuyên ngôn, Quốc hội Việt Nam đã làm được rất nhiều công việc to lớn như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Quốc hội ta vĩ đại thật” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tập 10, trang 170). 65 năm qua các thế hệ ĐBQH đã giữ vững lời tuyên thệ tận tụy gắn bó phục vụ nhân dân, nhiều vị đã anh dũng hy sinh cả tính mệnh của mình như cụ Nguyễn Văn Tố, được Quốc hội bầu làm Trưởng ban Thường trực của Quốc hội tại phiên họp đầu tiên ngày 2.3.1946, đã bị giặc Pháp bắt và sát hại trong cuộc tấn công lên căn cứ Việt Bắc năm 1947. Nhiều ĐBQH trở thành liệt sỹ trong cuộc kháng chiến như: Lý Chính Thắng (đại biểu Sài Gòn – Chợ lớn), Thái Văn Lung (đại biểu Gia Định), Nguyễn Văn Luyện (đại biểu Hà Nội, Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội), Trần Kim Xuyến (đại biểu Bắc Giang), Lê Thế Hiếu (đại biểu Quảng Trị), Nguyễn Văn Triết (đại biểu Thủ Dầu Một), Huỳnh Bá Nhung (đại biểu Rạch Giá)... Sự hy sinh của các đại biểu này không chỉ là thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của công dân khi đất nước bị kẻ thù xâm lược mà còn là thể hiện lòng trung thành với Tuyên ngôn của Quốc hội với tư cách là ĐBQH. Về phương diện chính trị, pháp lý, Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam là một văn kiện có giá trị to lớn cả về lý luận, thực tiễn có thể xét dưới các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, Tuyên ngôn của Quốc hội là sự hội tụ dòng chảy tư tưởng tiến bộ của Việt Nam, đáp ứng ý chí và nguyên vọng của nhân dân Việt Nam. Thành lập nước Việt Nam độc lập theo chính thể Dân chủ, Cộng hòa, xây dựng quốc gia cường thịnh (và ngày nay đang vững bước lên chủ nghĩa xã hội) là con đường đúng đắn nhất, là sự gặp gỡ giữa ý Đảng và lòng dân. Toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam.
Thứ hai, Quốc hội ra đời là kết quả thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Việc Quốc hội ngay từ phiên họp đầu tiên đã thông qua Tuyên ngôn là cần thiết để xác lập tính pháp quyền của cơ quan đại diện, là bước đi thích hợp trong điều kiện Quốc hội chưa thể ban hành Hiến pháp. Trong lúc chờ đợi việc ban hành Hiến pháp thì Tuyên ngôn của Quốc hội đã trở thành phương hướng hành động của các đại biểu Quốc hội, dù đại biểu đó là người của Việt Minh hay Việt Quốc, Việt Cách.
Thứ ba, thông qua Tuyên ngôn, Quốc hội đã thể hiện được những quan điểm lớn của Đảng cộng sản Đông Dương về mục tiêu của cách mạng, thể hiện sự ủng hộ, tin tưởng của Quốc hội đối với Chính phủ lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người đứng đầu Chính phủ, vừa là lãnh tụ của Đảng và đó cũng là cách thức khôn khéo để các nhà lập pháp góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân một cách linh hoạt, mềm dẻo, hạn chế đến mức thấp nhất sự xung đột quan điểm chính trị giữa các đại biểu trong Quốc hội, góp phần bảo vệ thành quả của cách mạng.
Thứ tư, nội dung của Tuyên ngôn đã chứa đựng những nguyên tắc cơ bản nhất mang tính hiến định về chính thể, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, về quyền cơ bản của công dân, về đoàn kết dân tộc, về con đường tương lai của đất nước Việt Nam. Tuyên ngôn của Quốc hội vì vậy, còn là nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng hiến pháp Việt Nam.
Thứ năm, Tuyên ngôn của Quốc hội không chỉ là là một văn kiện có tính lịch sử mà còn có giá trị trường tồn, là ngọn cờ tư tưởng cho các thế hệ đại biểu Quốc hội nghiên cứu, học tập và vận dụng trong điều kiện mới. Từ năm 1946 đến nay, Quốc hội đã ban hành được bốn bản hiến pháp, chức năng nhiệm vụ của Quốc hội ngày càng được hoàn thiện. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao. Quốc hội vừa tích cực tham gia vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đồng thời Quốc hội cũng là kết quả của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ấy. Vì vậy, ở bất kỳ hoàn cảnh nào khi tham gia thực hiện các chức năng của Quốc hội, người đại biểu cũng cần ý thức được mình luôn luôn là người đại diện cho ý chí của nhân dân, tỏ rõ sự trung thành với những mục tiêu, nguyên tắc của Tuyên ngôn đã được Quốc hội thông qua. Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam đã thật sự là lời thề thiêng liêng của mỗi đại biểu Quốc hội phù hợp với ý nguyện của nhân Việt Nam.
|