|
Tại phiên họp sáng 14/1 Đại hội XI của Đảng, đồng chí Hà Ngọc Chiến, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đoàn đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đã trình bày tham luận “Công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và phát triển đảng viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”. Sau đây là những nội dung chính của bản tham luận này.
Cao Bằng là tỉnh vùng cao, biên giới với diện tích tự nhiên hơn 6700 km2; có 13 huyện, thị trong đó có 09 huyện biên giới), 199 xã, phường, thị trấn (trong đó có 46 xã biên giới) và 2.472 xóm, tổ dân phố (trong đó có 406 xóm đặc biệt khó khăn, sát biên giới). Đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc dài hơn 332 km; dân số trên 52 vạn người với nhiều dân tộc, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 95%, chủ yếu là Tày, Nùng, Mông, Dao... Đảng bộ tỉnh Cao Bằng có 19 Đảng bộ huyện, thị và tương đương trực thuộc Tmh uỷ, gồm 716 tổ chức cơ sở đảng và 2.930 chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở với 37.360 đảng viên, chiếm 7,1% dân số. Hiện nay toàn tỉnh còn 296 xóm chưa có chi bộ.
Điều kiện tự nhiên của Cao Bằng có nhiều khó khăn như diện tích đất canh tác nông nghiệp ít (gần 8%), lại phân tán, không thuận lợi cho sản xuất hàng hoá tập trung; đất có khả năng lâm nghiệp chiếm hơn 60% nhưng độ dốc lớn. Địa hình phức tạp, kết cấu hạ tầng thấp kém; là địa bàn thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai; dân cư phân bố rải rác, các xóm được hình thành nhỏ lẻ, cách xa nhau (có 21 xóm đặc thù dưới 20 hộ); trình độ dân trí thấp, không đồng đều, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới; đời sống sinh hoạt của đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới còn nhiều khó khăn; tình trạng truyền đạo trái pháp luật vẫn xảy ra ở một số địa phương trong tỉnh.
Năm 2006, toàn tỉnh có 27.000 đảng viên, 630 tổ chức cơ sở đảng, 2400 chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở; còn 266 xóm chưa có đảng viên; 974 xóm chưa có chi bộ. Các xóm chưa có đảng viên, chưa có chi bộ chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, xóm sát biên giới. Trình độ, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở một số địa phương trong tỉnh còn hạn chế trong lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh- quốc phòng và giải quyết những vấn đề của địa phương.
Để đổi mới và phát triển toàn diện kinh tế- xã hội, đảm bảo an ninh- quốc phòng của địa phương, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng nhận thức sâu sắc rằng nơi nào chưa có đảng viên, chưa có chi bộ, thiếu vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước còn thấp, nơi đó đời sống của đồng bào các dân tộc sẽ khó khăn, đói nghèo kéo dài, tạo sơ hở cho các phần tử xấu lôi kéo quần chúng theo tà đạo và truyền đạo trái pháp luật, ảnh hưởng đớn đến tình hình an nmh, chính trị, khối đại đoàn kết các dân tộc. Từ thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ chính trị của tỉnh, đầu nhiệm kỳ 2006- 2010, Tỉnh uỷ đã ban hành Kế hoạch tăng thêm xóm có đảng viên, có chi bộ trên phạm vi tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2006- 2010; chỉ đạo xây dựng chương trình trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lẩn thứ XVI với nội dung nâng cao chất lương hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn giai đoạn 2006-2010 (mục tiêu đến năm 2010, 100% xóm có đảng viên và 95% xóm có chi bộ, 80% tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh, các tổ chức chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức đoàn thể ở xã, phường, thị trấn xếp loại khá trở lên). Để thực hiện tốt chương trình, Tỉnh uỷ đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chương trình cấp tỉnh với sự tham gia của Bí thư các huyện, thị uỷ và một số sở, ngành của tỉnh. Ban Chỉ đạo đã cụ thể hoá chương trình bằng kế hoạch phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở; kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cơ sở; kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị đối với trụ sở xã và trung tân giáo dục thường xuyên, trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị; thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nội dung các kế hoạch; giao ban định kỳ để kiểm điểm, đánh giá công việc. . ..
Trong quá trình chỉ đạo công tác phát triển đảng viên, căn cứ vào tình hình thực tiễn của tỉnh, Tỉnh uỷ đã ban hành Chỉ thị về tăng cường công tác xây dựng Đảng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Mông, Dao, Lô Lô, Sán Chỉ. Nội dung chỉ thị nêu rõ yêu cầu, nội dung công tác xây dựng Đảng phải phù hợp với những đặc thù và thực tiễn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít người. Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh uỷ, cấp uỷ các cấp đã thực hiện tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước bằng tiếng dân tộc cho đồng bào dân tộc thiểu số; cấp uỷ cơ sở thực hiện rà soát nắm chính xác số nhân khẩu từ l8 đến 25 tuổi, chưa học văn hoá hoặc trình độ văn hoá thấp ở từng thôn bản vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, sát biên giới để vận động đi học bổ túc văn hoá, nâng cao trình độ nhằm tạo nguồn phát triển đảng viên, tạo nguồn cán bộ kế cận; phân công các đồng chí đảng uỷ viên theo dõi, phụ trách từng chi bộ, thôn bản; tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, giảm hộ nghèo, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, củng cố lòng tin của đồng bào với sự lãnh đạo của Đảng.
Tỉnh uỷ ban hành Đề án về phát triển đảng viên và chi bộ ở các xóm đặc biệt khó khăn, xóm biên giới chưa có đảng viên và chi bộ từ năm 2007 đến năng 2010. Thực hiện đề án, các cấp uỷ đã chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng giác ngộ về đảng cho quần chúng; các tổ chức đoàn thể thường xuyên phát động các phong trào thi đua, qua đó phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu quần chúng ưu tú cho Đảng; xác định nguồn phát triển đảng viên tại các xóm đặc biệt khó khăn, xóm sát biên giới trước hết là trưởng xóm, công an viên, cán bộ phụ nữ, mặt trận, y tế thôn bản, công tác viên dân số, khuyến nông, khuyến lâm...; chỉ đạo lựa chọn, bồi dưỡng kết nạp đảng viên ở vùng đồng bào theo đạo, nhằm xây dựng vai trò chính trị trong vùng dân tộc Mông- Dao, định hướng hoạt động đạo theo đúng tinh thần Thông báo l60; thực hiện tăng cường cán bộ, đảng viên xuống xóm để cùng tham gia sinh hoạt, tuyên truyền, lựa chọn, giúp đỡ quần chúng ưu tú giới thiệu cho đảng; đưa chỉ tiêu phát triển đảng viên, phát triển chi bộ ở các xóm đặc biệt khó khăn, xóm sát biên giới thành nghị quyết của cấp uỷ. Đối với người dân tộc thiểu số ở những xóm bản chưa có đảng viên tuy có hạn chế về trình độ học vấn, đông con (nhưng bản thân quần chúng có cam kết không tiếp tục sinh con), tích cực học tập, có uy tín trong nhân dân thì vẫn được tiếp tục xem xét, giới thiệu kết nạp vào đảng.
Tỉnh uỷ đã chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế phối hợp giữa Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng với Huyện uỷ các huyện biên giới. Thực hiện Quy chế phối hợp, đã có 46 cán bộ biên phòng tăng cường xuống sinh hoạt đảng tạm thời tại 46 xã, thị trấn và xóm biên giới (100%); trong đó có 17 đồng chí được chỉ định giữ các chức danh Bí thư, phó bí thư đảng uỷ, Chủ tịch, phó chủ tịch UBND xã, Bí thư chi bộ xóm. Đội ngũ cán bộ Bộ đội biên phòng được tăng cường đã tích cực tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền các cấp kiện toàn cán bộ cấp xã, cán bộ xóm bản, phát hiện, bồi dưỡng quần chúng, kết nạp đảng viên, củng cố kiện toàn chi bộ; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ trong thực hiện phát triển kinh tế, xã hội và ổn định an ninh, chính trị. Các đồng chí cán bộ Bộ đội biên phòng đã phát huy tốt vai trò nòng cốt trong công tác xây dựng đảng, góp phần ổn định an ninh chính trị, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc ngày càng được cải thiện. Các cấp uỷ cũng đã phối hợp chặt chẽ với các đồn biên phòng để thẩm định về tiêu chuẩn chính trị đối với những quần chúng có quan hệ với nước ngoài trước khi xem xét kết nạp vào đảng.
Cùng với việc thực hiện đồng thời các giải pháp trên, Tỉnh đã chỉ đạo các Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện mở nhiều lớp học văn hoá, lớp bồi dưỡng nhận thức về đảng đến tận xã, cụm xã; kết hợp công tác tạo nguồn cán bộ cho cơ sở bằng việc tuyển chọn những thanh niên dân tộc thiểu số đang tham gia nghĩa vụ quân sự để đào tao, bồi dưỡng về trình độ văn hoá, lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ; sau khi hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương tham gia công tác, giữ các cương vị chủ chốt ở cơ sở, xóm, bản. Nhiều cấp uỷ cơ sở đã có những cách làm chủ động, sáng tạo, vừa đảm bảo thực hiện đúng các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện và thủ tục về công tác phát triển đảng viên, vừa phù hợp với thực tiễn ở địa phương, đơn vị.
Sau 04 năm chỉ đạo thực hiện các nội dung trên, đến hết năng 2009, 100% các xóm, tổ dân phố trong toàn tỉnh đã có đảng viên, hoàn thành mục tiêu tăng xóm có đảng viên mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đề ra trước một năm; Kết thúc nhiệm kỳ 2005- 2010, toàn tỉnh thực hiện tăng thêm 678 xóm có chi bộ, trong đó có 54% là xóm đặc biệt khó khăn, 18% là xóm biên giới, 29% là xóm có trên 50% số dân 1à đồng bào dân tộc thiểu số ít người. Toàn đảng bộ tỉnh kết nạp được 10.300 đảng viên, trong đó đặc biệt có khoảng 1.200 đảng viên là người dân tộc thiểu số ít người: Mông, Dao, Lô Lô, Sán Chỉ, chiếm 12% so với tổng số đảng viên mới được kết nạp. Những kết quả đó đã góp phần vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, giữ vững vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở; vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện các nhiệm vụ của địa phương ngày càng được thể hiện rõ hơn, góp phần tích cực đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở địa phương, chủ quyền biên giới được giữ vững.
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đảng bộ tỉnh Cao Bằng nhận thấy bên cạnh bài học kinh nghiệm về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền, hướng dẫn cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, cần đặc biệt coi trọng bài học nắm sát thực tiễn cơ sở, đề ra những giải pháp phù hợp với tình hình cụ thể, đặc thù của địa phương và kiên quyết chỉ đạo thực hiện theo,chủ trương thống nhất của cấp uỷ, có như vậy việc chỉ đạo giải quyết những vấn đề khó khăn ở những vừng đặc biệt khó khăn mới đạt được kết quả tốt.
Trong nhiệm kỳ 2010- 2015, để thực hiện mục tiêu tổng quát "phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết, dân chủ, đổi mới nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu lực quản lý và điều hành của chính quyền; huy động mọi nguồn lực sớm đưa Cao Bằng ra khỏi tình trạng kém phát triển'', Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đã đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ. Để thực hiện được mục tiêu đến năm 2015 có 75% trở lên số cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh hàng năm; duy trì số xóm có đảng viên; toàn tỉnh có 100% số xóm có chi bộ; kết nạp 1.800 đảng viên trở lên hằng năm, trong thời gian tới Tỉnh uỷ Cao Bằng tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như:
Chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch tạo nguồn, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng quần chúng ưu tú trong các đoàn thể chính trị xã hội, tích cực bồi dưỡng, giáo dục để quần chúng có có nhận thức sâu sắc về Đảng, có động cơ đúng đắn và tự nguyện phấn đấu vào Đảng.
Tập trung xây dựng, củng cố phát triển tổ chức đảng ở những nơi chưa có tổ chức đảng ở những nơi có ít đảng viên; xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đoàn thể quần chúng, nhất là tổ chức Đoàn thanh niên ở các xóm, bản vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số ít người; quan tâm việc tạo nguồn phát triển đảng viên, trong đó chú trọng nguồn tại chỗ là bộ đội hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương, học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường Trung học phổ thông, trường dân tộc nội trú và các trường chuyên nghiệp. Tiếp tục đánh giá, rút kinh nghiệm công tác phát triển Đảng vùng đồng bào theo đạo Tin Lành.
Tiếp tục thực hiện tốt Quy chế phối hợp giữa Đảng uỷ BCH Bộ đội Biên phòng với các Huyện biên giới của tỉnh, tăng cường cán bộ biên phòng về sinh hoạt đảng tạm thời ở các xã, xóm biên giới.
Để thực hiện tốt những nhiệm vụ trên, cùng với sự quyết tâm, nỗ lực của Đảng bộ tỉnh, Cao Bằng xin đề nghị Trung ương quan tâng giúp đỡ:
Bổ sung, tăng thêm biên chế cho tỉnh để tỉnh có điều kiện tăng cường cán bộ xuống các xã vùng sâu, vùng xa, các xã có nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số ít người, các xã biên giới, giúp cơ sở củng cớ xây dựng tổ chức cơ sở đảng và thực hiện phát triển kinh tế-xã hội.
Bổ sung, hướng dẫn việc thực hiện về tiêu chuẩn kết nạp đảng viên vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ít người, vùng biên giới về các nội dung: trình độ học vấn, thực hiện kế hoạch hoá gia đình, quan hệ với người nước ngoài. . . .
Trên đây là báo cáo tham luận về công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Cao Bằng.
|